- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,426
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Cách thức hồi giáo hoá triệt để ở một quốc gia điển hình
1. Các phân loại và phạm vi nghiên cứu dữ liệu di truyền
Sự gần gũi về di truyền giữa người Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại với người Hy Lạp, Armenia và các dân tộc vùng Caucasus, đối lập với các cuộc diệt chủng nhắm vào chính những nhóm này vào đầu thế kỷ XX, bắt nguồn từ một quá trình di cư và pha trộn dân cư kéo dài hàng thế kỷ tại Anatolia.
Tổ tiên của các tộc người nói tiếng Turkic xuất phát từ vùng thảo nguyên Mông Cổ, di cư dần về phía tây qua Trung Á và tiến vào Anatolia sau khi quân Seljuk, một nhánh của người Oghuz, đánh bại Đế quốc Byzantine trong trận Manzikert năm 1071.
Các nghiên cứu di truyền học quần thể về thành phần tổ tiên Trung Á trong bộ gene người Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại cho kết quả khác nhau đáng kể tùy loại chỉ thị di truyền, quần thể tham chiếu và phương pháp tính, nên không nên xem một con số đơn lẻ là kết luận cuối cùng.
Nghiên cứu của Cinnioğlu và đồng nghiệp, công bố năm 2004 trên tạp chí Human Genetics dựa trên 523 mẫu nhiễm sắc thể Y thu thập qua Viện Khoa học Pháp y Đại học Istanbul, một nguồn mẫu mang tính đô thị nên không hoàn toàn đại diện cho toàn bộ dân số, ghi nhận các haplogroup liên quan Trung Á gồm C, Q và O chỉ chiếm 3,4 phần trăm tổng mẫu, trong khi các phép tính hệ số pha trộn dựa trên quần thể Trung Á tham chiếu khác nhau cho kết quả dao động từ 4,6 đến 8,5 phần trăm.
Nghiên cứu của Hodoğlugil và Mahley, công bố năm 2012 trên Annals of Human Genetics, chỉ phân tích 64 cá nhân từ ba thành phố miền trung và miền tây Anatolia, cho kết quả thành phần Trung Á là 15 phần trăm nếu mô hình hóa với ba nhóm tổ tiên hoặc 9 phần trăm nếu dùng bốn nhóm, cho thấy rõ kết quả phụ thuộc vào số nhóm tổ tiên được chọn trong mô hình.
Các nghiên cứu cũ hơn dùng DNA ty thể hoặc đa hình chèn đoạn Alu, được chính Hodoğlugil và Mahley tổng hợp lại trong phần tổng quan tài liệu của họ, đưa ra các mức từ 13 đến 30 phần trăm tùy chỉ thị và tác giả.
Nghiên cứu quy mô lớn hơn nhiều của Kars và đồng nghiệp, công bố năm 2021 trên Proceedings of the National Academy of Sciences với 3.362 người Thổ Nhĩ Kỳ được giải trình tự toàn bộ exome hoặc toàn bộ gene, cho thấy quan hệ di truyền gần nhất với các quần thể Balkan và Caucasus, trong khi mức đóng góp gene từ Trung Á theo phân tích haplogroup nhiễm sắc thể Y trong nghiên cứu này vào khoảng 9 phần trăm.
Dữ liệu DNA cổ đại từ dự án Southern Arc, công bố năm 2022 trên tạp chí Science dưới sự dẫn dắt của Lazaridis, Alpaslan-Roodenberg và David Reich, bổ sung một góc nhìn mà các nghiên cứu chỉ dùng mẫu hiện đại không có được, cho thấy cư dân Anatolia duy trì mức độ liên tục sinh học đáng kể từ thời đồ đồng qua thời La Mã và Byzantine, trong khi các đợt di cư của người nói tiếng Turkic và Slav chỉ thực sự tác động đáng kể từ thời Trung cổ.
Nghiên cứu năm 2019 của Bánfai và đồng nghiệp trên tạp chí Frontiers in Genetics, dùng chỉ số khoảng cách di truyền Fst, cho thấy người Thổ Nhĩ Kỳ có khoảng cách gần nhất với nhóm Caucasus và nhóm Iran-Syria so với các nhóm Turkmen hay Đông Âu, nhưng khoảng cách di truyền theo các phép phân tích PCA hay Fst chỉ phản ánh mức độ chia sẻ tổ tiên về mặt sinh học, không đồng nghĩa với tính liên tục lịch sử hay bản sắc văn hóa, vốn còn chịu ảnh hưởng lớn bởi chính sách, tôn giáo, ngôn ngữ và tương tác xã hội.
Khoảng cách giữa tỷ trọng gene khiêm tốn từ Trung Á và sự phổ biến tuyệt đối của ngôn ngữ Turkic tại Anatolia thường được giải thích bằng mô hình thống trị của giới tinh hoa, một khái niệm được nhiều nhà nhân học và ngôn ngữ học lịch sử chấp nhận, theo đó một nhóm chiến binh du mục có ưu thế quân sự, dù chiếm số lượng nhỏ, vẫn áp đặt được ngôn ngữ và tôn giáo của mình lên một dân số bản địa đông đảo hơn.
Tuy nhiên, không phải mọi nhà nghiên cứu đều đồng thuận về cơ chế chi tiết của quá trình này, và một số ý kiến cho rằng cần thêm bằng chứng từ văn bia, văn bản hành chính và các nguồn chữ viết thời Seljuk và Ottoman để xác nhận tốc độ và phạm vi cụ thể của việc chuyển đổi ngôn ngữ tại từng vùng của Anatolia, một điểm mà riêng dữ liệu di truyền học chưa thể tự giải quyết.
2. Phân hóa trong hệ thống xã hội millet
Trong nhiều thế kỷ, Ottoman tổ chức xã hội theo hệ thống millet, phân chia dân cư theo tôn giáo hơn là sắc tộc.
Người không theo Hồi giáo, bao gồm các cộng đồng Armenia, Hy Lạp và Assyria theo Kitô giáo, mang địa vị dhimmi, phải đóng thuế jizya và chịu hạn chế về quyền mang vũ khí, quyền làm chứng trước tòa cùng quyền tham gia quân đội và bộ máy hành chính cấp cao.
Bị giới hạn con đường tiến thân chính trị, các cộng đồng này chuyển hướng sang thương mại, tài chính và các ngành nghề chuyên môn, đồng thời tận dụng quan hệ văn hóa với châu Âu cùng sự bảo hộ pháp lý từ các lãnh sự quán phương Tây qua các hiệp ước Capitulations, dần nắm giữ vị thế kinh tế vượt trội so với tỷ lệ dân số của mình vào cuối thế kỷ XIX.
Dù gần gũi về di truyền với các dân tộc Nam Âu và Caucasus, người Thổ Nhĩ Kỳ trong nhận thức phổ biến tại châu Âu vẫn bị xếp vào phạm trù châu Á hoặc Trung Đông, một ranh giới được định hình chủ yếu bởi tôn giáo và lịch sử đối đầu quân sự kể từ khi Constantinople sụp đổ năm 1453, chứ không dựa trên cấu trúc gene, trong khi Hy Lạp với di sản Kitô giáo Chính thống được mặc nhiên xếp vào khối văn hóa châu Âu.
Từ cuối thế kỷ XIX, các thất bại quân sự liên tiếp tại Balkan, đỉnh điểm là hai cuộc Chiến tranh Balkan 1912 và 1913, đưa Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ, hay phong trào Thổ Nhĩ Kỳ trẻ, lên nắm quyền với một dự án xây dựng quốc gia dân tộc thuần nhất, thay cho mô hình đế quốc đa sắc tộc truyền thống.
Ba lãnh đạo chủ chốt của Ủy ban, gọi là Tam Pasha, gồm Talat Pasha giữ chức Bộ trưởng Nội vụ, Enver Pasha giữ chức Bộ trưởng Chiến tranh và Cemal Pasha chỉ huy Đệ tứ Quân đoàn.
3. Điểm nhấn xung đột và thảm họa diệt chủng
Sau thất bại của Enver Pasha trước quân Nga tại Sarıkamış vào tháng 12 năm 1914, giới lãnh đạo Ủy ban đổ lỗi cho sự phản trắc của người Armenia, càng củng cố quan điểm coi các cộng đồng Kitô giáo thiểu số là mối đe dọa an ninh nội bộ thời chiến.
Ngày 11 tháng 11 năm 1914, Sultan Caliph Mehmed V chính thức tuyên bố thánh chiến chống lại các cường quốc Entente, được năm fatwa của giới giáo sĩ Hồi giáo hậu thuẫn, một tuyên truyền được ghi nhận có ảnh hưởng đáng kể đến lòng trung thành của các bộ lạc Kurd, lực lượng sau đó đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện tàn sát người Armenia và Assyria.
Hồi giáo với tư cách một tôn giáo không quy định hay yêu cầu diệt chủng, nhưng cấu trúc xã hội millet cùng khung khổ tôn giáo chính trị mà Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ huy động đã cung cấp một đường phân giới sẵn có giữa nhóm trong và nhóm ngoài, được giới cầm quyền sử dụng cho một dự án về cơ bản mang tính dân tộc chủ nghĩa và an ninh chính trị.
Đêm 23 sang 24 tháng 4 năm 1915, được gọi là Ngày Chủ nhật Đỏ, chính quyền Ottoman theo lệnh của Talat Pasha bắt giữ từ 235 đến 270 trí thức và lãnh đạo cộng đồng Armenia tại Constantinople, hầu hết sau đó bị sát hại trong các tháng tiếp theo.
Hàng trăm nghìn người Armenia bị buộc đi bộ trên các tuyến đường tử thần hướng tới sa mạc Deir ez Zor tại Syria, trong điều kiện thiếu lương thực và nước uống, dưới sự áp giải của lực lượng bán quân sự. Đại sứ Mỹ tại Ottoman Henry Morgenthau là một trong những nhà ngoại giao nước ngoài ghi chép và phản đối các cuộc tàn sát này một cách có hệ thống nhất, thông qua các báo cáo gửi về Washington và cuốn hồi ký xuất bản năm 1918.
Ngày 27 tháng 5 năm 1915, chính quyền Ottoman thông qua một đạo luật an ninh có tên chính thức bằng tiếng Thổ là Sevk ve İskân Kanunu, thường được gọi là Luật Tehcir hay Luật Tạm thời về Di chuyển và Định cư, cho phép trục xuất bất kỳ ai bị coi là mối đe dọa an ninh quốc gia trong thời chiến.
Về mặt văn bản, đây là một luật mang tính tạm thời nhằm xử lý an ninh chứ không trực tiếp ra lệnh tiêu diệt, nhưng đi kèm với nó là các chỉ thị riêng gửi tới Tổ chức Đặc biệt cùng Luật Tạm thời về Tịch thu và Sung công Tài sản ban hành vào tháng 9 năm 1915, khiến việc thực thi trên thực tế dẫn tới trục xuất, tịch thu tài sản và hành quyết hàng loạt.
Luật Tehcir hết hiệu lực vào tháng 2 năm 1916, bị Hạ viện Ottoman tuyên bố vô hiệu và phi pháp vào tháng 12 năm 1918, trước khi được chính quyền Ankara của Mustafa Kemal ban hành lại vào tháng 9 năm 1922.
Lực lượng trực tiếp thực hiện phần lớn các vụ giết người là Teşkilât-ı Mahsusa, tức Tổ chức Đặc biệt, một đơn vị bán quân sự do bác sĩ Bahaeddin Şakir cùng Nazım Bey chỉ huy, theo phân tích của các nhà sử học như Taner Akçam dựa trên hồ sơ tòa án quân sự Ottoman thời hậu chiến, được Talat Pasha cho phép tuyển hơn 10.000 tù nhân từng bị kết án giết người, hiếp dâm và cướp bóc, đổi lại quyền tự do nếu tham gia tiêu diệt người Armenia và chiếm đoạt tài sản của họ.
Tại nhiều địa phương, nạn nhân bị dìm chết dưới sông, xô từ các vách núi, đóng đinh trên cây thập tự hoặc thiêu sống, theo các ghi chép của nhân chứng và nhà ngoại giao nước ngoài thời đó.
Để ngăn người Hồi giáo che chở nạn nhân, chính quyền ban hành sắc lệnh quy định hình phạt tử hình bằng treo cổ và phá hủy nhà cửa đối với bất kỳ ai chứa chấp người Armenia, dù trên thực tế một số người Turk, Kurd và Arab vẫn lặng lẽ cứu giúp hàng xóm của mình bất chấp rủi ro.
Một làn sóng tàn sát thứ hai diễn ra từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1916, sau khi Talat Pasha lo ngại số người Armenia còn sống sót trong các trại tại Syria có thể trở về quê cũ sau chiến tranh. Hơn 200.000 người bị giết trong làn sóng này, chủ yếu tại khu vực gần Deir ez Zor và lưu vực sông Khabur, những nơi hẻo lánh được lựa chọn để thi thể nạn nhân không gây ra vấn đề y tế công cộng cho khu vực đông dân hơn.
Số liệu về thiệt hại nhân mạng trong cuộc diệt chủng Armenia khác nhau tùy nguồn, phương pháp tính và việc có tính cả người Armenia tại vùng Caucasus thuộc Nga hay không.
Hồ sơ riêng của Talat Pasha, được vợ ông trao cho nhà báo Murat Bardakçı năm 1983 và xuất bản sau đó, cho thấy hơn 970.000 người Armenia biến mất khỏi số liệu dân cư chính thức trong các năm 1915 và 1916, còn nhà sử học Thổ Nhĩ Kỳ Yusuf Hikmet Bayur dẫn số liệu chính thức đương thời là khoảng 800.000 người Armenia và 200.000 người Hy Lạp chết do trục xuất hoặc trong các tiểu đoàn lao động.
Các nhà sử học chuyên về diệt chủng như Taner Akçam, Raymond Kevorkian và Peter Balakian, dựa trên hồ sơ lãnh sự, giáo hội và khảo sát theo từng tỉnh, đưa ra các ước tính phổ biến trong khoảng 1 đến 1,5 triệu người, với một số công trình mở rộng phạm vi thời gian đến năm 1923 và tính thêm các cộng đồng Armenia vùng Caucasus đưa con số lên gần 2 triệu.
Dân số Armenia tại lãnh thổ Ottoman giảm từ khoảng 2 triệu người năm 1914 xuống dưới 400.000 người vào năm 1922.
Đối với người Hy Lạp Pontus tại khu vực ven Biển Đen, công trình "The Thirty-Year Genocide: Turkey's Destruction of Its Christian Minorities, 1894-1924" của Benny Morris và Dror Ze'evi ước tính khoảng 350.000 người thiệt mạng trong giai đoạn 1914 đến 1923, một con số một số công trình khác điều chỉnh khác đi tùy phạm vi địa lý và mốc thời gian được tính, cùng với khoảng 1,5 triệu người Hy Lạp nói chung tại Anatolia bị trục xuất sang Hy Lạp trong cuộc trao đổi dân cư Hy Lạp Thổ Nhĩ Kỳ năm 1923.
Đối với người Assyria, gọi trong tiếng bản địa là Sayfo, con số 250.000 đến 300.000 người chết trên tổng dân số trước chiến tranh khoảng 500.000 đến 600.000 người ban đầu do đoàn đại biểu Assyro Chaldean trình tại Hội nghị Hòa bình Paris năm 1919, một con số mang mục tiêu chính trị nhất định vào thời điểm đó, nhưng nghiên cứu học thuật sau này của nhà sử học David Gaunt nhìn chung xác nhận khoảng ước tính này thay vì điều chỉnh đáng kể.
Khác với chiến dịch nhắm vào người Armenia, vai trò của chính quyền trung ương Ottoman trong các cuộc tàn sát người Assyria ít trực tiếp hơn, với các lực lượng địa phương, đặc biệt là các bộ lạc Kurd được huy động qua tuyên truyền thánh chiến, đóng vai trò chủ động hơn.
Bên cạnh số người thiệt mạng, các nghiên cứu ước tính khoảng 100.000 đến 200.000 phụ nữ và trẻ em Armenia bị cưỡng bức cải sang Hồi giáo và đưa vào các gia đình Hồi giáo trong quá trình trục xuất, một hình thức xóa bỏ bản sắc dân tộc song song với việc tàn sát trực tiếp.
Trong quá trình áp giải các đoàn người trục xuất, lực lượng hiến binh và một số cư dân địa phương còn tổ chức buôn bán phụ nữ và trẻ em gái Armenia như nô lệ tình dục cho các gia đình Hồi giáo, một thực tế được nhiều nhân chứng đương thời ghi nhận song song với hiện tượng cưỡng bức cải đạo.
Nam giới Armenia trong tuổi quân dịch bị tách khỏi đơn vị chiến đấu ngay từ đầu chiến dịch và đưa vào các tiểu đoàn lao động, nơi nhiều người chết vì điều kiện lao động khắc nghiệt hoặc bị hành quyết sau khi hoàn thành công việc, qua đó loại bỏ trước tiên lực lượng có khả năng kháng cự của các cộng đồng bị nhắm tới.
Song song với việc tàn sát con người, nhiều nhà thờ và tu viện của người Armenia, Hy Lạp và Assyria bị phá hủy hoặc chuyển đổi công năng, còn hàng loạt địa danh có gốc Hy Lạp hoặc Armenia bị đổi sang tên Thổ Nhĩ Kỳ, xóa bỏ dấu vết vật chất và hành chính về sự hiện diện lâu đời của các cộng đồng này trên bán đảo Anatolia.
4. Sự tái phân bổ tài sản
Việc các cộng đồng thiểu số Kitô giáo nắm giữ vị thế kinh tế vượt trội, hậu quả trực tiếp từ cấu trúc hạn chế nghề nghiệp của hệ thống millet, tạo ra một động cơ kinh tế song hành với động cơ chính trị an ninh trong chiến dịch trục xuất và tàn sát.
Tài sản, nhà cửa và cơ sở kinh doanh của người bị trục xuất bị tịch thu theo các quy định đi kèm Luật Tehcir, qua đó tái phân bổ một phần đáng kể của cải đô thị sang tay tầng lớp Hồi giáo Turk mới nổi lên sau chiến tranh.
Theo các tài liệu lưu trữ được công bố sau này, của cải động sản tịch thu từ nạn nhân tại nhiều khu vực được chia theo tỷ lệ gần như cố định: một phần ba cho người trực tiếp thực hiện vụ giết người, một phần ba cho chính quyền địa phương và phần còn lại chuyển về Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ, biến hành vi tham gia tàn sát thành một cơ chế khuyến khích vật chất có tổ chức.
Mô hình tịch thu tài sản gắn với việc loại bỏ một nhóm dân cư bị gán nhãn chính trị là kẻ phản bội hoặc tay sai ngoại bang là một khuôn mẫu xuất hiện lặp lại trong nhiều dự án xây dựng nhà nước thế kỷ XX, từ các chiến dịch tịch thu tài sản tầng lớp thương nhân thiểu số tại nhiều quốc gia mới độc lập đến các phong trào tái phân bổ ruộng đất và tư liệu sản xuất theo những hệ tư tưởng cách mạng khác nhau.
Điểm chung giữa các trường hợp này không nằm ở nội dung tư tưởng, mà ở cơ chế vận hành, theo đó việc gán nhãn chính trị cho một nhóm dân cư nắm giữ kinh tế tạo điều kiện hợp thức hóa việc tước đoạt tài sản của họ.
Mức độ quan trọng tương đối giữa động cơ kinh tế, an ninh thời chiến và chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong việc khởi phát các cuộc diệt chủng này vẫn là vấn đề được giới sử học tiếp tục tranh luận, thay vì có một cách giải thích đơn nhất được toàn bộ giới nghiên cứu chấp nhận.
Phần lớn người sống sót sau các cuộc trục xuất và tàn sát trở thành người tị nạn không quốc tịch, phân tán tới nhiều khu vực trên thế giới như Pháp, Lebanon, Syria, Hy Lạp, Hoa Kỳ và Argentina, nơi họ hình thành các cộng đồng tha hương mới. Tại những nơi này, nhà thờ và các tổ chức cộng đồng trở thành trung tâm bảo tồn ngôn ngữ, tôn giáo và ký ức tập thể qua nhiều thế hệ.
Một nhóm sống sót khác ít được ghi nhận là những phụ nữ và trẻ em bị cưỡng bức cải đạo và sáp nhập vào các gia đình Hồi giáo, buộc phải đổi tên và từ bỏ ngôn ngữ gốc. Một số hậu duệ của nhóm này chỉ phát hiện nguồn gốc Armenia, Hy Lạp hoặc Assyria của ông bà mình trong những thập niên gần đây, qua nghiên cứu gia phả hoặc xét nghiệm DNA.
Đối với những người Armenia, Hy Lạp và Assyria còn ở lại trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ sau năm 1923, đời sống cộng đồng chịu sự giám sát chặt chẽ và nhiều hạn chế về việc sử dụng ngôn ngữ và thực hành tôn giáo công khai.
Dân số Armenia tại Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay được ước tính chỉ còn khoảng 60.000 người, tập trung chủ yếu tại Istanbul, so với khoảng 2 triệu người trước năm 1915.
5. Ký ức lịch sử và chính sách của nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại
Luật sư người Do Thái gốc Ba Lan Raphael Lemkin đặt ra thuật ngữ diệt chủng trong cuốn sách Axis Rule in Occupied Europe xuất bản năm 1944, một phần lấy cảm hứng từ vụ ám sát Talat Pasha năm 1921 và số phận người Armenia trong Thế chiến thứ nhất, nhưng theo các phân tích về quá trình hình thành khái niệm của ông, Lemkin còn dựa trên nghiên cứu về chính sách của Đức Quốc xã đối với người Do Thái và nhiều chính sách cưỡng bức đồng hóa hoặc tiêu diệt các dân tộc thiểu số khác mà ông quan sát trong sự nghiệp luật học của mình.
Khái niệm pháp lý về diệt chủng do đó chưa tồn tại vào thời điểm các sự kiện 1915 đến 1923 diễn ra, một yếu tố góp phần khiến các cuộc tàn sát này thiếu một khung khổ truy tố quốc tế tương ứng với Tòa án Nuremberg sau này.
Ngay sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, chính phủ Ottoman hậu chiến từng tổ chức Tòa án Quân sự Đặc biệt xét xử vắng mặt các lãnh đạo Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ, tuyên án tử hình đối với 18 người, trong đó có Talat, Enver và Cemal, dù chỉ ba người trong số họ sau đó thực sự bị hành quyết.
Đại Vizia Damat Ferid Pasha khi đó công khai xác nhận khoảng 800.000 công dân Ottoman gốc Armenia đã chết do chính sách của nhà nước, phát biểu rằng "nhân loại và các nền văn minh đang run rẩy, và mãi mãi sẽ còn run rẩy, trước thảm kịch này".
Talat Pasha bị ám sát tại Berlin năm 1921, Enver Pasha tại Trung Á năm 1922 và Cemal Pasha tại Tiflis năm 1922, cả ba đều là nạn nhân của Chiến dịch Nemesis do Liên đoàn Cách mạng Armenia tổ chức, chứ không phải bị hành quyết qua lệnh của tòa.
Sự công nhận này không kéo dài lâu: sau khi phong trào dân tộc Thổ do Mustafa Kemal lãnh đạo giành thắng lợi và thành lập nền Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ năm 1923, các bản án bị xóa bỏ và lập trường chính thức của nhà nước chuyển hẳn sang phủ nhận quy mô và bản chất có chủ đích của các sự kiện 1915.
So với nạn diệt chủng người Do Thái dưới thời Nazi, các cuộc diệt chủng tại Anatolia ít được biết đến rộng rãi hơn vì nhiều lý do mang tính cấu trúc.
Sự kiện diễn ra đồng thời với Thế chiến thứ nhất nên dễ bị lu mờ trước quy mô tàn phá toàn cầu của cuộc chiến, trong khi các cộng đồng nạn nhân bị trục xuất hoàn toàn khỏi vùng đất xảy ra sự kiện nên mất khả năng duy trì bằng chứng và ký ức tập thể tại chỗ.
Khác với cộng đồng người Do Thái tại châu Âu sau Thế chiến thứ hai, các cộng đồng tha hương Armenia, Hy Lạp và Assyria trong nhiều thập niên đầu thiếu nguồn lực tổ chức để vận động công nhận quốc tế ở quy mô tương đương, một phần do chính họ cũng phải tái lập đời sống từ con số không tại các quốc gia mới.
Hiệp ước Sèvres ký năm 1920 giữa Ottoman và các cường quốc Đồng minh, dự kiến phân chia phần lớn lãnh thổ Anatolia cho Armenia, Hy Lạp và các cường quốc châu Âu, không bao giờ được thực thi do thắng lợi của phong trào dân tộc Thổ dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal, và bị thay thế bằng Hiệp ước Lausanne năm 1923.
Trải nghiệm về nguy cơ bị chia cắt lãnh thổ này hình thành nên điều mà các nhà nghiên cứu chính trị gọi là hội chứng Sèvres, một tâm lý nghi ngờ thường trực đối với các thế lực phương Tây, tiếp tục ảnh hưởng đến cách nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ nhìn nhận các yêu cầu công nhận diệt chủng từ bên ngoài.
Điều 301 Luật Hình sự Thổ Nhĩ Kỳ, có hiệu lực từ năm 2005 và quy định hình phạt tù đối với hành vi công khai xúc phạm bản sắc Thổ, đã được sử dụng để truy tố nhiều nhà văn và nhà báo thảo luận công khai về các sự kiện 1915.
Nhà văn Orhan Pamuk bị truy tố năm 2005 sau khi phát biểu trên một tạp chí Thụy Sĩ rằng "Thirty thousand Kurds have been killed here, and a million Armenians", trước khi vụ án bị bãi bỏ. Nhà báo gốc Armenia Hrant Dink, từng bị kết án theo Điều 301 vào tháng 10 năm 2005, bản án bị tòa phúc thẩm giữ nguyên vào tháng 5 năm 2006, bị một phần tử dân tộc chủ nghĩa cực đoan sát hại vào tháng 1 năm 2007.
Lập trường phủ nhận chính thức của nhà nước không đồng nghĩa với sự đồng thuận tuyệt đối trong giới học thuật Thổ Nhĩ Kỳ.
Nhà sử học Taner Akçam, gốc Thổ Nhĩ Kỳ, là học giả Thổ đầu tiên công khai thừa nhận diệt chủng Armenia từ những năm 1990 và đã xuất bản nhiều công trình dựa trên văn khố chính phủ Ottoman, trong đó có "A Shameful Act" năm 1999, dù phải sống lưu vong và từng bị các phần tử dân tộc chủ nghĩa cực đoan đe dọa tính mạng.
Một số học giả và nhà báo Thổ Nhĩ Kỳ khác, trong đó có Ümit Kurt, Fatma Müge Göçek và Hasan Cemal, chắt của Cemal Pasha, một trong ba lãnh đạo Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ chịu trách nhiệm chính về diệt chủng, cũng công khai thừa nhận sự kiện này dưới các góc độ khác nhau, cho thấy không nên đồng nhất toàn bộ xã hội Thổ Nhĩ Kỳ với lập trường phủ nhận của nhà nước.
Cơ chế phủ nhận của nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ khác về bản chất so với các mô hình kiểm soát ký ức dựa chủ yếu vào kiểm duyệt công nghệ thông tin. Thay vì ngăn chặn việc tiếp cận thông tin, Ankara duy trì các viện nghiên cứu và hội thảo học thuật chính thức nhằm sản xuất và phổ biến các diễn giải lịch sử thay thế, cho rằng thiệt hại nhân mạng năm 1915 là hậu quả của chiến tranh và bệnh dịch chứ không phải một chính sách tiêu diệt có chủ đích, song song với việc áp dụng Điều 301 để hạn chế diễn ngôn đối lập trong nước.
Tính đến năm 2025, 34 quốc gia trên thế giới, trong đó có Pháp, Đức, Nga và từ năm 2021 cả Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Joe Biden, chính thức công nhận các sự kiện 1915 đến 1923 là diệt chủng đối với người Armenia, một con số có thể thay đổi theo thời gian do các tranh luận chính trị nội bộ tại một số nước.
Nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục bác bỏ cách gọi này, khẳng định rằng thiệt hại nhân mạng là hậu quả của điều kiện chiến tranh và xung đột song phương chứ không phải một chính sách tiêu diệt có chủ đích.
1. Các phân loại và phạm vi nghiên cứu dữ liệu di truyền
Sự gần gũi về di truyền giữa người Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại với người Hy Lạp, Armenia và các dân tộc vùng Caucasus, đối lập với các cuộc diệt chủng nhắm vào chính những nhóm này vào đầu thế kỷ XX, bắt nguồn từ một quá trình di cư và pha trộn dân cư kéo dài hàng thế kỷ tại Anatolia.
Tổ tiên của các tộc người nói tiếng Turkic xuất phát từ vùng thảo nguyên Mông Cổ, di cư dần về phía tây qua Trung Á và tiến vào Anatolia sau khi quân Seljuk, một nhánh của người Oghuz, đánh bại Đế quốc Byzantine trong trận Manzikert năm 1071.
Các nghiên cứu di truyền học quần thể về thành phần tổ tiên Trung Á trong bộ gene người Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại cho kết quả khác nhau đáng kể tùy loại chỉ thị di truyền, quần thể tham chiếu và phương pháp tính, nên không nên xem một con số đơn lẻ là kết luận cuối cùng.
Nghiên cứu của Cinnioğlu và đồng nghiệp, công bố năm 2004 trên tạp chí Human Genetics dựa trên 523 mẫu nhiễm sắc thể Y thu thập qua Viện Khoa học Pháp y Đại học Istanbul, một nguồn mẫu mang tính đô thị nên không hoàn toàn đại diện cho toàn bộ dân số, ghi nhận các haplogroup liên quan Trung Á gồm C, Q và O chỉ chiếm 3,4 phần trăm tổng mẫu, trong khi các phép tính hệ số pha trộn dựa trên quần thể Trung Á tham chiếu khác nhau cho kết quả dao động từ 4,6 đến 8,5 phần trăm.
Nghiên cứu của Hodoğlugil và Mahley, công bố năm 2012 trên Annals of Human Genetics, chỉ phân tích 64 cá nhân từ ba thành phố miền trung và miền tây Anatolia, cho kết quả thành phần Trung Á là 15 phần trăm nếu mô hình hóa với ba nhóm tổ tiên hoặc 9 phần trăm nếu dùng bốn nhóm, cho thấy rõ kết quả phụ thuộc vào số nhóm tổ tiên được chọn trong mô hình.
Các nghiên cứu cũ hơn dùng DNA ty thể hoặc đa hình chèn đoạn Alu, được chính Hodoğlugil và Mahley tổng hợp lại trong phần tổng quan tài liệu của họ, đưa ra các mức từ 13 đến 30 phần trăm tùy chỉ thị và tác giả.
Nghiên cứu quy mô lớn hơn nhiều của Kars và đồng nghiệp, công bố năm 2021 trên Proceedings of the National Academy of Sciences với 3.362 người Thổ Nhĩ Kỳ được giải trình tự toàn bộ exome hoặc toàn bộ gene, cho thấy quan hệ di truyền gần nhất với các quần thể Balkan và Caucasus, trong khi mức đóng góp gene từ Trung Á theo phân tích haplogroup nhiễm sắc thể Y trong nghiên cứu này vào khoảng 9 phần trăm.
Dữ liệu DNA cổ đại từ dự án Southern Arc, công bố năm 2022 trên tạp chí Science dưới sự dẫn dắt của Lazaridis, Alpaslan-Roodenberg và David Reich, bổ sung một góc nhìn mà các nghiên cứu chỉ dùng mẫu hiện đại không có được, cho thấy cư dân Anatolia duy trì mức độ liên tục sinh học đáng kể từ thời đồ đồng qua thời La Mã và Byzantine, trong khi các đợt di cư của người nói tiếng Turkic và Slav chỉ thực sự tác động đáng kể từ thời Trung cổ.
Nghiên cứu năm 2019 của Bánfai và đồng nghiệp trên tạp chí Frontiers in Genetics, dùng chỉ số khoảng cách di truyền Fst, cho thấy người Thổ Nhĩ Kỳ có khoảng cách gần nhất với nhóm Caucasus và nhóm Iran-Syria so với các nhóm Turkmen hay Đông Âu, nhưng khoảng cách di truyền theo các phép phân tích PCA hay Fst chỉ phản ánh mức độ chia sẻ tổ tiên về mặt sinh học, không đồng nghĩa với tính liên tục lịch sử hay bản sắc văn hóa, vốn còn chịu ảnh hưởng lớn bởi chính sách, tôn giáo, ngôn ngữ và tương tác xã hội.
Khoảng cách giữa tỷ trọng gene khiêm tốn từ Trung Á và sự phổ biến tuyệt đối của ngôn ngữ Turkic tại Anatolia thường được giải thích bằng mô hình thống trị của giới tinh hoa, một khái niệm được nhiều nhà nhân học và ngôn ngữ học lịch sử chấp nhận, theo đó một nhóm chiến binh du mục có ưu thế quân sự, dù chiếm số lượng nhỏ, vẫn áp đặt được ngôn ngữ và tôn giáo của mình lên một dân số bản địa đông đảo hơn.
Tuy nhiên, không phải mọi nhà nghiên cứu đều đồng thuận về cơ chế chi tiết của quá trình này, và một số ý kiến cho rằng cần thêm bằng chứng từ văn bia, văn bản hành chính và các nguồn chữ viết thời Seljuk và Ottoman để xác nhận tốc độ và phạm vi cụ thể của việc chuyển đổi ngôn ngữ tại từng vùng của Anatolia, một điểm mà riêng dữ liệu di truyền học chưa thể tự giải quyết.
2. Phân hóa trong hệ thống xã hội millet
Trong nhiều thế kỷ, Ottoman tổ chức xã hội theo hệ thống millet, phân chia dân cư theo tôn giáo hơn là sắc tộc.
Người không theo Hồi giáo, bao gồm các cộng đồng Armenia, Hy Lạp và Assyria theo Kitô giáo, mang địa vị dhimmi, phải đóng thuế jizya và chịu hạn chế về quyền mang vũ khí, quyền làm chứng trước tòa cùng quyền tham gia quân đội và bộ máy hành chính cấp cao.
Bị giới hạn con đường tiến thân chính trị, các cộng đồng này chuyển hướng sang thương mại, tài chính và các ngành nghề chuyên môn, đồng thời tận dụng quan hệ văn hóa với châu Âu cùng sự bảo hộ pháp lý từ các lãnh sự quán phương Tây qua các hiệp ước Capitulations, dần nắm giữ vị thế kinh tế vượt trội so với tỷ lệ dân số của mình vào cuối thế kỷ XIX.
Dù gần gũi về di truyền với các dân tộc Nam Âu và Caucasus, người Thổ Nhĩ Kỳ trong nhận thức phổ biến tại châu Âu vẫn bị xếp vào phạm trù châu Á hoặc Trung Đông, một ranh giới được định hình chủ yếu bởi tôn giáo và lịch sử đối đầu quân sự kể từ khi Constantinople sụp đổ năm 1453, chứ không dựa trên cấu trúc gene, trong khi Hy Lạp với di sản Kitô giáo Chính thống được mặc nhiên xếp vào khối văn hóa châu Âu.
Từ cuối thế kỷ XIX, các thất bại quân sự liên tiếp tại Balkan, đỉnh điểm là hai cuộc Chiến tranh Balkan 1912 và 1913, đưa Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ, hay phong trào Thổ Nhĩ Kỳ trẻ, lên nắm quyền với một dự án xây dựng quốc gia dân tộc thuần nhất, thay cho mô hình đế quốc đa sắc tộc truyền thống.
Ba lãnh đạo chủ chốt của Ủy ban, gọi là Tam Pasha, gồm Talat Pasha giữ chức Bộ trưởng Nội vụ, Enver Pasha giữ chức Bộ trưởng Chiến tranh và Cemal Pasha chỉ huy Đệ tứ Quân đoàn.
3. Điểm nhấn xung đột và thảm họa diệt chủng
Sau thất bại của Enver Pasha trước quân Nga tại Sarıkamış vào tháng 12 năm 1914, giới lãnh đạo Ủy ban đổ lỗi cho sự phản trắc của người Armenia, càng củng cố quan điểm coi các cộng đồng Kitô giáo thiểu số là mối đe dọa an ninh nội bộ thời chiến.
Ngày 11 tháng 11 năm 1914, Sultan Caliph Mehmed V chính thức tuyên bố thánh chiến chống lại các cường quốc Entente, được năm fatwa của giới giáo sĩ Hồi giáo hậu thuẫn, một tuyên truyền được ghi nhận có ảnh hưởng đáng kể đến lòng trung thành của các bộ lạc Kurd, lực lượng sau đó đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện tàn sát người Armenia và Assyria.
Hồi giáo với tư cách một tôn giáo không quy định hay yêu cầu diệt chủng, nhưng cấu trúc xã hội millet cùng khung khổ tôn giáo chính trị mà Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ huy động đã cung cấp một đường phân giới sẵn có giữa nhóm trong và nhóm ngoài, được giới cầm quyền sử dụng cho một dự án về cơ bản mang tính dân tộc chủ nghĩa và an ninh chính trị.
Đêm 23 sang 24 tháng 4 năm 1915, được gọi là Ngày Chủ nhật Đỏ, chính quyền Ottoman theo lệnh của Talat Pasha bắt giữ từ 235 đến 270 trí thức và lãnh đạo cộng đồng Armenia tại Constantinople, hầu hết sau đó bị sát hại trong các tháng tiếp theo.
Hàng trăm nghìn người Armenia bị buộc đi bộ trên các tuyến đường tử thần hướng tới sa mạc Deir ez Zor tại Syria, trong điều kiện thiếu lương thực và nước uống, dưới sự áp giải của lực lượng bán quân sự. Đại sứ Mỹ tại Ottoman Henry Morgenthau là một trong những nhà ngoại giao nước ngoài ghi chép và phản đối các cuộc tàn sát này một cách có hệ thống nhất, thông qua các báo cáo gửi về Washington và cuốn hồi ký xuất bản năm 1918.
Ngày 27 tháng 5 năm 1915, chính quyền Ottoman thông qua một đạo luật an ninh có tên chính thức bằng tiếng Thổ là Sevk ve İskân Kanunu, thường được gọi là Luật Tehcir hay Luật Tạm thời về Di chuyển và Định cư, cho phép trục xuất bất kỳ ai bị coi là mối đe dọa an ninh quốc gia trong thời chiến.
Về mặt văn bản, đây là một luật mang tính tạm thời nhằm xử lý an ninh chứ không trực tiếp ra lệnh tiêu diệt, nhưng đi kèm với nó là các chỉ thị riêng gửi tới Tổ chức Đặc biệt cùng Luật Tạm thời về Tịch thu và Sung công Tài sản ban hành vào tháng 9 năm 1915, khiến việc thực thi trên thực tế dẫn tới trục xuất, tịch thu tài sản và hành quyết hàng loạt.
Luật Tehcir hết hiệu lực vào tháng 2 năm 1916, bị Hạ viện Ottoman tuyên bố vô hiệu và phi pháp vào tháng 12 năm 1918, trước khi được chính quyền Ankara của Mustafa Kemal ban hành lại vào tháng 9 năm 1922.
Lực lượng trực tiếp thực hiện phần lớn các vụ giết người là Teşkilât-ı Mahsusa, tức Tổ chức Đặc biệt, một đơn vị bán quân sự do bác sĩ Bahaeddin Şakir cùng Nazım Bey chỉ huy, theo phân tích của các nhà sử học như Taner Akçam dựa trên hồ sơ tòa án quân sự Ottoman thời hậu chiến, được Talat Pasha cho phép tuyển hơn 10.000 tù nhân từng bị kết án giết người, hiếp dâm và cướp bóc, đổi lại quyền tự do nếu tham gia tiêu diệt người Armenia và chiếm đoạt tài sản của họ.
Tại nhiều địa phương, nạn nhân bị dìm chết dưới sông, xô từ các vách núi, đóng đinh trên cây thập tự hoặc thiêu sống, theo các ghi chép của nhân chứng và nhà ngoại giao nước ngoài thời đó.
Để ngăn người Hồi giáo che chở nạn nhân, chính quyền ban hành sắc lệnh quy định hình phạt tử hình bằng treo cổ và phá hủy nhà cửa đối với bất kỳ ai chứa chấp người Armenia, dù trên thực tế một số người Turk, Kurd và Arab vẫn lặng lẽ cứu giúp hàng xóm của mình bất chấp rủi ro.
Một làn sóng tàn sát thứ hai diễn ra từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1916, sau khi Talat Pasha lo ngại số người Armenia còn sống sót trong các trại tại Syria có thể trở về quê cũ sau chiến tranh. Hơn 200.000 người bị giết trong làn sóng này, chủ yếu tại khu vực gần Deir ez Zor và lưu vực sông Khabur, những nơi hẻo lánh được lựa chọn để thi thể nạn nhân không gây ra vấn đề y tế công cộng cho khu vực đông dân hơn.
Số liệu về thiệt hại nhân mạng trong cuộc diệt chủng Armenia khác nhau tùy nguồn, phương pháp tính và việc có tính cả người Armenia tại vùng Caucasus thuộc Nga hay không.
Hồ sơ riêng của Talat Pasha, được vợ ông trao cho nhà báo Murat Bardakçı năm 1983 và xuất bản sau đó, cho thấy hơn 970.000 người Armenia biến mất khỏi số liệu dân cư chính thức trong các năm 1915 và 1916, còn nhà sử học Thổ Nhĩ Kỳ Yusuf Hikmet Bayur dẫn số liệu chính thức đương thời là khoảng 800.000 người Armenia và 200.000 người Hy Lạp chết do trục xuất hoặc trong các tiểu đoàn lao động.
Các nhà sử học chuyên về diệt chủng như Taner Akçam, Raymond Kevorkian và Peter Balakian, dựa trên hồ sơ lãnh sự, giáo hội và khảo sát theo từng tỉnh, đưa ra các ước tính phổ biến trong khoảng 1 đến 1,5 triệu người, với một số công trình mở rộng phạm vi thời gian đến năm 1923 và tính thêm các cộng đồng Armenia vùng Caucasus đưa con số lên gần 2 triệu.
Dân số Armenia tại lãnh thổ Ottoman giảm từ khoảng 2 triệu người năm 1914 xuống dưới 400.000 người vào năm 1922.
Đối với người Hy Lạp Pontus tại khu vực ven Biển Đen, công trình "The Thirty-Year Genocide: Turkey's Destruction of Its Christian Minorities, 1894-1924" của Benny Morris và Dror Ze'evi ước tính khoảng 350.000 người thiệt mạng trong giai đoạn 1914 đến 1923, một con số một số công trình khác điều chỉnh khác đi tùy phạm vi địa lý và mốc thời gian được tính, cùng với khoảng 1,5 triệu người Hy Lạp nói chung tại Anatolia bị trục xuất sang Hy Lạp trong cuộc trao đổi dân cư Hy Lạp Thổ Nhĩ Kỳ năm 1923.
Đối với người Assyria, gọi trong tiếng bản địa là Sayfo, con số 250.000 đến 300.000 người chết trên tổng dân số trước chiến tranh khoảng 500.000 đến 600.000 người ban đầu do đoàn đại biểu Assyro Chaldean trình tại Hội nghị Hòa bình Paris năm 1919, một con số mang mục tiêu chính trị nhất định vào thời điểm đó, nhưng nghiên cứu học thuật sau này của nhà sử học David Gaunt nhìn chung xác nhận khoảng ước tính này thay vì điều chỉnh đáng kể.
Khác với chiến dịch nhắm vào người Armenia, vai trò của chính quyền trung ương Ottoman trong các cuộc tàn sát người Assyria ít trực tiếp hơn, với các lực lượng địa phương, đặc biệt là các bộ lạc Kurd được huy động qua tuyên truyền thánh chiến, đóng vai trò chủ động hơn.
Bên cạnh số người thiệt mạng, các nghiên cứu ước tính khoảng 100.000 đến 200.000 phụ nữ và trẻ em Armenia bị cưỡng bức cải sang Hồi giáo và đưa vào các gia đình Hồi giáo trong quá trình trục xuất, một hình thức xóa bỏ bản sắc dân tộc song song với việc tàn sát trực tiếp.
Trong quá trình áp giải các đoàn người trục xuất, lực lượng hiến binh và một số cư dân địa phương còn tổ chức buôn bán phụ nữ và trẻ em gái Armenia như nô lệ tình dục cho các gia đình Hồi giáo, một thực tế được nhiều nhân chứng đương thời ghi nhận song song với hiện tượng cưỡng bức cải đạo.
Nam giới Armenia trong tuổi quân dịch bị tách khỏi đơn vị chiến đấu ngay từ đầu chiến dịch và đưa vào các tiểu đoàn lao động, nơi nhiều người chết vì điều kiện lao động khắc nghiệt hoặc bị hành quyết sau khi hoàn thành công việc, qua đó loại bỏ trước tiên lực lượng có khả năng kháng cự của các cộng đồng bị nhắm tới.
Song song với việc tàn sát con người, nhiều nhà thờ và tu viện của người Armenia, Hy Lạp và Assyria bị phá hủy hoặc chuyển đổi công năng, còn hàng loạt địa danh có gốc Hy Lạp hoặc Armenia bị đổi sang tên Thổ Nhĩ Kỳ, xóa bỏ dấu vết vật chất và hành chính về sự hiện diện lâu đời của các cộng đồng này trên bán đảo Anatolia.
4. Sự tái phân bổ tài sản
Việc các cộng đồng thiểu số Kitô giáo nắm giữ vị thế kinh tế vượt trội, hậu quả trực tiếp từ cấu trúc hạn chế nghề nghiệp của hệ thống millet, tạo ra một động cơ kinh tế song hành với động cơ chính trị an ninh trong chiến dịch trục xuất và tàn sát.
Tài sản, nhà cửa và cơ sở kinh doanh của người bị trục xuất bị tịch thu theo các quy định đi kèm Luật Tehcir, qua đó tái phân bổ một phần đáng kể của cải đô thị sang tay tầng lớp Hồi giáo Turk mới nổi lên sau chiến tranh.
Theo các tài liệu lưu trữ được công bố sau này, của cải động sản tịch thu từ nạn nhân tại nhiều khu vực được chia theo tỷ lệ gần như cố định: một phần ba cho người trực tiếp thực hiện vụ giết người, một phần ba cho chính quyền địa phương và phần còn lại chuyển về Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ, biến hành vi tham gia tàn sát thành một cơ chế khuyến khích vật chất có tổ chức.
Mô hình tịch thu tài sản gắn với việc loại bỏ một nhóm dân cư bị gán nhãn chính trị là kẻ phản bội hoặc tay sai ngoại bang là một khuôn mẫu xuất hiện lặp lại trong nhiều dự án xây dựng nhà nước thế kỷ XX, từ các chiến dịch tịch thu tài sản tầng lớp thương nhân thiểu số tại nhiều quốc gia mới độc lập đến các phong trào tái phân bổ ruộng đất và tư liệu sản xuất theo những hệ tư tưởng cách mạng khác nhau.
Điểm chung giữa các trường hợp này không nằm ở nội dung tư tưởng, mà ở cơ chế vận hành, theo đó việc gán nhãn chính trị cho một nhóm dân cư nắm giữ kinh tế tạo điều kiện hợp thức hóa việc tước đoạt tài sản của họ.
Mức độ quan trọng tương đối giữa động cơ kinh tế, an ninh thời chiến và chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong việc khởi phát các cuộc diệt chủng này vẫn là vấn đề được giới sử học tiếp tục tranh luận, thay vì có một cách giải thích đơn nhất được toàn bộ giới nghiên cứu chấp nhận.
Phần lớn người sống sót sau các cuộc trục xuất và tàn sát trở thành người tị nạn không quốc tịch, phân tán tới nhiều khu vực trên thế giới như Pháp, Lebanon, Syria, Hy Lạp, Hoa Kỳ và Argentina, nơi họ hình thành các cộng đồng tha hương mới. Tại những nơi này, nhà thờ và các tổ chức cộng đồng trở thành trung tâm bảo tồn ngôn ngữ, tôn giáo và ký ức tập thể qua nhiều thế hệ.
Một nhóm sống sót khác ít được ghi nhận là những phụ nữ và trẻ em bị cưỡng bức cải đạo và sáp nhập vào các gia đình Hồi giáo, buộc phải đổi tên và từ bỏ ngôn ngữ gốc. Một số hậu duệ của nhóm này chỉ phát hiện nguồn gốc Armenia, Hy Lạp hoặc Assyria của ông bà mình trong những thập niên gần đây, qua nghiên cứu gia phả hoặc xét nghiệm DNA.
Đối với những người Armenia, Hy Lạp và Assyria còn ở lại trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ sau năm 1923, đời sống cộng đồng chịu sự giám sát chặt chẽ và nhiều hạn chế về việc sử dụng ngôn ngữ và thực hành tôn giáo công khai.
Dân số Armenia tại Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay được ước tính chỉ còn khoảng 60.000 người, tập trung chủ yếu tại Istanbul, so với khoảng 2 triệu người trước năm 1915.
5. Ký ức lịch sử và chính sách của nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại
Luật sư người Do Thái gốc Ba Lan Raphael Lemkin đặt ra thuật ngữ diệt chủng trong cuốn sách Axis Rule in Occupied Europe xuất bản năm 1944, một phần lấy cảm hứng từ vụ ám sát Talat Pasha năm 1921 và số phận người Armenia trong Thế chiến thứ nhất, nhưng theo các phân tích về quá trình hình thành khái niệm của ông, Lemkin còn dựa trên nghiên cứu về chính sách của Đức Quốc xã đối với người Do Thái và nhiều chính sách cưỡng bức đồng hóa hoặc tiêu diệt các dân tộc thiểu số khác mà ông quan sát trong sự nghiệp luật học của mình.
Khái niệm pháp lý về diệt chủng do đó chưa tồn tại vào thời điểm các sự kiện 1915 đến 1923 diễn ra, một yếu tố góp phần khiến các cuộc tàn sát này thiếu một khung khổ truy tố quốc tế tương ứng với Tòa án Nuremberg sau này.
Ngay sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, chính phủ Ottoman hậu chiến từng tổ chức Tòa án Quân sự Đặc biệt xét xử vắng mặt các lãnh đạo Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ, tuyên án tử hình đối với 18 người, trong đó có Talat, Enver và Cemal, dù chỉ ba người trong số họ sau đó thực sự bị hành quyết.
Đại Vizia Damat Ferid Pasha khi đó công khai xác nhận khoảng 800.000 công dân Ottoman gốc Armenia đã chết do chính sách của nhà nước, phát biểu rằng "nhân loại và các nền văn minh đang run rẩy, và mãi mãi sẽ còn run rẩy, trước thảm kịch này".
Talat Pasha bị ám sát tại Berlin năm 1921, Enver Pasha tại Trung Á năm 1922 và Cemal Pasha tại Tiflis năm 1922, cả ba đều là nạn nhân của Chiến dịch Nemesis do Liên đoàn Cách mạng Armenia tổ chức, chứ không phải bị hành quyết qua lệnh của tòa.
Sự công nhận này không kéo dài lâu: sau khi phong trào dân tộc Thổ do Mustafa Kemal lãnh đạo giành thắng lợi và thành lập nền Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ năm 1923, các bản án bị xóa bỏ và lập trường chính thức của nhà nước chuyển hẳn sang phủ nhận quy mô và bản chất có chủ đích của các sự kiện 1915.
So với nạn diệt chủng người Do Thái dưới thời Nazi, các cuộc diệt chủng tại Anatolia ít được biết đến rộng rãi hơn vì nhiều lý do mang tính cấu trúc.
Sự kiện diễn ra đồng thời với Thế chiến thứ nhất nên dễ bị lu mờ trước quy mô tàn phá toàn cầu của cuộc chiến, trong khi các cộng đồng nạn nhân bị trục xuất hoàn toàn khỏi vùng đất xảy ra sự kiện nên mất khả năng duy trì bằng chứng và ký ức tập thể tại chỗ.
Khác với cộng đồng người Do Thái tại châu Âu sau Thế chiến thứ hai, các cộng đồng tha hương Armenia, Hy Lạp và Assyria trong nhiều thập niên đầu thiếu nguồn lực tổ chức để vận động công nhận quốc tế ở quy mô tương đương, một phần do chính họ cũng phải tái lập đời sống từ con số không tại các quốc gia mới.
Hiệp ước Sèvres ký năm 1920 giữa Ottoman và các cường quốc Đồng minh, dự kiến phân chia phần lớn lãnh thổ Anatolia cho Armenia, Hy Lạp và các cường quốc châu Âu, không bao giờ được thực thi do thắng lợi của phong trào dân tộc Thổ dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal, và bị thay thế bằng Hiệp ước Lausanne năm 1923.
Trải nghiệm về nguy cơ bị chia cắt lãnh thổ này hình thành nên điều mà các nhà nghiên cứu chính trị gọi là hội chứng Sèvres, một tâm lý nghi ngờ thường trực đối với các thế lực phương Tây, tiếp tục ảnh hưởng đến cách nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ nhìn nhận các yêu cầu công nhận diệt chủng từ bên ngoài.
Điều 301 Luật Hình sự Thổ Nhĩ Kỳ, có hiệu lực từ năm 2005 và quy định hình phạt tù đối với hành vi công khai xúc phạm bản sắc Thổ, đã được sử dụng để truy tố nhiều nhà văn và nhà báo thảo luận công khai về các sự kiện 1915.
Nhà văn Orhan Pamuk bị truy tố năm 2005 sau khi phát biểu trên một tạp chí Thụy Sĩ rằng "Thirty thousand Kurds have been killed here, and a million Armenians", trước khi vụ án bị bãi bỏ. Nhà báo gốc Armenia Hrant Dink, từng bị kết án theo Điều 301 vào tháng 10 năm 2005, bản án bị tòa phúc thẩm giữ nguyên vào tháng 5 năm 2006, bị một phần tử dân tộc chủ nghĩa cực đoan sát hại vào tháng 1 năm 2007.
Lập trường phủ nhận chính thức của nhà nước không đồng nghĩa với sự đồng thuận tuyệt đối trong giới học thuật Thổ Nhĩ Kỳ.
Nhà sử học Taner Akçam, gốc Thổ Nhĩ Kỳ, là học giả Thổ đầu tiên công khai thừa nhận diệt chủng Armenia từ những năm 1990 và đã xuất bản nhiều công trình dựa trên văn khố chính phủ Ottoman, trong đó có "A Shameful Act" năm 1999, dù phải sống lưu vong và từng bị các phần tử dân tộc chủ nghĩa cực đoan đe dọa tính mạng.
Một số học giả và nhà báo Thổ Nhĩ Kỳ khác, trong đó có Ümit Kurt, Fatma Müge Göçek và Hasan Cemal, chắt của Cemal Pasha, một trong ba lãnh đạo Ủy ban Liên hiệp và Tiến bộ chịu trách nhiệm chính về diệt chủng, cũng công khai thừa nhận sự kiện này dưới các góc độ khác nhau, cho thấy không nên đồng nhất toàn bộ xã hội Thổ Nhĩ Kỳ với lập trường phủ nhận của nhà nước.
Cơ chế phủ nhận của nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ khác về bản chất so với các mô hình kiểm soát ký ức dựa chủ yếu vào kiểm duyệt công nghệ thông tin. Thay vì ngăn chặn việc tiếp cận thông tin, Ankara duy trì các viện nghiên cứu và hội thảo học thuật chính thức nhằm sản xuất và phổ biến các diễn giải lịch sử thay thế, cho rằng thiệt hại nhân mạng năm 1915 là hậu quả của chiến tranh và bệnh dịch chứ không phải một chính sách tiêu diệt có chủ đích, song song với việc áp dụng Điều 301 để hạn chế diễn ngôn đối lập trong nước.
Tính đến năm 2025, 34 quốc gia trên thế giới, trong đó có Pháp, Đức, Nga và từ năm 2021 cả Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Joe Biden, chính thức công nhận các sự kiện 1915 đến 1923 là diệt chủng đối với người Armenia, một con số có thể thay đổi theo thời gian do các tranh luận chính trị nội bộ tại một số nước.
Nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục bác bỏ cách gọi này, khẳng định rằng thiệt hại nhân mạng là hậu quả của điều kiện chiến tranh và xung đột song phương chứ không phải một chính sách tiêu diệt có chủ đích.

