• KIDS GARAGE SALE | WHEN: Sat & Sun, Aug 29-30, 8:30 AM - 3:00 PM | WHERE: Ponita Cafe, 198B Nguyen Van Huong, Thao Dien

Hồ Chí Minh và mối lương duyên ngắn ngủi giữa Việt Minh - OSS

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,629
Reaction score
0
Points
36
Hồ Chí Minh và mối lương duyên ngắn ngủi giữa Việt Minh - OSS

1. Một mối quan hệ mở

Trong những tháng cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ giữa Việt Minh và Hoa Kỳ hình thành trong bối cảnh Nhật Bản kiểm soát Đông Dương, hệ thống thuộc địa Pháp bị suy yếu và các cơ quan tình báo Đồng minh cần xây dựng mạng lưới hoạt động tại Đông Dương.

Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 do Hồ Chí Minh chủ trì tại Pác Bó (Cao Bằng), Đảng đã quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (gọi tắt là Việt Minh). Việt Minh lúc đó không có trợ giúp quân sự lẫn kinh tế từ bên ngoài.

Tháng 8.1942, khi sang Trung Quốc bắt liên lạc với Đồng minh, Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam hơn một năm.

Tháng 9.1943, biết Hồ Chí Minh là người có thực lực và uy tín cao, Trương Phát Khuê (tướng của Tưởng Giới Thạch) đã thả tự do cho Hồ Chí Minh và đề nghị tham gia cải tổ, làm lãnh đạo Việt Cách. Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) là tổ chức tạp nham do Nguyễn Hải Thần làm lãnh đạo, gồm các chính trị gia lưu vong, dựa dẫm vào thế lực quân Tưởng để làm "quân bài" tràn về Việt Nam, phục vụ ý đồ chính trị của Trung Quốc

Hồ Chí Minh đã khôn khéo đồng ý. Hồ Chí Minh mượn danh nghĩa hợp pháp của tổ chức Việt Cách tại Trung Quốc để nhận một ít kinh phí, thuốc men, tài liệu từ Trương Phát Khuê. Tuy nhiên, số tài nguyên này sau đó đã được Hồ Chí Minh tìm cách chuyển về nước để nuôi dưỡng, củng cố cho lực lượng mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng, biến âm mưu lợi dụng của quân Tưởng thành lợi thế cho cách mạng Việt Nam

Từ năm 1944 đến tháng 8 năm 1945, một loạt cuộc tiếp xúc giữa Hồ Chí Minh, Việt Minh với các nhân viên tình báo Mỹ đã dẫn tới việc trao đổi thông tin, cứu phi công Mỹ, cung cấp một số vũ khí và tổ chức huấn luyện quân sự tại Việt Bắc.

Mối quan hệ này chủ yếu xuất phát từ những mục tiêu trước mắt của hai phía.
- Với OSS và các cơ quan tình báo Mỹ hoạt động từ Trung Quốc, Việt Minh có thể cung cấp thông tin về quân đội Nhật, tình hình thời tiết, tuyến giao thông và hỗ trợ tìm kiếm, đưa các phi công Mỹ bị bắn rơi ra khỏi vùng do Nhật kiểm soát.
- Với Việt Minh cần được người Mỹ biết đến như một lực lượng chống Phát xít Nhật ở Đông Dương. Việc thiết lập quan hệ với người Mỹ tạo thêm một kênh tiếp xúc quốc tế và khả năng tiếp nhận vũ khí, trang thiết bị cùng hỗ trợ huấn luyện.

Trong cuốn: Why Vietnam? của Archimedes Patti, một sỹ quan tình báo của lực lượng OSS (Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ), người đã tiếp xúc với Hồ Chí Minh vào năm 1943 tại Trùng Khánh, Trung Quốc có đoạn:
“Nhờ có đầu óc phân tích, bản chất thực dụng và một sự thông hiểu sâu sắc tình hình chính trị thế giới, ông Hồ đã rất sớm rút ra kết luận phải tranh thủ cảm tình của nước Mỹ.

Ông đã xác định được không thể coi Trung Quốc như là một Đồng minh và thậm chí còn hơn thế nữa, có thể trở thành đối kháng. Ông đoán trước sẽ không có một sự ủng hộ tích cực về phía nước Nga “anh dũng” đối với kế hoạch giành độc lập của ông, bởi ngay sau khi thắng trận họ đã bị kiệt sức vì chiến tranh.

Trong khối Đồng minh phương Tây, các nước thục dân như Anh, Pháp và cả Hà Lan - sẽ nhất tề không thể nào khác được trong việc chống lại cuộc vận động chống chủ nghĩa thực dân của ông. Đối với những nước này thì chỉ có việc đẩy mạnh công cuộc đề kháng. Trong suy nghĩ của ông, nhất định là khi có cơ hội, Pháp sẽ đòi lại Đông Dương làm thuộc địa.

Chỉ còn có Mỹ, một khả năng cuối cùng của ông"


2. Hoạt động của Mỹ tại Đông Dương
Ngày 29 tháng 7 năm 1941, Pháp và Nhật ký Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, cho phép quân đội Nhật Bản sử dụng gần như toàn bộ các sân bay và cảng biển quan trọng tại Đông Dương, và chính thức công nhận sự hiện diện của người Nhật tại khu vực.

Mỹ có mạng lưới tình báo GBT (đặt theo tên 3 người điều hành là Laurence Gordon, Harry Bernard và Frankie Tan) hoạt động rất mạnh tại Đông Dương để cung cấp tin tức cho quân Đồng minh. Tuy nhiên, ngày 9.3.1945, Nhật đảo chính Pháp và loại bỏ bộ máy thuộc địa Pháp khỏi quyền kiểm soát thực tế, mạng lưới GBT tại Việt Nam đã bị quét sạch và tê liệt.

Một số đơn vị quân đội Pháp tại Bắc Kỳ đã rút chạy lên vùng biên giới Việt - Trung và khẩn thiết xin quân Đồng Minh (Mỹ) ném bom hỗ trợ cũng như tiếp tế vũ khí. Điều này khiến người Mỹ phải trực tiếp thực hiện các phi vụ ném bom đánh phá các tuyến giao thông và tiếp tế của quân đội Nhật ở Đông Dương.

Tuy nhiên, Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS) - tiền thân của CIA ngày nay - đã rơi vào tình thế "mù" thông tin tại khu vực này. Trong khi thành công của các cuộc tiến công ném bom phụ thuộc hoàn toàn vào các báo cáo thời tiết chính xác từ bên trong Đông Dương, cũng như thông tin tình báo về các hoạt động chuyển quân, căn cứ và kho tàng của Nhật. Ngoài ra, một mạng lưới tình báo ở Đông Dương cũng rất cần thiết để giải cứu các phi công Mỹ khi máy bay bị bắn hạ hoặc rơi, che giấu họ khỏi quân Nhật, và nếu có thể, đưa họ ra khỏi Đông Dương trở về Trung Quốc.

Trung úy Charles Fenn lúc bấy giờ là một sĩ quan của Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS), được biệt phái sang làm việc cho AGAS (Cơ quan Hỗ trợ Không - Lục quân, chuyên trách cứu hộ phi công). Được giao nhiệm vụ tìm kiếm một lực lượng bản địa có thể thu thập tình báo chống Nhật, đẩy Fenn vào thế bắt buộc phải tìm một lực lượng thay thế GBT.

3. Món quà gặp mặt
Trước đó vào ngày 11.11.1944, Trung úy Rudolph C. "Rudy" Shaw, một phi công của Phi đoàn Tiêm kích 26, thuộc Liên đoàn Tiêm kích 51 của Không lực 14 Không lực Lục quân Hoa Kỳ, có căn cứ đặt tại vùng Hoa Nam, Trung Quốc, phải nhảy dù xuống địa phận Cao Bằng sau khi máy bay của ông gặp trục trặc về động cơ.

Trung úy Shaw may mắn rơi đúng vào khu vực Việt Minh hoạt động và được chăm sóc chu đáo, vì Hồ Chí Minh nhận thấy đây là cơ hội ông sẽ trực tiếp gặp được người Mỹ, và Shaw sẽ là bằng chứng thể hiện sự hợp tác của Việt minh với Mỹ để chống Nhật.

Mười ngày sau, Shaw nhận được lá thư từ Ủy ban Trung ương Việt Minh chào mừng Shaw và thông báo "chúng tôi đã ra lệnh cho Căn cứ địa của chúng tôi tại Cao Bằng tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ tính mạng của ngài và hộ tống ngài ra biên giới Bắc Kỳ - Trung Quốc", đồng thời đề nghị Shaw giúp xây dựng tình hữu nghị vững mạnh giữa Hoa Kỳ và Việt Minh.

Đầu tháng 3.1945, Hồ Chí Minh đã trực tiếp cùng đi và chỉ đạo đưa trung úy Shaw vượt qua biên giới về lại Tập đoàn không quân số 14 của Hoa Kỳ tại Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc.

Đến giữa tháng 3.1945, Shaw được Hồ Chí Minh đưa về Côn Minh an toàn. Ngay khi biết Hồ Chí Minh đang có mặt ở Côn Minh, Charles Fenn đã lập tức chủ động sắp xếp các cuộc gặp vào tháng 3.1945 để đặt vấn đề hợp tác, biến Việt Minh thành mạng lưới tình báo thay thế hiệu quả nhất cho GBT tại chiến trường Bắc Kỳ.

Trong nhật ký ngày 17.3.1945 của mình, trung uý Fenn đã kể lại cuộc gặp gỡ đầu tiên với ông Hồ:
“Ông Hồ đến với một người đàn ông trẻ tên Phạm. Ông Hồ không giống như tôi tưởng. Đầu tiên là ông không thực sự “già”: chòm râu điểm bạc thể hiện tuổi tác của ông, nhưng gương mặt ông đầy sinh khí và đôi mắt sáng có thần.

Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp. Có vẻ như ông ấy đã gặp Hall, Glass và De Sibour (tên các sĩ quan của OSS), nhưng chẳng đi được đến đâu với bất kỳ ai trong số họ. Tôi hỏi ông ấy muốn gì từ họ. Ông nói - chỉ là việc công nhận tổ chức của ông (Việt Minh). Tôi đã nghe loáng thoáng rằng đây là tổ chức cộng sản và hỏi ông về điều này. Ông Hồ nói người Pháp gọi bất kỳ người An Nam nào muốn được độc lập là cộng sản.

Tôi kể cho ông về cồng việc của chúng tôi và hỏi liệu ông có muốn giúp một tay. Ông đáp điều đó có thể, nhưng ông không có nhân viên điện báo hay bất kỳ thiết bị nào. Chúng tôi thảo luận về việc đưa vào Đông Dương thiết bị radio, máy phát điện và một nhân viên điện báo. Ông Hồ nói máy phát điện sẽ gây nhiều tiếng ồn - người Nhật thì lúc nào cũng vây quanh. Chúng ta không thể dùng loại máy chạy pin, như loại người Trung Quốc vẫn dùng sao? Tôi giải thích rằng chúng quá yếu cho hoạt động tầm xa, nhất là lúc gần hết pin.

Tôi hỏi ông ta muốn gì để đổi lại cho việc giúp đỡ chúng tôi. Vũ khí và thuốc men, ông ấy nói. Tôi đáp rằng vũ khí thì khó, bởi vướng phía người Pháp. Chúng tôi thảo luận về vấn đề người Pháp. Ông Hồ khẳng định rằng Việt Minh chỉ chống lại người Nhật.

Tôi ấn tượng với cách nói chuyện gãy gọn, sự điềm tĩnh như thiền định của ông, trừ những cử động của ngón tay sạm màu nhăn nheo. Phạm ghi chép lại. Chúng tôi đồng ý có thêm những cuộc gặp mặt khác. Họ ghi tên mình bằng chữ Hán, mà phiên âm ra là Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh”.

Ngày 20.3, tại quán cafe Đông Dương trên phố Chin Pi:
"Ông Hồ cũng muốn gặp Chennault. Tôi đồng ý sắp xếp việc này nếu ông ấy đồng ý không đòi hỏi bất kỳ điều gì từ Chennault, dù là hàng tiếp tế hay lời hứa hỗ trợ nào đó. Ông Hồ đồng ý."

Cuộc gặp với Chennault diễn ra vài ngày sau đó:
“Bernard và tôi đến đón ông Hồ vào 10 giờ 30 ngày 29/3 cho cuộc hẹn lúc 11 giờ.

Tôi để ý thấy ông Hồ đã đơm lại mấy cái cúc mất tích trên chiếc áo khoác bông, rõ là để mừng cho dịp này. Khi đến phòng tiếp tân của Chennault, chúng tôi được cho biết vị tướng đang tiếp khách. Trong lúc đó, cô thư ký xuất hiện và cam đoan sẽ không mất nhiều thời gian.

Năm phút sau chúng tôi được đưa vào văn phòng của Chennault, ở đó Doreen mang đến hai chiếc ghế trong khi Chennault tự mang vào chiếc ghế thứ ba, vô cùng “khách khí”. Rồi ông ấy tới ngồi sau chiếc bàn làm việc to bằng cái giường đôi.

Một bộ năm kì khôi: Chennault trong bộ quân phục cài huân chương bảnh bao; Bernard trong bộ quần áo kaki; tôi với cái áo khoác bụi vải ga-ba-đin và mũ hải quân; ông già Hồ mặc áo trùm bông và xăng đan; Doreen với bộ cánh kaki chắc được may ở Đại lộ Năm và được mang sang đây bằng máy bay.

Chennault nói với ông Hồ rằng ông rất biết ơn việc ông Hồ đã cứu giúp người phi công Mỹ. Ông Hồ đáp rằng ông ấy luôn vui lòng giúp đỡ người Mỹ và đặc biệt là giúp Tướng Chennault, người mà ông ấy có sự ngưỡng mộ rất lớn. Họ trao đổi về phi đội Hổ Bay. Chennault rất hài lòng khi vị khách biết về phi đội.

Chúng tôi nói về việc cứu nhiều phi công hơn. Không ai nói gì về người Pháp hay về chính trị. Tôi khẽ thở phào khi chúng tôi chuẩn bị ra về.

Thế rồi ông Hồ nói ông ấy có một đề nghị nho nhỏ muốn hỏi vị tướng. Gương mặt Bernard như hiện lên dòng chữ ‘Đến rồi đây’. Nhưng tất cả những gì ông Hồ muốn chỉ là một bức ảnh của vị tướng. Không có gì làm Chennault thích hơn là tặng ảnh của mình. Thế là ông ta nhấn chuông, Doreen lại bước vào. Lần này có thêm vài cô gái trình ra một tập gồm tám đến mười bức ảnh láng bóng. ‘Mời ông chọn’, Chennault nói.

Ông Hồ lấy một tấm và hỏi vị tướng có vui lòng ký lên nó được không. Doreen đưa một chiếc bút Parker 51 và Chennault viết lên mép dưới, “Thân mến, Claire L. Chennault”. Và rồi chúng tôi kéo nhau ra về.

Như chúng tôi rồi sẽ biết sau đó, sau này ông Hồ đã biến ra phép thuật bằng cách vẩy tấm ảnh ấy như vẩy chiếc đũa thần. Nhưng Chennault không bao giờ nghe được chuyện ấy."

2. Trở về căn cứ địa
Nhận được báo cáo của Chenault từ Côn Minh, Giám đốc Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ, Thiếu tướng William J. Donovan, đã đồng ý cho phép OSS/GBT tiến hành nhiệm vụ tại Đông Dương và đồng ý cho hợp tác với Việt Minh của Hồ Chí Minh.

Trung úy OSS Charles Fenn được giao nhiệm vụ duy trì liên lạc từ Côn Minh tới Việt Minh. Khi Fenn đến gặp ông Hồ để nói về việc sắp đặt cho chuyến trở về Pắc Bó, Hồ Chí Minh hỏi Fenn thêm một yêu cầu nữa: sáu khẩu súng lục tự động Colt-45 mới cứng còn nguyên giấy bọc.

OSS đã cử hai chuyên viên của tổ chức GBT - sĩ quan tình báo người Mỹ gốc Hoa tên Frankie Tan và chuyên gia về điện đài Mac Shin, để hỗ trợ. Tháng 4 năm 1945, Hồ Chí Minh trở về trước, Phạm Văn Đồng ở lại Côn Minh làm người liên lạc. Mac Shin và Frankie Tan được máy bay quân sự Mỹ đưa từ Côn Minh đến biên giới Trung Quốc - Việt Nam phía bắc Cao Bằng, vào ngày hôm sau.

Từ Cao Bằng, Tan và Mac Shin hợp nhóm cùng với 20 thành viên Việt Minh được chọn để huấn luyện tình báo và một nhóm nhân viên bảo vệ, họ mang theo nhiều thiết bị liên lạc bí mật vượt qua biên giới về Pắc Bó, căn cứ địa cách mạng. Sau đó, cả nhóm tiếp tục xuyên qua núi rừng Việt Bắc, tránh các đội tuần tra của quân Nhật, bám theo các cơ sở cách mạng, và tháng 5 năm 1945 tới căn cứ địa Tân Trào.

Theo hồi ký của Fenn, đã ghi nhận chuyện của Tan sau thiết lập được liên lạc điện tuyến với Côn Minh:
"Anh ấy kể rằng con đường khó khăn hiểm trở này cuối cùng dẫn họ tới căn cứ của ông Hồ trong hang Pác Bó: Một cái lều đơn sơ ngay bên cửa thác nước. Chính cái lều này là nơi thành viên Việt Minh đến hội đàm.

“Theo đánh giá của tôi”, Tan viết, “tổ chức này khá mạnh mẽ và có đến vài trăm người tham gia. Trước khi rời Ching Hsi tôi có được các nhà chức trách Trung Quốc cảnh báo rằng hầu hết Việt Minh là đảng viên cộng sản, và chúng tôi cần phải biết rõ mình đang dấn thân vào điều gì. Nhưng cũng tự nhiên thôi nếu họ nhìn mọi thứ theo quan điểm của Quốc Dân Đảng”.

Lúc ấy người Pháp cũng làm om sòm về chuyện chúng tôi làm việc với ông Hồ và tôi bị gọi lên AGAS để trình báo cáo. Khi báo cáo này được gửi tới GHQ, chúng tôi được hướng dẫn tiếp tục hành động bất kể điều gì."

3. Hợp tác bước đầu
Do yêu cầu bảo mật và sở thích văn chương lấy theo tên nhân vật Shakespeare, Charles Fenn đặt mật danh cho Hồ Chí Minh là Lucius, trong khi Fenn mang mật danh Hamlet. Lucius có nhiệm vụ cung cấp các thông tin tình báo ở Bắc Kỳ cho GBT và OSS thông qua Fenn.

Ngày 16 tháng 5 năm 1945, một đội SO (Special Operation), có bí danh Con Nai, được thành lập dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Allison K. Thomas. Đội Con Nai bao gồm bảy thành viên:
• Thiếu tá Allison K. Thomas - chỉ huy trưởng
• Trung úy Rene J. Défourneaux - phó chỉ huy trưởng (dùng bí danh Raymond Douglas khi ở Việt Nam)
• Thượng sĩ Nhất William F. Zielski - điện đài viên
• Trung sĩ Tham mưu Lawrence R. Vogt - chuyên viên vũ khí
• Trung sĩ Aaron Squires - nhiếp ảnh gia chiến trường
• Binh nhất Henry A. Prunier - thông dịch viên tiếng Việt
• Binh nhất Paul Hoagland - quân y


Nhiệm vụ hàng đầu của Đội Con Nai là ngăn chặn các tuyến liên lạc của Nhật, đặc biệt là đường sắt và hệ thống đường bộ của Pháp trong khu vực Hà Nội - Lạng Sơn. Nhiệm vụ thứ yếu là "hoạt động với du kích quân" và "báo hiệu mục tiêu cho lực lượng không quân".

Ngày 16 tháng 7, Thomas nhảy dù xuống khu vực lân cận làng Tân Trào, Kim Lũng cùng hai thành viên đầu tiên của Đội Con Nai là Binh nhất Henry Prunier và Thượng sĩ William Zielski. Nhảy dù cùng với các thành viên Đội Con Nai là ba phái viên người Pháp, một sĩ quan cấp Trung úy tên là Montfort, và hai "đại diện" của quân đội Pháp; Trung sĩ Logos, một người Pháp lai Á và Trung sĩ Phác, một người Pháp gốc Việt.

Buổi sáng ngày 16 tháng 7 năm 1945, sáu thành viên Đội Con Nai lên một chiếc máy bay C-47 Dakota, nhưng khi tới nơi viên phi công không thể nhìn thấy những chiếc khăn trắng làm ám hiệu cho biết mặt đất bên dưới là khu vực an toàn. Cuối cùng, Thomas và những thành viên khác đều đánh liều nhảy xuống.

Tới mặt đất, trong khi đang thu xếp dù, họ nhìn thấy vài chục người tiến đến, không rõ là người Trung Quốc hay Việt Nam. Đa số là các thiếu niên, ngoại trừ một người thấp hơn, mặc áo vải lanh màu trắng, đi giày đen, đội mũ phớt màu đen, được mọi người gọi là "Anh Văn." Sau này các thành viên Nhóm Con Nai mới được rằng biết tên thật của ông là Võ Nguyên Giáp.

Trong khi người Mỹ được đối xử tử tế thì những người Pháp đi cùng đoàn lại không được như vậy. Dù được cảnh báo trước về "mối căm thù của Việt Minh với người Pháp", Thomas vẫn chấp nhận cho người Pháp nhảy dù cùng đội của ông xuống Tân Trào.

Khi Đội Con Nai vừa chạm đất, ba người Pháp đã nhanh chóng bị phát hiện. Montfort bị một cán bộ Việt Minh, người đã phục vụ dưới quyền anh ta trong quân đội thuộc địa Pháp, nhận ra; Phác bị nhận diện trước tiên như một người ủng hộ Pháp và sau đó là "thành viên của một đảng thân Tàu, Việt Nam Quốc dân Đảng".

Do đó, khi Thomas, Prunier và Zielski được hộ tống qua lối đi có mái vòm bằng tre thì ba người kia bị Việt Minh quây chặt, buộc Frank Tan phải can thiệp.

Ghi nhận về sự việc này, hồi ký của Fenn có viết:
"Lá thư đầu tiên tôi nhận được từ ông Hồ báo rằng OSS đã gửi đến trong nhóm của họ những người đã hợp tác với những người Pháp thân với chính phủ Vichy, những người bài Việt Nam hơn là bài Nhật, vậy sự thật về chính sách của Mỹ rốt cuộc là gì? Lời chất vấn này không sao có câu trả lời, trừ việc nhận rằng chính nó là sự thật."

Có nhận xét rất thú vị của Fenn khi phân tích về con người Hồ Chí Minh qua lá thư của Hồ Chủ Tịch gửi tới Fenn trong đoạn hồi ký dưới đây của ông:
"Chúng tôi sắp xếp để ông Hồ gửi tới cho chúng tôi một vài người để tập huấn, được giải thích trong bức thư tiếp theo tôi nhận từ ông:
“Tôi sẽ rất biết ơn ông về sự chiếu cố đến các thanh niên của chúng tôi. Tôi mong họ có thể học được về điện tín và những thứ cần thiết khác cho cuộc chiến chung của chúng ta trước người Nhật. Tôi hi vọng ông sớm có thể tới thăm căn cứ của chúng tôi. Điều đó sẽ rất tốt! Cho phép tôi gửi sự kính trọng của mình đến Tướng Chennault”.

Những lá thư đầu tiên này được viết tay với cây bút mực ngòi thép trên tấm giấy gạo Trung Hoa. Một trong những tiêu chí đánh giá phái viên tôi thấy hữu ích và chính xác nhất là đánh giá tính cách qua chữ viết. Bản phân tích chữ viết tay của ông Hồ sau đây được thực hiện không chút thiên vị về người chúng tôi làm việc cùng.

Đặc trưng cơ bản là sự giản dị, mong muốn khiến mọi thứ rõ ràng, tính tự chủ đáng nể. Biết cách giữ bí mật. Gọn ghẽ, có nguyên tắc, khiêm tốn, không hứng thú với việc chưng diện hoặc phô trương. Tự tin và đường hoàng. Hòa nhã nhưng cương quyết. Trung trực, chân thành và rộng lượng, có thể làm bạn tốt. Quảng giao, dễ hòa hợp với người khác. Đầu óc phân tích sắc sảo, khó bị đánh lừa. Cho thấy thiện ý khi đặt câu hỏi. Giỏi đánh giá nhân vật. Tràn đầy nhiệt huyết, năng lượng và sáng kiến. Tỉ mỉ, chịu khó chú ý đến tiểu tiết. Trí tưởng tượng cao, quan tâm đến mỹ học, nhất là văn học. Có khiếu hài hước tốt.

Điểm yếu: Lối giao thiệp có trù định trước. Có lúc tâm trạng bất định hoặc ngoan cố”.

Người đưa tin của Hồ Chí Minh, sau khi gửi bức thư tiếp theo tới Fenn, đã có cuộc nói chuyện rất dài với Fenn, nội dung được ghi nhận trong hồi ký của Fenn sau đó:
"Đại ý những chuyện anh ta kể với tôi:
“Bởi Bác Hồ đi xa đã lâu, đã có tin đồn rằng Bác đã chết. Tin khác lại nói Bác đã đến Mỹ. Thế rồi đột nhiên chúng tôi nghe tin Bác đã đến Ching Hsi bằng máy bay Mỹ. Chúng tôi khó mà tin được điều đó. Sau đó Bác về căn cứ, mang theo anh bạn người Mỹ gốc Hoa cũng như anh nhân viên điện báo và tất cả các loại vũ khí, tốt hơn bất kỳ loại nào người Pháp hay người Nhật có. Bác Hồ về, rất ốm sau một quãng đường trường đi bộ gian khổ, đi suốt hai tuần, chỉ đi ban đêm, hầu như hôm nào cũng mưa. Khi Bác đủ khỏe, Bác mời tất cả lãnh cao cấp cao đến hội nghị, không chỉ người của Bác mà cả những đối thủ từ những tổ chức khác. Bác nói với họ giờ Bác đã có sự bảo đảm hỗ trợ từ người Mỹ, có cả Chennault. Lúc đầu không một ai tin. Rồi bác đưa ra tấm ảnh Chennault đã ký “Thân mến”. Sau đó bác lấy mấy khẩu súng lục tự động và tặng mỗi vị lãnh đạo một khẩu làm quà. Những vị ấy cho rằng Chennault đã tự mình gửi những món quà này. Sau hội nghị ấy, không còn lời nào về việc ai là lãnh đạo cao nhất nữa”.

Ngay sau đó, chúng tôi thả xuống một loạt hàng tiếp tế: Các bộ radio, thuốc men, phụ tùng, vũ khí. Hầu như đều là tiếp từ OSS, vì họ có cả kho những đồ này.

Theo như Tan, việc thả hàng tiếp tế như vậy tạo sự xúc động trong quần chúng và tín nhiệm đối với ông Hồ càng lên cao. AGAS không đồng ý cho tôi đi, vậy nên chúng tôi cử xuống đó một sĩ quan AGAS trẻ tên Phelan. Anh ta rất miễn cưỡng nhận nhiệm vụ này khi nghe rằng ông Hồ là một người cộng sản.

Trong vòng một tuần sau khi đến nơi, anh ta gửi về một bức điện chứng minh rằng ông Hồ không có chút cộng sản nào: Chúng tôi đều đã hiểu sai. Ví dụ như trong một bức điện của anh:
“Thương lượng lại với người Pháp. Ông đang hiểu lầm thái độ của Việt Minh. Họ không bài Pháp. Đơn thuần là yêu nước. Xứng đáng được tin tưởng và hỗ trợ hoàn toàn”.

Robert Shaplen trích một đoạn Phelan gửi anh ta sau đó, mô tả căn cứ của ông Hồ: “Bốn lều, mỗi lều 20 mét vuông, cách bốn dặm rừng tre, lều của ông Hồ cũng đơn sơ như những người khác”. Trong những điều Phelan nhắc đến, có việc ông Hồ hỏi lời khuyên của anh ấy về lời mở đầu trong Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, những lời mà ông muốn đưa vào Tuyên ngôn của mình. “Nhưng thật ra ông ấy có vẻ còn hiểu rõ về những lời đó hơn cả tôi”. Phelan nói. Khi bắt đầu nhiệm vụ Phelan quạu cọ với chúng tôi vì ông Hồ là người cộng sản, giờ thì anh ấy lại kết luận với Shaplen bằng những lời thế này, “Ông ấy có duyên kinh khủng. Nếu tôi phải chọn lấy một phẩm chất của ông già bé nhỏ ngồi trên gò đất giữa rừng ấy, tôi sẽ chọn tính hòa nhã của ông ấy”.

Ngày 29 tháng 7, đợt thả quân bổ sung thứ hai được tiến hành, bao gồm Trung úy Rene Defourneaux, Trung sĩ Tham mưu Lawrence Vogt, Trung sĩ Aaron Squires, Binh nhất quân y Paul Hoagland.

Vừa tiếp đất an toàn, 4 thành viên mới đã được Võ Nguyên Giáp cùng các thành viên Mỹ nhảy dù đợt một hân hoan chào đón. Họ nhanh chóng di chuyển về lán trại được Việt Minh dựng sẵn bằng tre nứa (chỉ cách lán Nà Nưa của Hồ Chí Minh khoảng 60 mét). Cả đội không được gặp Thomas và Prunier cho tới đêm hôm sau; hai người này lúc đó đi trinh sát vị trí phòng thủ của Nhật tại Chợ Chu, nơi Thomas muốn lập kế hoạch tấn công, nhưng chiến tranh đã kết thúc trước khi ông có cơ hội làm điều đó.

Cùng ngày 29.7, do Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp tỏ sự không tin tưởng các sĩ quan người Pháp và người Pháp gốc Việt trong nhóm, Thomas quyết định cho ba người rời khỏi đội của ông. Ngay sau khi đợt lính Mỹ thứ hai xuống, ngày 30.7, Montfort, Phác và Logos rời Tân Trào và trà trộn vào một nhóm người Pháp tị nạn về Tam Đảo để được đưa về Trung Quốc.

Khi đợt lính Mỹ thứ hai xuống, Hồ Chí Minh không thể có mặt để trực tiếp chào đón họ. Lúc này, Hồ Chí Minh đang lâm bệnh rất nặng trong lán Nà Nưa (được chẩn đoán là sốt rét ác tính phối hợp với sốt thương hàn).

Đến ngày 3 tháng 8, Hồ Chí Minh vẫn không xuất hiện. Một vài thành viên trong đội, gồm Défourneaux và Paul Hoagland, quyết định đi vào ngôi làng gần đó để gặp Hồ Chí Minh và xem ông có cần giúp đỡ gì không. Nhờ sự có mặt kịp thời của quân y Mỹ Paul Hoagland trong đợt thả quân này, ông đã phối hợp cùng các thầy thuốc địa phương tiêm thuốc ký ninh (Quinine) và sulfa để điều trị tích cực cho Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã qua cơn nguy kịch sau khoảng mười ngày, và có thể đứng lên đi lại bình thường.

Cũng trong ngày 29.7.1945, để gia tăng áp lực lên quân Nhật, OSS còn thả thêm một toán tình báo thứ hai mang bí danh Đội Con Mèo (Cat Team) xuống khu vực miền Bắc, gồm Đại úy Charles M. Hollan, Trung sĩ John Burrowes và Trung sĩ John L. Stoyka.

Do có nhiệm vụ riêng biệt với Đội Con Nai, nên sau cuộc gặp gỡ với các cán bộ Việt Minh, họ lập tức di chuyển vào rừng, lập trại riêng và thực hiện nhiệm vụ của mình.

Nhóm Con Mèo bị quân Nhật bắt sống vào giữa tháng 8 năm 1945. Stoyka, vốn là một cựu binh từng hoạt động ở sau phòng tuyến quân đội Đức Quốc Xã tại Pháp, đã trốn thoát được. Những người dân làng Việt Nam đã cứu giúp anh và đưa anh về trại của Đội Con Nai. Holland và Burrowes may mắn sống sót qua chiến tranh và được người Nhật thả tự do tại Hà Nội vào ngày 31 tháng 8 năm 1945. Tại đó, họ được Hồ Chí Minh chào đón nồng nhiệt với tư cách là những người đại diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

5. Mỹ cung cấp vũ khí và huấn luyện cho Việt Minh
Ngay sau ngày 29.7, khi nhân sự và lượng vũ khí hiện đại (súng trường M1 Garand, Thompson, súng chống tăng Bazooka) đã được thả xuống đầy đủ, Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để tổ chức một đại đội gọi là Bộ đội Việt - Mỹ.

Đội Con Nai và các chỉ huy Việt Minh đã lập tức bắt tay vào thành lập Đại đội Việt - Mỹ, với quân số của đại đội khoảng 200 người để tiến hành khóa huấn luyện quân sự cấp tốc. Đàm Quang Trung làm Đại đội trưởng, Thiếu tá Thomas là Tham mưu trưởng,

Trong vòng một tuần, đã xây dựng xong trại huấn luyện gồm ba doanh trại dành cho bộ đội Việt Minh, một doanh trại dành cho lính OSS, một phòng họp, một nhà bếp, một kho hàng, một trạm xá và trụ sở liên lạc, một trường bắn rộng khoảng 140m², và một khu vực huấn luyện ngoài trời. Cuối bãi huấn luyện có một cây cao được dùng làm cột treo cờ Việt Minh.

Trong thời gian ở tại chiến khu Tân Trào, các thành viên toán Con Nai tập trung huấn luyện cho đại đội Việt - Mỹ sử dụng vũ khí và chiến thuật du kích. Ngoại trừ Zielski làm nhiệm vụ liên lạc điện đài, tất cả các thành viên của Đội Nai đều tham gia huấn luyện cho Việt Minh.

Thomas đã mang theo những cuốn giáo trình huấn luyện của quân đội Hoa Kỳ về cách sử dụng vũ khí Mỹ và đợt huấn luyện bắt đầu ngày 9 tháng 8 - ba ngày sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima.

Không hề hay biết về sự kiện trên, Đội Con Nai tiếp tục huấn luyện cho Việt Minh để chuẩn bị cho cuộc chiến chống Nhật. Bộ đội Việt Minh được huấn luyện cách sử dụng súng M1 Garand, M1 Carbine, M1928/M1/M1A1 Thompson, súng chống tăng M9 Bazooka, và súng máy các loại. Chương trình huấn luyện gồm phép đo đạc tam giác, tập bắn, vệ sinh vũ khí, và cách sử dụng súng cối và lựu đạn.

Từ ngày 10 tháng 8, ba chuyến máy bay vận tải C-47 Dakota đã thả nhiều loại vũ khí, trang thiết bị và đồ y tế cho lực lượng tại Tân Trào.

Ước tính người Mỹ đã thả một khẩu đại liên, hai súng cối M2 60 mm, bốn súng chống tăng M9 Bazooka, tám súng máy Bren, 20 tiểu liên Thompson, 60 súng trường M1903 Springfield, 60 súng M1 Carbine, 20 súng ngắn Colt, một số ống nhòm và các tài liệu huấn luyện của Lục quân Hoa Kỳ về chiến tranh du kích. Ngoài ra còn một số vũ khí được đưa vào bằng đường bộ cùng Frankie Tan và Mac Shin trước đó.

Tổng thời gian nhóm OSS dành để huấn luyện người Việt chỉ kéo dài ít tuần trong tháng 7 và tháng 8. Ngoài Võ Nguyên Giáp, nhóm còn huấn luyện kĩ năng chỉ huy cho một số chỉ huy quân sự cấp cao khác, trong đó có Đàm Quang Trung, Hoàng Văn Thái và Vũ Lập. Trang thiết bị được thả dù xuống Việt Bắc vào ba vị trí thả đồ tiếp tế của Đội Con Nai, kết hợp với những loại vũ khí nhẹ do Việt Minh chế tạo tại những nhà máy quân khí đơn sơ của họ trong rừng, đã tạo thành một đội quân được trang bị vũ khí đầy đủ.

Henry Prunier đã nhận xét "Đây là một nhóm được tinh tuyển từ nhiều nơi khác nhau tại Việt Nam. Họ hoàn toàn không phải là những người nông dân tầm thường".

6. Mối lương duyên ngắn ngủi
Hoạt động của Đội Con Nai và các nhóm OSS tại Việt Bắc diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn. Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, Mỹ sử dụng bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki; ngày 15 tháng 8, Nhật Bản tuyên bố chấp nhận đầu hàng. Khi Nhật Bản đầu hàng, mục tiêu quân sự trực tiếp của OSS tại Đông Dương thay đổi.

Việt Minh nhanh chóng mở rộng hoạt động chính trị và quân sự trong khoảng trống quyền lực hình thành sau khi bộ máy Nhật Bản tan rã. Trong khi đó, lực lượng Đồng minh chuẩn bị tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật tại Đông Dương theo sự phân chia khu vực. David G. Marr trong Vietnam 1945: The Quest for Power nghiên cứu giai đoạn này như một quá trình cạnh tranh quyền lực giữa nhiều lực lượng Việt Nam và quốc tế, trong đó sự sụp đổ của Nhật Bản tạo ra một khoảng trống chính trị đặc biệt trong năm 1945.

Đến tháng 9 năm 1945, OSS không còn duy trì vai trò như trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật. Tổ chức OSS được giải thể vào cuối tháng 9 năm 1945 và các hoạt động của Mỹ tại Việt Nam chuyển sang một bối cảnh hoàn toàn khác. Quan hệ từng được hình thành giữa OSS và Việt Minh trong năm 1945 vì thế không phát triển thành một liên minh chính trị - quân sự lâu dài.

Sau khi thiết lập mật danh Lucius và đạt được thỏa thuận với OSS/AGAS, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho toàn bộ các chiến khu phát động phong trào toàn dân tham gia cứu hộ phi công Mỹ: Việt Minh đã phát tờ rơi và hướng dẫn cho người dân vùng chiến khu nhận biết máy bay Đồng minh. Tờ rơi ghi rõ bằng tiếng Việt: "Binh lính Mỹ là bạn của ta. Người nào giải cứu được phi công Mỹ là một Việt Minh chân chính".

Thêm ít nhất 16 phi công và nhân viên quân sự Mỹ khác sau đó đã được du kích Việt Minh tìm thấy, cấp quần áo, chữa trị vết thương, nuôi giấu tại các hang đá cách mạng rồi hộ tống an toàn qua các tuyến đường rừng sang Vân Nam để bàn giao cho phía Mỹ.

Mạng lưới giải cứu phi công này hoạt động hiệu quả đến mức Bộ Ngoại giao Mỹ thời kỳ đó phải thừa nhận: Việt Minh là lực lượng duy nhất tại Đông Dương có khả năng và thiện chí cứu sống các phi công Mỹ bị nạn.

Đoạn cuối của hồi ký, Fenn đã viết:
Tôi có bức thư cuối từ ông Hồ, đề “tháng 8/1945”, viết ngay sau khi quả bom nguyên tử rơi xuống Hiroshima (ngày 6.8):
“Chiến tranh đã kết thúc. Thế là tốt cho tất cả mọi người. Tôi lấy làm tiếc rằng các bạn Mỹ của chúng tôi sẽ phải sớm rời đi. Và họ rời khỏi đất nước này cũng có nghĩa là mối quan hệ của tôi và ông sẽ khó khăn hơn.

Cuộc chiến đã thắng lợi. Nhưng những nước nhỏ và chịu lệ thuộc như chúng tôi nhận được những phần rất ít, rất nhỏ bé trong chiến thắng của tự do và dân chủ. Có lẽ, nếu chúng tôi muốn nhận được phần xứng đáng, chúng tôi vẫn còn phải chiến đấu nữa. Tôi tin rằng sự đồng tình của ông và của những người Mỹ sẽ luôn ở bên chúng tôi.

Tôi cũng chắc rằng sớm hay muộn, chúng tôi sẽ đạt được mục tiêu của mình, bởi nó đáng phải như thế. Và đất nước của chúng tôi sẽ độc lập. Tôi mong chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ khác, ở Đông Dương hoặc ở Mỹ!”


Định mệnh đã an bài chúng tôi không gặp lại nhau. Với quả bom nguyên tử rơi xuống và việc chấm dứt hoạt động của AGAS, công việc ở Đông Dương coi như đã hoàn thành."
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới


Nguồn tham khảo

[*]Archimedes L. A. Patti, Why Vietnam? Prelude to America’s Albatross, University of California Press, Berkeley, Los Angeles, London, 1980. Bản tiếng Việt: Tại sao Việt Nam?, NXB Đà Nẵng, 1995.
[*]Charles Fenn, Ho Chi Minh: A Biographical Introduction, Studio Vista, London, 1973.
[*]Dixee R. Bartholomew-Feis, The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan, University Press of Kansas, 2006.
[*]David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power, University of California Press, 1995.
[*]U.S. National Park Service, OSS in Action: The Pacific and the Far East.
[*]U.S. National Park Service, Office of Strategic Services in Action: Chapter 9 – Indochina.
[*]Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, Tập 2 (1930–9/1945).
[*]Allison K. Thomas, “Welcome to Our American Friends”, trong Strange Ground: Americans in Vietnam, 1945–1975: An Oral History, 1989.
[*]Hồ sơ và tài liệu của Office of Strategic Services (OSS) liên quan đến hoạt động tại Đông Dương năm 1945.
[*]USAF in Vietnam: 1940–1959 Chronology, United States Air Force
 
Last edited:

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom