- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,670
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Bàn cờ Đông Dương (2.9.1945 - 19.12.1946): Âm mưu của các cường quốc và 3 đối sách của Việt Minh
Sự kiện ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Tuy nhiên, ngay sau khoảnh khắc độc lập thiêng liêng ấy, chính quyền cách mạng non trẻ đã lập tức rơi vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Đông Dương trở thành một bàn cờ địa chính trị phức tạp, nơi các cường quốc đồng minh đan cài những toan tính ích kỷ, đẩy vận mệnh của một quốc gia vừa giành độc lập vào những thử thách cam go nhất.
Bối cảnh khi đó :
- Chính quyền cách mạng vừa giành quyền kiểm soát tại nhiều địa phương,
- Quân Nhật vẫn hiện diện,
- Quân Trung Hoa Dân quốc chuẩn bị tiến vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật,
- Quân Anh đã đổ bộ vào miền Nam,
- Trong khi người Pháp tìm cách khôi phục vị thế tại Đông Dương.
1. Sự xoay trục chiến lược của Washington và số phận Đông Dương
Dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Mỹ theo đuổi chính sách "phi thực dân hóa" và kịch liệt phản đối việc Pháp quay trở lại Đông Dương. Sự hiện diện của phái bộ OSS do Thiếu tá Archimedes Patti dẫn đầu tại Hà Nội vào tháng 8.1945 được xem là đỉnh cao của sự kết nối giữa Việt Minh và Washington.
Tuy nhiên, cục diện đã xoay chuyển hoàn toàn sau cái chết đột ngột của Roosevelt ngày 12.4.1945. Tân Tổng thống Harry S. Truman đối mặt với áp lực giữ vững liên minh với Anh và Pháp để ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại châu Âu. Trước sức ép từ London và Paris - hai thủ đô sở hữu khối thuộc địa khổng lồ - Truman đã chọn giải pháp thỏa hiệp.
Mỹ ngầm "bật đèn xanh" cho Pháp tái chiếm Đông Dương, nhưng đồng thời vẫn giữ nguyên quyết định của Hội nghị Potsdam: giao cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc (quân Tưởng) vào miền Bắc giải giáp quân Nhật.
2. Toan tính "Mượn đường diệt hổ" của Tưởng Giới Thạch
Trong giai đoạn trước đó, tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Quân khu 4 Lưỡng Quảng, là người được Tưởng Giới Thạch giao trọng trách kết nối các đảng phái quốc gia Việt Nam hải ngoại ( Việt Nam Quốc dân Đảng - Việt Quốc, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội - Việt Cách) để thành lập một mặt trận thống nhất.
Mục đích ban đầu của Trương Phát Khuê là tạo dựng một chính quyền thân Trung Hoa tại Việt Nam nhằm trục xuất ảnh hưởng của Pháp. Tuy nhiên, Tưởng Giới Thạch lại gạt bỏ Trương Phát Khuê sang một bên và cử Lư Hán làm Tổng tư lệnh, Tiêu Văn làm Phó tư lệnh.
Đây là một nước đi đầy mưu mẹo mang tính chất "nhất tiễn hạ song điêu":
- Đối với nội bộ Trung Hoa: Lư Hán là thế lực quân phiệt vùng Vân Nam, vốn có tư tưởng cát cứ và không phục tùng triệt để chính phủ Trung ương. Việc điều 20 vạn quân của Lư Hán sang Việt Nam thực chất là kế "điều hổ ly sơn". Ngay khi quân Vân Nam rời đi, Tưởng Giới Thạch ở chính quốc đã lập tức thanh trừng Long Vân (anh họ Lư Hán), tước đi gốc rễ quyền lực của phe quân phiệt này tại quê nhà.
- Đối với bàn cờ Việt Nam: Tiêu Văn - một kẻ am hiểu sâu sắc chính trị và có mối quan hệ với các đảng phái Việt Nam - được cử đi để làm bộ não chính trị cho Lư Hán. Mục tiêu của Tưởng lúc này không phải là chiếm đóng lâu dài hay giúp các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách xây dựng vương quyền, mà là dùng 20 vạn quân làm áp lực tối đa để tống tiền, o ép chính phủ Việt Minh, đồng thời tạo lợi thế trên bàn đàm phán ngoại giao với Pháp nhằm đổi lấy các đặc quyền kinh tế và tô giới tại Trung Quốc.
3. Bản chất của sự hòa hoãn và bi kịch của các lực lượng đối lập
Có quan điểm cho rằng, việc Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu nhượng bộ quân Tưởng (như bố trí Tiêu Văn vào dinh Phủ Toàn quyền, nhường 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử cho Việt Quốc, Việt Cách) là do đánh giá sai ý đồ của Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, phân tích sâu bối cảnh cho thấy đây là một đối sách hòa hoãn chủ động đầy thực dụng.
Trước đó, tại Hội nghị “Chia phần” của phe thắng phát xít ngày 24.7.1945, Tưởng Giới Thạch đã được Đồng minh cho phép đưa quân vào miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 để giải giáp quân Nhật, phía Nam là quân Anh. Dàn xếp xong trong nội bộ, ngày 9.8 Tưởng Giới Thạch tuyên bố cử tướng Lư Hán làm Tư lệnh 20 vạn quân Tưởng nhập Việt. Nhận lệnh, Lư Hán triệu ngay đại diện quân Nhật tới Côn Minh yêu cầu: Thả ngay tù binh Đồng minh; Chỉ giao chính quyền ở miền Bắc cho quân Tưởng; Quân Nhật phải giữ trật tự chờ đến khi quân Tưởng đến.
Cùng ngày 27.8, hai cánh quân của Lư Hán và Tiêu Văn vào Việt Nam kéo theo đầu não hai đảng Việt quốc, Việt cách của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần với chủ mưu “diệt cộng, cầm Hồ”, lập Chính phủ thân Tưởng Giới Thạch.
Trong bối cảnh lực lượng vũ trang cách mạng còn quá non yếu, nền kinh tế kiệt quệ sau nạn đói, việc đối đầu trực diện với 20 vạn quân Tưởng là điều bất khả thi, việc nhượng bộ Tiêu Văn và chia sẻ quyền lực với các đảng phái đối lập là cái giá phải trả để kéo dài thời gian, giữ vững tính hợp pháp của chính quyền trung ương.
Hệ quả tất yếu của sự "hợp mưu" giữa hai bên sau đó đã rơi vào đầu các đảng phái thân Tưởng. Khi Tưởng Giới Thạch đạt được mục đích kinh tế và ký kết Hiệp ước Hoa - Pháp ngày 28.2.1946, chấp nhận rút quân để Pháp ra miền Bắc thay thế, các lực lượng như Việt Quốc, Việt Cách lập tức rơi vào thế "mất chỗ dựa".
Sự rời đi của quân Tưởng đã mở đường cho Việt Minh thực hiện các chiến dịch trấn áp mạnh mẽ, điển hình là vụ án phố Ôn Như Hầu* vào tháng 7.1946 nhằm quét sạch các thế lực phản kháng nội bộ, thống nhất quyền lực trước khi cuộc chiến toàn diện với Pháp bùng nổ.
Vụ án phố Ôn Như Hầu diễn ra vào sáng ngày 12.7.1946 tại Hà Nội, khi lực lượng an ninh bất ngờ đột kích và triệt phá âm mưu đảo chính lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam Quốc dân Đảng cấu kết với thực dân Pháp.
*Vụ án phố Ôn Như Hầu diễn ra từ ngày 11 - 13.7.1946:
Khi đó tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng đang nuôi dã tâm phá hoại và lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tổ chức này định lợi dụng dịp quân Pháp diễu binh mừng Quốc khánh Pháp ngày 14.7.1946 để ném lựu đạn tạo hỗn loạn, tạo cớ cho Pháp tấn công Bắc Bộ phủ, bắt giữ các thành viên Chính phủ và dựng lên chính quyền tay sai.
Trong lực lượng Công an nhân dân lúc bấy giờ, lực lượng trực tiếp phát hiện, theo dõi và triệt phá vụ án bao gồm Trinh sát chính trị thuộc Sở Công an Bắc Bộ và Nha Công an Trung ương. Đội trinh sát này mới được thành lập từ tháng 2.1946, quy tụ 16 chiến sĩ tinh nhuệ, giỏi võ thuật, bắn súng và thông thuộc địa bàn Hà Nội. Trần Tấn Nghĩa (tên thật là Nguyễn Bá Hùng), lúc đó là Đội trưởng Đội trinh sát đặc biệt, ông là người trực tiếp nhận mệnh lệnh sự vụ, dẫn đầu mũi trinh sát đột kích vào nhà số 7 phố Ôn Như Hầu và mưu trí đối đầu, bắt sống tên đầu sỏ Phan Kích Nam.
Lực lượng công an đã xây dựng được 2 cơ sở bí mật cài cắm sâu vào trụ sở in ấn của địch tại số 132 phố Đuyvinhô (Bùi Thị Xuân). Chính nguồn tin từ các cơ sở trinh sát này đã báo về việc địch vừa in xong truyền đơn phản động vào đêm 11.7, giúp Ban chuyên án có đủ chứng cứ gốc để xin lệnh hành động ngay trong đêm.
Được sự cho phép của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, lực lượng an ninh khám xét 41 địa điểm, bắt hơn 300 người.
Sáng ngày 12.7.1946, khi mũi trinh sát do đội trưởng Trần Tấn Nghĩa chỉ huy ập vào số 7 Ôn Như Hầu, lực lượng Quốc dân Đảng tại đây tỏ ra ngoan cố. Phan Kích Nam lúc này đang giữ ghế Đại biểu Quốc hội (do phe phái thỏa hiệp trước đó), lạm dụng quyền bất khả xâm phạm để chống trả pháp lý, đồng thời ngầm ra hiệu cho đồng bọn sẵn sàng nổ súng đánh tháo.
Khi trinh sát bước vào, Phan Kích Nam lập tức đập bàn, quát tháo, viện cớ mình là "Đại biểu Quốc hội" và có quyền bất khả xâm phạm để đe dọa, đòi lực lượng công an phải rút lui, đội trưởng Trần Tấn Nghĩa dõng dạc tuyên bố: "Chúng tôi hành động theo lệnh của Chính phủ để bảo vệ an ninh quốc gia. Ai vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý."
Biết Phan Kích Nam là kẻ cáo già, đội trưởng Nghĩa không tranh cãi sa đà vào lý thuyết pháp lý mà lập tức đưa ra các bằng chứng đanh thép, chứng minh nơi đây đang chứa chấp tội phạm bắt cóc, tống tiền và tài liệu phản quốc.
Nhận thấy Phan Kích Nam có dấu hiệu kéo dài thời gian để chờ chi viện, đội trưởng Trần Tấn Nghĩa ra tín hiệu cho các trinh sát đặc biệt lập tức khống chế, tước vũ khí của đối tượng Nam và các hộ vệ xung quanh một cách chớp nhoáng, không để chúng kịp nổ súng phản kháng.
Việc bắt sống Phan Kích Nam ngay tại sào huyệt mà không tốn một viên đạn đã làm sụp đổ hoàn toàn tinh thần phản kháng của các đối tượng còn lại trong nhà. Ngay sau đó, các trinh sát tiến hành khám xét và phát hiện ra các hầm ngầm, phòng tra tấn, hố chôn người sống và xưởng in tiền giả, vạch trần bộ mặt thật của chúng trước nhân dân và tước đi mọi cái cớ can thiệp của thực dân Pháp.
Triển lãm tội ác tại số 7 phố Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều) sau đó đã thu hút đông đảo Nhân dân, vô hiệu hóa sự can thiệp của Pháp.
4. Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946: Quyết định sinh tử
Ở miền Nam, quân Anh đã dọn đường cho quân Pháp quay lại nổ súng xâm lược. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch (kèm theo các tổ chức phản động như Việt Quốc, Việt Cách) tràn vào.
Khi Pháp và Trung Hoa đã "đi đêm" và hoàn tất cuộc mua bán Đông Dương, chính phủ Việt Nam đứng trước hai lựa chọn:
- Hoặc phát động kháng chiến ngay lập tức chống lại quân Pháp đang tiến ra Bắc, hoặc chấp nhận một thỏa hiệp ngoại giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động chọn giải pháp hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng, khi quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6.3.1946 với Jean Sainteny (đại diện Pháp), chấp nhận cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc giải giáp quân Nhật thay quân Tưởng.
Sự kiện này được nhiều nhà sử học đánh giá là một quyết sách ngoại giao thể hiện tư duy chiến lược sắc bén mưu trí, cân não của Hồ Chí Minh, khi mượn tay Pháp đuổi Tưởng trong tình thế nước nhà "ngàn cân treo sợi tóc".
Như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích với các đồng sự: Người Tàu ở lại sẽ là vĩnh viễn vì họ có dã tâm đồng hóa, còn người Pháp thực chất đã suy yếu sau Thế chiến II, họ không thể bám trụ lại Đông Dương lâu dài trước xu thế phi thực dân hóa toàn cầu.
5. Ba sách lược của Việt Minh ( Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu)
Giai đoạn lịch sử từ sau ngày 2.9.1945 đến trước Toàn quốc kháng chiến 19.12.1946 là một trong những chương phức tạp và cân não nhất của nền ngoại giao Việt Nam.
Trò chơi địa chính trị của các ông lớn (Mỹ, Anh, Pháp, Trung Hoa Dân Quốc) khi này đã biến Đông Dương thành một sàn giao dịch quyền lực.
Đặt trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới sinh, chưa được bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận, nền ngoại giao non trẻ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thực hiện những cuộc đấu trí ngoạn mục, để bảo vệ vận mệnh dân tộc độc lập trên thế "ngàn cân treo sợi tóc".
- Sách lược "Tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng để đánh Pháp ở miền Nam" từ 9.1945 - 3.1946. Khi hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch tràn vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật nhưng mang theo dã tâm "Diệt Cộng, cầm Hồ", trong khi quân Pháp đã nổ súng ở Nam Bộ, Trung ương Đảng đã vạch rõ: Không thể cùng lúc đối đầu với quá nhiều kẻ thù.
Đối với quân Tưởng, Trung ương Đảng chủ trương "hoa hòa nhã nhặn", chấp nhận một số yêu sách kinh tế (tiêu tiền quan kim, quốc tệ mất giá, cung cấp lương thực) và chính trị (nhường 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử cho phe Việt Quốc, Việt Cách). Thể hiện sự nhân nhượng có nguyên tắc. Sách lược này giúp giữ vững chính quyền trung ương, làm thất bại âm mưu lật đổ của Tưởng và tay sai, đồng thời tập trung nguồn lực cho đồng bào miền Nam kháng chiến chống Pháp quay trở lại.
- Sách lược "Hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng" từ 3.1946 - 9.1946. Khi cục diện thay đổi bằng Hiệp ước Hoa - Pháp ngày 28.2.1946; Tưởng bắt tay nhượng quyền ra Bắc cho Pháp để đổi lấy lợi ích ở Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam đối mặt với bài toán sinh tử mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp hòa hoãn với Pháp qua việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6.3.1946.
Chấp nhận cho 15.000 quân Pháp ra Bắc thay thế quân Tưởng để đổi lấy việc quân Tưởng phải lập tức rút về nước. Sách lược này đã giúp Chính phủ tránh được cuộc đụng đầu quân sự trực diện cùng lúc với cả Pháp và Tưởng; gạt được kẻ thù thâm hiểm (Tưởng) ra khỏi bờ cõi mà không tốn một viên đạn; buộc Pháp phải công nhận Việt Nam là một "Quốc gia tự do".
- Đấu trí trên bàn hội nghị và Tạm ước 14.9.1946. Sau Hiệp định Sơ bộ, Pháp bộc lộ rõ bản chất lật lọng khi âm mưu tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam và phá hoại các cuộc đàm phán tại Hội nghị trù bị Đà Lạt rồi đến Hội nghị Fontainebleau ở Pháp.
Trước nguy cơ đàm phán tan vỡ và chiến tranh bùng nổ quá sớm khi ta chưa kịp chuẩn bị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14.9.1946. Bản Tạm ước này tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa, nhưng quan trọng nhất là giúp Việt Nam kéo dài thêm 3 tháng hòa bình quý giá. Ba tháng này là khoảng thời gian "vàng" để Việt Nam chuyển trạng thái sang chuẩn bị toàn diện về lực lượng quân sự, vũ khí, lương thực và di chuyển các cơ quan đầu não lên chiến khu (An toàn khu - ATK), sẵn sàng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Bài học "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được hiện thực hóa trong giai đoạn này. Cái nhất quán, bất biến là Độc lập dân tộc và Thống nhất đất nước; còn cái vạn biến là sự uyển chuyển, linh hoạt trong sách lược lợi dụng mâu thuẫn hàng ngũ kẻ thù, biết tiến, biết lui đúng lúc.
Chính nghệ thuật ngoại giao cân não này đã cứu vớt chính quyền cách mạng thoát khỏi thế hiểm nghèo, tạo đà vững chắc cho ngày Toàn quốc kháng chiến 19.12.1946.
Nguồn khảo cứu gồm hồi ký, tài liệu lưu trữ và các công trình nghiên cứu lịch sử về Việt Nam giai đoạn 1945 - 1946:
1. Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam? Prelude to America’s Albatross, University of California Press, 1982.
2. David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power, University of California Press, 1995.
3. David G. Marr, Vietnam: State, War, Revolution (1945–1946), University of California Press, 2013.
4. William J. Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, Westview Press, 1981.
5. Cecil B. Currey, Victory at Any Cost: The Genius of Viet Nam’s Gen. Vo Nguyen Giap, Brassey’s, 1997.
6. Ellen J. Hammer, The Struggle for Indochina, 1940 - 1955, Stanford University Press, 1954.
7. Stein Tønnesson, The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War, SAGE Publications, 1991.
8. Patti, Archimedes L. A., các tài liệu và báo cáo OSS về Đông Dương năm 1945 - 1946, lưu trữ tại U.S. National Archives and Records Administration (NARA).
- Office of Strategic Services (OSS) Records, tài liệu về Đông Dương và Việt Minh năm 1945, U.S. National Archives.
9. Potsdam Conference Proceedings and Documents, tháng 7 - 8/1945, liên quan đến việc phân chia khu vực giải giáp quân Nhật tại Đông Dương.
10. Foreign Relations of the United States (FRUS), một số tài liệu liên quan đến Trung Quốc, Đông Dương và Đông Nam Á giai đoạn 1945 - 1946, U.S. Department of State.
11. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, các tập liên quan đến giai đoạn 1945 - 1946.
12. Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, bản hồi ký về những biến động chính trị năm 1945–1946.
Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil, 1952.
13. Philippe Devillers, Paris-Saigon-Hanoi: The 1945 - 1946 War, University of California Press, bản dịch và các nghiên cứu liên quan.
Sự kiện ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Tuy nhiên, ngay sau khoảnh khắc độc lập thiêng liêng ấy, chính quyền cách mạng non trẻ đã lập tức rơi vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Đông Dương trở thành một bàn cờ địa chính trị phức tạp, nơi các cường quốc đồng minh đan cài những toan tính ích kỷ, đẩy vận mệnh của một quốc gia vừa giành độc lập vào những thử thách cam go nhất.
Bối cảnh khi đó :
- Chính quyền cách mạng vừa giành quyền kiểm soát tại nhiều địa phương,
- Quân Nhật vẫn hiện diện,
- Quân Trung Hoa Dân quốc chuẩn bị tiến vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật,
- Quân Anh đã đổ bộ vào miền Nam,
- Trong khi người Pháp tìm cách khôi phục vị thế tại Đông Dương.
1. Sự xoay trục chiến lược của Washington và số phận Đông Dương
Dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Mỹ theo đuổi chính sách "phi thực dân hóa" và kịch liệt phản đối việc Pháp quay trở lại Đông Dương. Sự hiện diện của phái bộ OSS do Thiếu tá Archimedes Patti dẫn đầu tại Hà Nội vào tháng 8.1945 được xem là đỉnh cao của sự kết nối giữa Việt Minh và Washington.
Tuy nhiên, cục diện đã xoay chuyển hoàn toàn sau cái chết đột ngột của Roosevelt ngày 12.4.1945. Tân Tổng thống Harry S. Truman đối mặt với áp lực giữ vững liên minh với Anh và Pháp để ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại châu Âu. Trước sức ép từ London và Paris - hai thủ đô sở hữu khối thuộc địa khổng lồ - Truman đã chọn giải pháp thỏa hiệp.
Mỹ ngầm "bật đèn xanh" cho Pháp tái chiếm Đông Dương, nhưng đồng thời vẫn giữ nguyên quyết định của Hội nghị Potsdam: giao cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc (quân Tưởng) vào miền Bắc giải giáp quân Nhật.
2. Toan tính "Mượn đường diệt hổ" của Tưởng Giới Thạch
Trong giai đoạn trước đó, tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Quân khu 4 Lưỡng Quảng, là người được Tưởng Giới Thạch giao trọng trách kết nối các đảng phái quốc gia Việt Nam hải ngoại ( Việt Nam Quốc dân Đảng - Việt Quốc, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội - Việt Cách) để thành lập một mặt trận thống nhất.
Mục đích ban đầu của Trương Phát Khuê là tạo dựng một chính quyền thân Trung Hoa tại Việt Nam nhằm trục xuất ảnh hưởng của Pháp. Tuy nhiên, Tưởng Giới Thạch lại gạt bỏ Trương Phát Khuê sang một bên và cử Lư Hán làm Tổng tư lệnh, Tiêu Văn làm Phó tư lệnh.
Đây là một nước đi đầy mưu mẹo mang tính chất "nhất tiễn hạ song điêu":
- Đối với nội bộ Trung Hoa: Lư Hán là thế lực quân phiệt vùng Vân Nam, vốn có tư tưởng cát cứ và không phục tùng triệt để chính phủ Trung ương. Việc điều 20 vạn quân của Lư Hán sang Việt Nam thực chất là kế "điều hổ ly sơn". Ngay khi quân Vân Nam rời đi, Tưởng Giới Thạch ở chính quốc đã lập tức thanh trừng Long Vân (anh họ Lư Hán), tước đi gốc rễ quyền lực của phe quân phiệt này tại quê nhà.
- Đối với bàn cờ Việt Nam: Tiêu Văn - một kẻ am hiểu sâu sắc chính trị và có mối quan hệ với các đảng phái Việt Nam - được cử đi để làm bộ não chính trị cho Lư Hán. Mục tiêu của Tưởng lúc này không phải là chiếm đóng lâu dài hay giúp các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách xây dựng vương quyền, mà là dùng 20 vạn quân làm áp lực tối đa để tống tiền, o ép chính phủ Việt Minh, đồng thời tạo lợi thế trên bàn đàm phán ngoại giao với Pháp nhằm đổi lấy các đặc quyền kinh tế và tô giới tại Trung Quốc.
3. Bản chất của sự hòa hoãn và bi kịch của các lực lượng đối lập
Có quan điểm cho rằng, việc Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu nhượng bộ quân Tưởng (như bố trí Tiêu Văn vào dinh Phủ Toàn quyền, nhường 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử cho Việt Quốc, Việt Cách) là do đánh giá sai ý đồ của Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, phân tích sâu bối cảnh cho thấy đây là một đối sách hòa hoãn chủ động đầy thực dụng.
Trước đó, tại Hội nghị “Chia phần” của phe thắng phát xít ngày 24.7.1945, Tưởng Giới Thạch đã được Đồng minh cho phép đưa quân vào miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 để giải giáp quân Nhật, phía Nam là quân Anh. Dàn xếp xong trong nội bộ, ngày 9.8 Tưởng Giới Thạch tuyên bố cử tướng Lư Hán làm Tư lệnh 20 vạn quân Tưởng nhập Việt. Nhận lệnh, Lư Hán triệu ngay đại diện quân Nhật tới Côn Minh yêu cầu: Thả ngay tù binh Đồng minh; Chỉ giao chính quyền ở miền Bắc cho quân Tưởng; Quân Nhật phải giữ trật tự chờ đến khi quân Tưởng đến.
Cùng ngày 27.8, hai cánh quân của Lư Hán và Tiêu Văn vào Việt Nam kéo theo đầu não hai đảng Việt quốc, Việt cách của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần với chủ mưu “diệt cộng, cầm Hồ”, lập Chính phủ thân Tưởng Giới Thạch.
Trong bối cảnh lực lượng vũ trang cách mạng còn quá non yếu, nền kinh tế kiệt quệ sau nạn đói, việc đối đầu trực diện với 20 vạn quân Tưởng là điều bất khả thi, việc nhượng bộ Tiêu Văn và chia sẻ quyền lực với các đảng phái đối lập là cái giá phải trả để kéo dài thời gian, giữ vững tính hợp pháp của chính quyền trung ương.
Hệ quả tất yếu của sự "hợp mưu" giữa hai bên sau đó đã rơi vào đầu các đảng phái thân Tưởng. Khi Tưởng Giới Thạch đạt được mục đích kinh tế và ký kết Hiệp ước Hoa - Pháp ngày 28.2.1946, chấp nhận rút quân để Pháp ra miền Bắc thay thế, các lực lượng như Việt Quốc, Việt Cách lập tức rơi vào thế "mất chỗ dựa".
Sự rời đi của quân Tưởng đã mở đường cho Việt Minh thực hiện các chiến dịch trấn áp mạnh mẽ, điển hình là vụ án phố Ôn Như Hầu* vào tháng 7.1946 nhằm quét sạch các thế lực phản kháng nội bộ, thống nhất quyền lực trước khi cuộc chiến toàn diện với Pháp bùng nổ.
Vụ án phố Ôn Như Hầu diễn ra vào sáng ngày 12.7.1946 tại Hà Nội, khi lực lượng an ninh bất ngờ đột kích và triệt phá âm mưu đảo chính lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam Quốc dân Đảng cấu kết với thực dân Pháp.
*Vụ án phố Ôn Như Hầu diễn ra từ ngày 11 - 13.7.1946:
Khi đó tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng đang nuôi dã tâm phá hoại và lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tổ chức này định lợi dụng dịp quân Pháp diễu binh mừng Quốc khánh Pháp ngày 14.7.1946 để ném lựu đạn tạo hỗn loạn, tạo cớ cho Pháp tấn công Bắc Bộ phủ, bắt giữ các thành viên Chính phủ và dựng lên chính quyền tay sai.
Trong lực lượng Công an nhân dân lúc bấy giờ, lực lượng trực tiếp phát hiện, theo dõi và triệt phá vụ án bao gồm Trinh sát chính trị thuộc Sở Công an Bắc Bộ và Nha Công an Trung ương. Đội trinh sát này mới được thành lập từ tháng 2.1946, quy tụ 16 chiến sĩ tinh nhuệ, giỏi võ thuật, bắn súng và thông thuộc địa bàn Hà Nội. Trần Tấn Nghĩa (tên thật là Nguyễn Bá Hùng), lúc đó là Đội trưởng Đội trinh sát đặc biệt, ông là người trực tiếp nhận mệnh lệnh sự vụ, dẫn đầu mũi trinh sát đột kích vào nhà số 7 phố Ôn Như Hầu và mưu trí đối đầu, bắt sống tên đầu sỏ Phan Kích Nam.
Lực lượng công an đã xây dựng được 2 cơ sở bí mật cài cắm sâu vào trụ sở in ấn của địch tại số 132 phố Đuyvinhô (Bùi Thị Xuân). Chính nguồn tin từ các cơ sở trinh sát này đã báo về việc địch vừa in xong truyền đơn phản động vào đêm 11.7, giúp Ban chuyên án có đủ chứng cứ gốc để xin lệnh hành động ngay trong đêm.
Được sự cho phép của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, lực lượng an ninh khám xét 41 địa điểm, bắt hơn 300 người.
Sáng ngày 12.7.1946, khi mũi trinh sát do đội trưởng Trần Tấn Nghĩa chỉ huy ập vào số 7 Ôn Như Hầu, lực lượng Quốc dân Đảng tại đây tỏ ra ngoan cố. Phan Kích Nam lúc này đang giữ ghế Đại biểu Quốc hội (do phe phái thỏa hiệp trước đó), lạm dụng quyền bất khả xâm phạm để chống trả pháp lý, đồng thời ngầm ra hiệu cho đồng bọn sẵn sàng nổ súng đánh tháo.
Khi trinh sát bước vào, Phan Kích Nam lập tức đập bàn, quát tháo, viện cớ mình là "Đại biểu Quốc hội" và có quyền bất khả xâm phạm để đe dọa, đòi lực lượng công an phải rút lui, đội trưởng Trần Tấn Nghĩa dõng dạc tuyên bố: "Chúng tôi hành động theo lệnh của Chính phủ để bảo vệ an ninh quốc gia. Ai vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý."
Biết Phan Kích Nam là kẻ cáo già, đội trưởng Nghĩa không tranh cãi sa đà vào lý thuyết pháp lý mà lập tức đưa ra các bằng chứng đanh thép, chứng minh nơi đây đang chứa chấp tội phạm bắt cóc, tống tiền và tài liệu phản quốc.
Nhận thấy Phan Kích Nam có dấu hiệu kéo dài thời gian để chờ chi viện, đội trưởng Trần Tấn Nghĩa ra tín hiệu cho các trinh sát đặc biệt lập tức khống chế, tước vũ khí của đối tượng Nam và các hộ vệ xung quanh một cách chớp nhoáng, không để chúng kịp nổ súng phản kháng.
Việc bắt sống Phan Kích Nam ngay tại sào huyệt mà không tốn một viên đạn đã làm sụp đổ hoàn toàn tinh thần phản kháng của các đối tượng còn lại trong nhà. Ngay sau đó, các trinh sát tiến hành khám xét và phát hiện ra các hầm ngầm, phòng tra tấn, hố chôn người sống và xưởng in tiền giả, vạch trần bộ mặt thật của chúng trước nhân dân và tước đi mọi cái cớ can thiệp của thực dân Pháp.
Triển lãm tội ác tại số 7 phố Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều) sau đó đã thu hút đông đảo Nhân dân, vô hiệu hóa sự can thiệp của Pháp.
4. Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946: Quyết định sinh tử
Ở miền Nam, quân Anh đã dọn đường cho quân Pháp quay lại nổ súng xâm lược. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch (kèm theo các tổ chức phản động như Việt Quốc, Việt Cách) tràn vào.
Khi Pháp và Trung Hoa đã "đi đêm" và hoàn tất cuộc mua bán Đông Dương, chính phủ Việt Nam đứng trước hai lựa chọn:
- Hoặc phát động kháng chiến ngay lập tức chống lại quân Pháp đang tiến ra Bắc, hoặc chấp nhận một thỏa hiệp ngoại giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động chọn giải pháp hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng, khi quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6.3.1946 với Jean Sainteny (đại diện Pháp), chấp nhận cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc giải giáp quân Nhật thay quân Tưởng.
Sự kiện này được nhiều nhà sử học đánh giá là một quyết sách ngoại giao thể hiện tư duy chiến lược sắc bén mưu trí, cân não của Hồ Chí Minh, khi mượn tay Pháp đuổi Tưởng trong tình thế nước nhà "ngàn cân treo sợi tóc".
Như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích với các đồng sự: Người Tàu ở lại sẽ là vĩnh viễn vì họ có dã tâm đồng hóa, còn người Pháp thực chất đã suy yếu sau Thế chiến II, họ không thể bám trụ lại Đông Dương lâu dài trước xu thế phi thực dân hóa toàn cầu.
5. Ba sách lược của Việt Minh ( Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu)
Giai đoạn lịch sử từ sau ngày 2.9.1945 đến trước Toàn quốc kháng chiến 19.12.1946 là một trong những chương phức tạp và cân não nhất của nền ngoại giao Việt Nam.
Trò chơi địa chính trị của các ông lớn (Mỹ, Anh, Pháp, Trung Hoa Dân Quốc) khi này đã biến Đông Dương thành một sàn giao dịch quyền lực.
Đặt trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới sinh, chưa được bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận, nền ngoại giao non trẻ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thực hiện những cuộc đấu trí ngoạn mục, để bảo vệ vận mệnh dân tộc độc lập trên thế "ngàn cân treo sợi tóc".
- Sách lược "Tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng để đánh Pháp ở miền Nam" từ 9.1945 - 3.1946. Khi hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch tràn vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật nhưng mang theo dã tâm "Diệt Cộng, cầm Hồ", trong khi quân Pháp đã nổ súng ở Nam Bộ, Trung ương Đảng đã vạch rõ: Không thể cùng lúc đối đầu với quá nhiều kẻ thù.
Đối với quân Tưởng, Trung ương Đảng chủ trương "hoa hòa nhã nhặn", chấp nhận một số yêu sách kinh tế (tiêu tiền quan kim, quốc tệ mất giá, cung cấp lương thực) và chính trị (nhường 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử cho phe Việt Quốc, Việt Cách). Thể hiện sự nhân nhượng có nguyên tắc. Sách lược này giúp giữ vững chính quyền trung ương, làm thất bại âm mưu lật đổ của Tưởng và tay sai, đồng thời tập trung nguồn lực cho đồng bào miền Nam kháng chiến chống Pháp quay trở lại.
- Sách lược "Hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng" từ 3.1946 - 9.1946. Khi cục diện thay đổi bằng Hiệp ước Hoa - Pháp ngày 28.2.1946; Tưởng bắt tay nhượng quyền ra Bắc cho Pháp để đổi lấy lợi ích ở Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam đối mặt với bài toán sinh tử mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp hòa hoãn với Pháp qua việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6.3.1946.
Chấp nhận cho 15.000 quân Pháp ra Bắc thay thế quân Tưởng để đổi lấy việc quân Tưởng phải lập tức rút về nước. Sách lược này đã giúp Chính phủ tránh được cuộc đụng đầu quân sự trực diện cùng lúc với cả Pháp và Tưởng; gạt được kẻ thù thâm hiểm (Tưởng) ra khỏi bờ cõi mà không tốn một viên đạn; buộc Pháp phải công nhận Việt Nam là một "Quốc gia tự do".
- Đấu trí trên bàn hội nghị và Tạm ước 14.9.1946. Sau Hiệp định Sơ bộ, Pháp bộc lộ rõ bản chất lật lọng khi âm mưu tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam và phá hoại các cuộc đàm phán tại Hội nghị trù bị Đà Lạt rồi đến Hội nghị Fontainebleau ở Pháp.
Trước nguy cơ đàm phán tan vỡ và chiến tranh bùng nổ quá sớm khi ta chưa kịp chuẩn bị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14.9.1946. Bản Tạm ước này tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa, nhưng quan trọng nhất là giúp Việt Nam kéo dài thêm 3 tháng hòa bình quý giá. Ba tháng này là khoảng thời gian "vàng" để Việt Nam chuyển trạng thái sang chuẩn bị toàn diện về lực lượng quân sự, vũ khí, lương thực và di chuyển các cơ quan đầu não lên chiến khu (An toàn khu - ATK), sẵn sàng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Bài học "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được hiện thực hóa trong giai đoạn này. Cái nhất quán, bất biến là Độc lập dân tộc và Thống nhất đất nước; còn cái vạn biến là sự uyển chuyển, linh hoạt trong sách lược lợi dụng mâu thuẫn hàng ngũ kẻ thù, biết tiến, biết lui đúng lúc.
Chính nghệ thuật ngoại giao cân não này đã cứu vớt chính quyền cách mạng thoát khỏi thế hiểm nghèo, tạo đà vững chắc cho ngày Toàn quốc kháng chiến 19.12.1946.
Nguồn khảo cứu gồm hồi ký, tài liệu lưu trữ và các công trình nghiên cứu lịch sử về Việt Nam giai đoạn 1945 - 1946:
1. Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam? Prelude to America’s Albatross, University of California Press, 1982.
2. David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power, University of California Press, 1995.
3. David G. Marr, Vietnam: State, War, Revolution (1945–1946), University of California Press, 2013.
4. William J. Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, Westview Press, 1981.
5. Cecil B. Currey, Victory at Any Cost: The Genius of Viet Nam’s Gen. Vo Nguyen Giap, Brassey’s, 1997.
6. Ellen J. Hammer, The Struggle for Indochina, 1940 - 1955, Stanford University Press, 1954.
7. Stein Tønnesson, The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War, SAGE Publications, 1991.
8. Patti, Archimedes L. A., các tài liệu và báo cáo OSS về Đông Dương năm 1945 - 1946, lưu trữ tại U.S. National Archives and Records Administration (NARA).
- Office of Strategic Services (OSS) Records, tài liệu về Đông Dương và Việt Minh năm 1945, U.S. National Archives.
9. Potsdam Conference Proceedings and Documents, tháng 7 - 8/1945, liên quan đến việc phân chia khu vực giải giáp quân Nhật tại Đông Dương.
10. Foreign Relations of the United States (FRUS), một số tài liệu liên quan đến Trung Quốc, Đông Dương và Đông Nam Á giai đoạn 1945 - 1946, U.S. Department of State.
11. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, các tập liên quan đến giai đoạn 1945 - 1946.
12. Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, bản hồi ký về những biến động chính trị năm 1945–1946.
Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil, 1952.
13. Philippe Devillers, Paris-Saigon-Hanoi: The 1945 - 1946 War, University of California Press, bản dịch và các nghiên cứu liên quan.

