• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Kỹ trị là gì, và vì sao Trung Quốc chọn con đường này?

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,452
Reaction score
0
Points
36
Kỹ trị là gì, và vì sao Trung Quốc chọn con đường này?

1. Các mô hình quản trị cấp nhà nước

Trên thế giới hiện có nhiều mô hình quản trị khác nhau đang song song vận hành, mỗi mô hình đặt trọng tâm quyền lực và cách ra quyết định theo một hướng riêng.

Bốn phương pháp quản trị chính đang được áp dụng, cùng một xu hướng công nghệ mới nổi:
- Dân chủ Tự do, đại diện là Mỹ, Anh, Pháp, Đức, đặt quyền lực vào lá phiếu cử dân, ưu điểm là tự sửa lỗi cao và có báo chí, đối lập kiểm soát lạm quyền, nhược điểm là bế tắc chính trị do tranh cãi đảng phái và tầm nhìn ngắn hạn theo nhiệm kỳ bầu cử.

- Tập quyền hoặc Toàn trị, đại diện là Triều Tiên, Cuba, tập trung toàn bộ quyền lực vào một đảng độc tôn hoặc một cá nhân, khác với Kỹ trị vốn dùng chuyên gia và số liệu để ra quyết định. Ưu điểm của Tập quyền là huy động nguồn lực thần tốc và trật tự xã hội cao, nhược điểm là rủi ro dồn hết vào lãnh đạo và xói mòn tự do cá nhân.

- Dân túy, đại diện là Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary, dựa trên ý nguyện trực tiếp của đám đông chống lại tầng lớp tinh hoa mà họ cho là hủ bại, bao gồm cả giới kỹ trị lẫn giới chính trị truyền thống, ưu điểm là đưa được bức xúc thực tế của dân vào nghị sự, nhược điểm là dễ ra chính sách kinh tế sai lầm và gây chia rẽ xã hội.

- Thần quyền, đại diện là Iran và một phần Ả Rập Xê Út, đặt quyền lực vào giáo sĩ và giáo lý, ưu điểm là gắn kết cộng đồng mạnh, nhược điểm là thiếu linh hoạt trước khoa học và giá trị hiện đại, đẩy người bất đồng ra bên lề.

Kỹ trị Thuật toán là sự tiến hóa của Kỹ trị truyền thống, khi thay vì để con người là chuyên gia ra quyết định, chính phủ bắt đầu giao việc phân bổ ngân sách, quy hoạch, chấm điểm tín nhiệm công dân cho trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, ưu điểm là khách quan và xử lý được khối lượng dữ liệu khổng lồ, nhược điểm là rủi ro hộp đen và nguy cơ mất kiểm soát của con người.

Ngoài bốn mô hình này, Kỹ trị theo nghĩa truyền thống là một mô hình quản trị riêng biệt, đặt quyền lực vào chuyên gia thay vì cử dân hay giáo sĩ.

Không có mô hình nào hoàn hảo tuyệt đối.
- Dân chủ mua sự sáng suốt và tự do bằng cái giá chậm chạp, tranh cãi.
- Kỹ trị và Tập quyền mua hiệu quả, tốc độ bằng cái giá tự do và nguy cơ sai lầm hệ thống.
- Dân túy mua cảm xúc đại chúng bằng cái giá bất ổn.


2. Xu hướng lựa chọn mô hình quản trị cấp quốc gia trên thế giới

Xu hướng hiện nay của các quốc gia là pha trộn để vừa có tính chính đáng từ dân bầu, vừa có hiệu quả từ kỹ trị, vừa giữ ổn định từ tập quyền ở mức độ nhất định.

Không có một mô hình quản trị nào phù hợp cho mọi quốc gia, sự phù hợp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm văn hóa xã hội, địa chính trị và năng lực thể chế hiện hữu.

Mô hình Kỹ trị phù hợp nhất với quốc gia đang đuổi bắt kinh tế, cần xây hạ tầng quy mô lớn, hoặc đô thị và thành bang quy mô vừa nhỏ như Singapore, UAE, Qatar, với điều kiện bắt buộc là bộ máy lãnh đạo phải liêm chính tuyệt đối, nếu không kỹ trị sẽ biến thành chủ nghĩa thân hữu.

Mô hình Dân chủ Tự do phù hợp nhất với nền kinh tế đã phát triển, xã hội đã phân hóa thành hàng nghìn nhóm lợi ích khác nhau, khi đó không nhóm kỹ trị hay chính phủ tập quyền nào đủ sức quyết định thay cho toàn xã hội. Mô hình Dân chủ Trực tiếp như Thụy Sĩ phù hợp nhất với quốc gia đa dạng ngôn ngữ, sắc tộc nhưng dân trí và ý thức công dân cực cao, để người dân tự quyết chính sách lớn qua trưng cầu dân ý.

Dưới góc nhìn của khoa học chính trị và kinh tế học phát triển quốc tế, tiêu biểu như các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Harvard Kennedy School, hay nhà lý luận Francis Fukuyama, mô hình tối ưu cho Việt Nam trong 10 đến 20 năm tới là mô hình thực dụng hỗn hợp, giữ ổn định chính trị ở thượng tầng, mở rộng không gian kỹ trị ở cấp điều hành, và tạo cơ chế phản biện xã hội đủ mạnh để cỗ máy kỹ trị không đi lệch hướng.

Trong số các mô hình trên, Kỹ trị là chủ đề trọng tâm của bài viết này. Kỹ trị, hiểu đơn giản, là chính quyền của các chuyên gia.

Nếu dân chủ truyền thống bầu lãnh đạo dựa trên sự yêu thích và lời hứa chính trị, thì kỹ trị chọn và cất nhắc lãnh đạo dựa trên trình độ chuyên môn, năng lực thực tế và kết quả công việc, giống cách một công ty tuyển nhân sự.

Quyết định dựa trên số liệu như tăng trưởng, sản lượng, lạm phát thay vì cảm xúc hay tranh luận lý thuyết, và thăng tiến gắn với chỉ số công việc cụ thể, một quan chức kỹ trị điển hình được giao chỉ tiêu theo kiểu "năm nay anh làm thị trưởng, anh phải giúp thành phố này tăng trưởng 7%, xây thêm 50km đường sắt, giảm 5% hộ nghèo, làm được thì lên chức, không làm được thì đứng sang một bên".

So sánh đơn giản, chính trị bầu cử giống chọn chủ tịch hội đồng quản trị bằng bỏ phiếu xem ai dễ thương nhất, còn kỹ trị giống tuyển tổng giám đốc bằng xem hồ sơ, bằng cấp và thành tích thực tế.

3. Singapore - Minh chứng thành công nhất của kỹ trị

Singapore thường được coi là ví dụ thành công nhất của kỹ trị kết hợp kiểm soát chính trị, hay dân chủ không tự do.

Dưới sự dẫn dắt của Lý Quang Diệu và Đảng Hành động Nhân dân, Singapore đưa kỹ trị thành triết lý sống còn, săn đón học sinh xuất sắc nhất từ trung học, trao học bổng du học, trả lương bộ trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới, và mọi chính sách từ nhà ở xã hội, thuế đường ô tô (ERP) đến nhập cư đều tính toán bằng dữ liệu chứ không dựa trên cảm xúc cử dân.

Đảng Hành động Nhân dân cầm quyền liên tục từ 1959 nhờ kiểm soát tinh vi, dùng luật khắt khe với đối thủ chính trị và báo chí bất lợi, đồng thời phân bổ nhà ở theo tỷ lệ sắc tộc để tránh xung đột.

Người dân Singapore được mô tả là chấp nhận một dạng kháng thể xã hội, tức nhượng bộ một phần tự do cá nhân và sự đa dạng chính trị để đổi lấy an toàn, tăng trưởng kinh tế cao và bộ máy công quyền sạch sẽ.

Các chuyên gia cho rằng mô hình này khó nhân rộng vì Singapore chỉ là thành bang 730 km² với 6 triệu dân, và vì thế hệ lãnh đạo đầu tiên liêm chính hiếm có, nếu rơi vào tay lãnh đạo yếu kém mô hình sẽ biến thành thảm họa độc tài.

Hệ thống thu hút nhân tài dựa trên triết lý phải tìm người giỏi từ khi còn trẻ và trả lương tương xứng thị trường tư nhân, quan điểm này được diễn đạt thẳng thắn là "muốn có kỹ sư, bác sĩ, CEO giỏi điều hành đất nước thì phải trả lương ngang với khu vực tư nhân".

Chính phủ tuyển học sinh xuất sắc nhất từ khoảng 18 tuổi qua Ủy ban Dịch vụ Công, cấp học bổng toàn phần tại các trường hàng đầu thế giới, đổi lại phải làm việc cho nhà nước 4 đến 6 năm và được luân chuyển qua nhiều bộ ngành trước tuổi 30.

Lương bộ trưởng lấy mức thu nhập trung bình của 1.000 người có thu nhập cao nhất Singapore rồi giảm 40% để thể hiện tinh thần phụng sự, gồm lương cố định và thưởng gắn với các chỉ số tăng trưởng GDP, thu nhập nhóm nghèo và thất nghiệp.

Một bộ trưởng cấp đầu vào theo mức công bố gần đây nhận khoảng 1,1 triệu đô la Singapore mỗi năm, mức này đã qua nhiều lần điều chỉnh và tranh luận công khai theo từng giai đoạn. Chính phủ lý giải mức lương cao triệt tiêu động cơ nhận hối lộ và tránh chảy máu chất xám, dù vẫn bị chỉ trích là tạo tầng lớp tinh hoa khép kín.

Cục Điều tra Hành vi Tham nhũng, CPIB, trực thuộc Văn phòng Thủ tướng nhưng có cơ chế song lập, nếu Thủ tướng từ chối cho điều tra, giám đốc CPIB có quyền báo cáo thẳng lên Tổng thống theo Điều 22G Hiến pháp Singapore.

CPIB được bắt giữ, khám xét mà không cần lệnh tòa, điều tra cả khu vực tư nhân và hành vi hối lộ ở nước ngoài, còn việc truy tố và xét xử tách riêng cho Viện Công tố và tòa án.

Nguyên tắc không vùng cấm thể hiện qua việc CPIB từng điều tra và đưa ra tòa các bộ trưởng như Wee Toon Boon, Teh Cheang Wan hay gần đây là cựu Bộ trưởng Giao thông S. Iswaran, lẫn chính nhân viên của mình, như vụ trợ lý giám đốc CPIB Edwin Yeo tham ô hơn 1,7 triệu đô la Singapore bị kết án 10 năm tù năm 2014, khi đó Giám đốc CPIB đương nhiệm cũng bị kỷ luật khiển trách vì để xảy ra sai phạm nội bộ.

Theo Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng của Transparency International năm 2024, Singapore xếp thứ 3 trong số 180 quốc gia ít tham nhũng nhất thế giới với 84 trên 100 điểm.

Chương trình nhà ở xã hội HDB giúp khoảng 80% dân số có nhà, tỷ lệ sở hữu gần 90%. Trụ cột là Đạo luật Thu hồi Đất năm 1966 cho nhà nước thu hồi đất giá thấp để xây chung cư bán gần giá gốc, nhờ đạo luật này quỹ đất thuộc sở hữu nhà nước tăng từ 44% năm 1960 lên hơn 80% hiện nay:
- Kết nối với Quỹ An sinh Bắt buộc để dân dùng tiền tiết kiệm trả góp nhà mà không cần tiền mặt,
- Sử dụng gói vay mua nhà với lãi suất ưu đãi cố định ở mức khoảng 2,6% một năm và cơ chế chống đầu cơ như bắt buộc ở tối thiểu 5 năm mới được bán lại,
- Trong phần lớn trường hợp mỗi hộ chỉ được sở hữu một căn HDB, dù quy định cụ thể về sở hữu, giữ nhà hay tài sản khác ngoài HDB còn tùy từng trường hợp.


Phần lớn nhà HDB được bán theo hình thức thuê 99 năm. HDB còn áp hạn ngạch sắc tộc trong từng tòa nhà để tránh hình thành khu vực đơn sắc tộc, từng là nguồn gốc xung đột của Singapore.

Mỗi thị trấn HDB như Toa Payoh, Tampines hay Jurong được quy hoạch như một thành phố thu nhỏ, với trạm xe buýt hoặc tàu điện ngầm, khu ẩm thực giá rẻ, trường học, trung tâm y tế và siêu thị đều nằm trong bán kính 500 mét quanh nhà.

4. Trung Quốc và mô hình Kỹ trị tập quyền

Trung Quốc kết hợp Tập quyền, Đảng nắm toàn bộ quyền lực, với Kỹ trị, dùng chuyên gia để quản lý.

Trung ương giao chỉ tiêu theo kế hoạch 5 năm, các tỉnh thành đua nhau thực hiện, tỉnh nào phát triển tốt hơn thì lãnh đạo tỉnh đó thường được cất nhắc lên trung ương, dù đây là một xu hướng chứ không phải cơ chế tuyệt đối và nhất quán trong mọi giai đoạn.

Các nhà nghiên cứu chính trị quốc tế, tiêu biểu là Daniel A. Bell trong cuốn The China Model, gọi đây là chính trị năng lực tập quyền. Vì không bị ràng buộc bởi chu kỳ bầu cử ngắn hạn hay đảo chiều đảng phái, Trung Quốc thực hiện được những quy hoạch kéo dài 10 đến 20 năm như đường sắt cao tốc, năng lượng sạch hay bán dẫn.

Giới lý luận Trung Quốc tránh mô hình tam quyền phân lập vì cho rằng nó dễ sa lầy trong tranh cãi, chậm ra quyết định và đảo ngược chính sách mỗi khi đổi đảng cầm quyền, đồng thời ngại chính trị gia chạy theo hứa hẹn ngắn hạn để lấy phiếu thay vì lợi ích chiến lược dài hạn.

Khi quy mô kinh tế ngày càng lớn, mô hình này bộc lộ rủi ro mang tính hệ thống.

Xu hướng tập trung quyền lực cao độ khiến trung thành chính trị đôi khi đè nén chuyên môn, giới kỹ trị địa phương có xu hướng bị động, thà không làm gì để không sai, và cấp dưới chỉ báo cáo số liệu đẹp khiến thông tin phản hồi từ thực địa bị bóp méo.

Điểm mạnh ra quyết định và thực thi nhanh cũng là điểm yếu chết người khi thượng tầng sai lầm, vì thiếu đối trọng độc lập như báo chí, tòa án hay đảng đối lập để phát hiện sớm, nên một chính sách sai có thể được thực thi hoàn hảo trên toàn quốc trước khi được đảo ngược, như trường hợp zero-COVID kéo dài hay siết chặt đột ngột ngành công nghệ, giáo dục tư nhân.

Mô hình thăng tiến bằng chỉ tiêu GDP và số dự án khiến địa phương vay nợ tràn lan qua các quỹ tài trợ để xây công trình kém hiệu quả, tạo ra khối nợ ẩn khổng lồ và hàng loạt thành phố ma.

Kỹ trị cũng giỏi đuổi kịp, nhân rộng mô hình có sẵn nhưng gặp khó khi chuyển sang đổi mới sáng tạo gốc, vốn cần tự do thử nghiệm và chấp nhận thất bại, trong khi tư duy tập quyền muốn quy hoạch và kiểm soát mọi rủi ro.

Hiện nay chính quyền đặt an ninh quốc gia và tự chủ công nghệ lên hàng đầu bên cạnh tăng trưởng kinh tế, buộc giới kỹ trị phải cân bằng hai mục tiêu trái ngược, khiến quyết định kinh tế kém linh hoạt hơn trước.

Trái tim vận hành cỗ máy kỹ trị tập quyền này là hệ thống đánh giá cán bộ, do Ban Tổ chức Trung ương Đảng chỉ đạo.

Mỗi năm, quan chức địa phương được giao các chỉ tiêu trách nhiệm cụ thể, chia thành ba nhóm:
- Nhóm kinh tế như tăng trưởng GDP,
- Nhóm thu ngân sách, xã hội môi trường như giảm nghèo và giảm ô nhiễm,
- Nhóm chỉ tiêu mà giới nghiên cứu thường gọi là chỉ số veto, tức các mục tiêu không được vi phạm như sự cố thảm khốc, biểu tình quy mô lớn hay tham nhũng nghiêm trọng, vi phạm nhóm này sẽ mất toàn bộ điểm số dù kinh tế tăng trưởng tốt đến đâu.

Các nhà kinh tế học gọi mô hình thăng tiến này là giải đấu cán bộ, một cách diễn giải phân tích chứ không phải thuật ngữ chính thức của nhà nước Trung Quốc, trong đó các quan chức cùng cấp thi đấu qua bảng xếp hạng, và cán bộ muốn lên cao thường phải kinh qua nhiều vị trí ở cả tỉnh nghèo lẫn tỉnh giàu để kiểm chứng năng lực.

Trong thập niên qua, dưới thời Tổng Bí thư Tập Cận Bình, hệ thống này trải qua tái cấu trúc lớn nhất kể từ thời Đặng Tiểu Bình, đặt tính chính trị lên hàng đầu bên cạnh năng lực kinh tế, và bổ sung các chỉ số tự chủ công nghệ, an ninh dữ liệu, kiểm soát nợ công địa phương.

Mặt trái là áp lực chỉ tiêu trong nhiệm kỳ 3 đến 5 năm khiến nhiều địa phương vay nợ tràn lan để xây công trình kém hiệu quả, hoặc làm đẹp số liệu và che giấu sự cố xấu với cấp trên.

5. Kỹ trị nhìn từ các trường hợp so sánh quốc tế

Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan có yếu tố kỹ trị mạnh trong giai đoạn cất cánh nhưng không phải nhà nước kỹ trị toàn diện, được xếp vào nhóm nhà nước phát triển, kết hợp bầu cử kiểu phương Tây với điều hành kinh tế bởi quan liêu tinh hoa.

Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp Nhật Bản, Ủy ban Kế hoạch Kinh tế Hàn Quốc dưới thời Park Chung-hee, và nhà kỹ trị kỳ cựu K.T. Li của Đài Loan, người từng giữ chức Bộ trưởng Kinh tế rồi Bộ trưởng không bộ và có vai trò then chốt trong việc lập Khu Công nghiệp Tân Trúc cùng thu hút TSMC, là ba minh chứng tiêu biểu.

Khác biệt cốt lõi giữa ba nước này với Trung Quốc và Singapore nằm ở việc ai là người quyết định cuối cùng, ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đó vẫn là lá phiếu cử dân và kỹ trị chỉ đóng vai trò cố vấn, còn ở Trung Quốc và Singapore chính trị gia chính là giới kỹ trị được thăng tiến từ trong hệ thống.

Ngày nay cả ba nước đã chuyển hoàn toàn sang dân chủ trưởng thành, tính kỹ trị trong bộ máy giảm đáng kể trước áp lực nhóm lợi ích và chu kỳ bầu cử.
- Tại Nhật Bản, bộ máy quan chức như Bộ Tài chính không còn giữ quyền lực tuyệt đối như trước, các chính trị gia và nhóm lợi ích như cử tri nông nghiệp thường xuyên can thiệp, làm chậm các cải cách kinh tế mang tính kỹ trị.
- Tại Hàn Quốc, cuộc cạnh tranh giữa cánh tả và cánh hữu khiến chính sách kinh tế bị đảo chiều liên tục mỗi 5 năm khi thay đổi tổng thống, thay vì đi theo một kế hoạch kỹ trị dài hạn.
- Tại Đài Loan, mối quan hệ với Trung Quốc và các tranh luận về năng lượng hạt nhân hay bán dẫn thường biến thành tranh cãi chính trị nảy lửa trên truyền thông và nghị viện, thay vì chỉ là bài toán kỹ thuật thuần túy.


So sánh riêng hai trường hợp Singapore và Trung Quốc, hai nước cùng theo đuổi triết lý thực dụng, thăng tiến quan chức theo năng lực và bác bỏ mô hình tam quyền phân lập, nhưng khác biệt giữa hai nước nằm ở quy mô và thể chế hơn là triết lý vận hành.

- Singapore là dân chủ không tự do với bầu cử đa đảng và thành bang nhỏ dễ kiểm soát, kinh tế mở hoàn toàn ra thế giới, nhân tài được tuyển từ phổ thông và trả lương thị trường, cơ chế tự sửa lỗi dựa trên lá phiếu và áp lực giữ vốn ngoại.
- Trung Quốc là nhà nước một đảng với 1,4 tỷ dân phải phân cấp cho các tỉnh, kinh tế kết hợp tập đoàn nhà nước với tư nhân hướng tới tự chủ chiến lược, lãnh đạo đi lên từ quản lý cơ sở qua trường Đảng, cơ chế tự sửa lỗi dựa trên giám sát nội bộ Đảng.

- Singapore vận hành như một tập đoàn đa quốc gia.
- Trung Quốc vận hành như một hệ thống máy móc quy mô lục địa luôn đặt an ninh quốc gia lên trên hết.


Ở một trường hợp khác trong khối dân chủ tự do, bộ máy Liên minh Châu Âu thường bị chỉ trích vì thâm hụt dân chủ. Ủy ban Châu Âu, tức chính phủ của EU, nắm độc quyền đề xuất luật nhưng gồm các ủy viên do chính phủ thành viên bổ nhiệm chứ không do dân bầu, trong khi Nghị viện Châu Âu là cơ quan duy nhất do dân bầu trực tiếp lại không có quyền tự khởi xướng luật.

EU ban hành hàng chục nghìn chỉ thị chi tiết bằng ngôn ngữ pháp lý phức tạp, các đàm phán luật quan trọng diễn ra trong họp kín, và Brussels là trung tâm vận động hành lang lớn thứ hai thế giới.

Với 24 ngôn ngữ chính thức, EU thiếu một không gian công cộng chung để dân toàn lục địa thảo luận chính sách, nên chính trị gia trong nước thường đổ lỗi cho Brussels khi chính sách gây bất mãn, góp phần vào làn sóng dân túy và sự kiện Brexit.

Cuối cùng, đặt cạnh một nước dân chủ đa đảng có quy mô dân số tương đương, Trung Quốc theo tập quyền kỹ trị, tăng trưởng dựa vào sản xuất, xuất khẩu và hạ tầng nhờ quyết định nhanh, GDP danh nghĩa năm 2024 khoảng 19,5 nghìn tỷ USD nhưng đang xử lý khủng hoảng bất động sản và nợ địa phương.

Ấn Độ theo dân chủ đa đảng, tăng trưởng dựa vào dịch vụ, công nghệ thông tin và tiêu dùng nội địa, chính sách chậm hơn vì cần đồng thuận đảng phái và các bang, GDP danh nghĩa khoảng 4 nghìn tỷ USD nhưng tốc độ tăng trưởng 6,5 đến 7% hiện vượt Trung Quốc nhờ dân số trẻ.

Trung Quốc giảm nghèo vượt bậc, theo chuẩn nghèo quốc gia qua nhiều giai đoạn hơn 800 triệu người đã thoát nghèo, nhưng kiểm soát xã hội chặt và tự do ngôn luận hạn chế.

Ấn Độ tiến độ giảm nghèo chậm hơn, bất bình đẳng và hệ thống đẳng cấp còn ảnh hưởng lớn, nhưng có xã hội dân sự sôi động và cơ chế thay đổi chính phủ qua bầu cử.

Trung Quốc đánh đổi tự do chính trị lấy hiệu quả thi hành, Ấn Độ đánh đổi tốc độ lấy đồng thuận và ổn định dài hạn, và khi kinh tế chuyển sang giai đoạn cần sáng tạo, mô hình Trung Quốc đối mặt rủi ro thiếu linh hoạt và già hóa dân số, còn Ấn Độ có lực lượng lao động trẻ làm động lực bứt phá.

6. Việt Nam và mô hình kỹ trị

Việt Nam chưa đạt chuẩn một cỗ máy kỹ trị toàn diện nhưng đang chuyển dịch mạnh theo hướng kỹ trị hóa. Nếu coi kỹ trị là thang đo từ 1 đến 10, Singapore hay Trung Quốc đạt khoảng 8 đến 9, Việt Nam hiện ở mức trung bình khoảng 5 đến 6.

Các dấu hiệu tiến gần kỹ trị gồm Đề án 06, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, căn cước công dân gắn chip, VNeID và ứng dụng dữ liệu lớn vào hành chính công, giúp quyết định quản lý dựa trên dữ liệu thực thay vì cảm tính.

Chiến dịch chống tham nhũng và chuẩn hóa tiêu chuẩn cán bộ giúp giảm cơ chế quen biết trong bổ nhiệm, và các siêu dự án như đường sắt cao tốc Bắc Nam, chiến lược bán dẫn, trí tuệ nhân tạo thể hiện năng lực quy hoạch dài hạn.

Các điểm nghẽn chính gồm hệ thống lương công chức chưa đủ cạnh tranh với khu vực tư nhân để giữ chân chuyên gia hàng đầu như Singapore hay Trung Quốc làm được, tâm lý thận trọng thà đứng yên còn hơn làm sai trong giai đoạn siết chặt thanh tra khiến cán bộ ngại thử nghiệm mô hình mới, tình trạng thủ tục hành chính và quy định đầu tư, đất đai còn chồng chéo khiến giới kỹ trị tốn thời gian xử lý thủ tục hơn là tập trung hiệu quả, cùng việc thiếu tổ chức tư vấn và báo chí phản biện độc lập để kiểm chứng dữ liệu, khiến cỗ máy kỹ trị dễ bị ngợp bởi báo cáo thành tích màu hồng từ cấp dưới.

Ngoài ra, hệ thống phân cấp tỉnh và trung ương phức tạp với hơn 60 tỉnh thành có đặc thù kinh tế khác nhau cũng khiến mô hình kỹ trị áp đặt từ trung ương dễ trở nên máy móc, không sát thực địa, khác với Singapore vốn chỉ là một thành phố. Hiện nay Việt Nam đã tinh giảm còn 34 đơn vị cấp tỉnh trên cả nước - bao gồm 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết sắp xếp năm 2025 - là bước đi chiến lược để đảm bảo vận hành bộ máy điều hành thuận lợi và hiệu quả hơn.

Về mặt tương thích, văn hóa Đông Á coi trọng sự học giúp người dân dễ chấp nhận quyết định từ giới chuyên môn, Việt Nam đang ở cửa sổ dân số vàng cần tập trung nguồn lực xây hạ tầng, và có sự đồng thuận xã hội cao về mục tiêu phát triển kinh tế, khác với các quốc gia bị chia rẽ sắc tộc hay tôn giáo.

Việt Nam không thể áp đặt hoàn toàn mô hình Singapore vì khác biệt quá lớn về quy mô và thể chế, nhưng kỹ trị hóa bộ máy hành chính được xem là con đường bắt buộc nếu muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Buddy Up - Văn hóa xã hội
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom