- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,671
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Mặt trận Vị Xuyên: Trận A6B và 11 ngày đêm kiên cường giữ chốt của quân đội Việt Nam
Trận tiến công cao điểm A6B (phía Trung Quốc gọi là cao điểm 211) diễn ra vào ngày 31.5.1985 tại mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang). Đây là một trong những trận đánh có ý nghĩa lịch sử đặc biệt của Quân đội nhân dân Việt Nam, ghi dấu mốc quan trọng trong việc thu hồi và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ bị đối phương lấn chiếm trước đó
Trung đoàn bộ binh 567, khi sang mặt trận Vị Xuyên mang phiên hiệu Trung đoàn 982, được giao trọng trách thực hiện mật danh tác chiến này. Cao điểm A6 gồm hai mỏm núi đá tai mèo. Mỏm A6A do lực lượng Việt Nam phòng ngự, còn mỏm A6B thấp hơn và cách chỉ vài chục mét, đã bị quân đối phương chiếm đóng. Việc nhổ hòn đá tảng A6B giúp loại bỏ bàn đạp lấn dũi của đối phương, tạo thế chủ động cho ta tại khu vực Thanh Thủy.
Sau khi chiếm được mục tiêu, bên phía Việt Nam thành công chống lại nhiều đợt phản kích với sự chi viện của toàn bộ hệ thống hỏa lực phía sau của Trung Quốc trong 11 ngày liên tục.
1. Bối cảnh trước trận đánh
Từ giữa năm 1984, quân Trung Quốc đã lấn chiếm và tổ chức chốt giữ nhiều vị trí, cao điểm chiến lược của Việt Nam dọc biên giới Vị Xuyên như 1509, 772, 685, 233.
Trực tiếp trước đó, trận phản kích quy mô lớn ngày 12.7.1984 - Chiến dịch MB84 - nhằm giành lại các cao điểm như 772, 233 đã không thành công và khiến ta chịu tổn thất lớn về lực lượng.
Sự ác liệt của bão lửa pháo binh đối phương cộng với việc đánh chiếm lại các cao điểm lớn liên tục thất bại khiến tư tưởng một bộ phận chiến sĩ xuất hiện tâm lý bi quan, cho rằng "địch đánh thì ta mất chốt, ta phản kích cũng không giữ được"
Khi cục diện tại mặt trận Vị Xuyên đang ở thế giằng co quyết liệt,Bộ chỉ huy Mặt trận Vị Xuyên, dưới sự chỉ đạo của các tướng lĩnh như Nguyễn Hữu An, Nguyễn Đức Huy nhận thấy cần tìm kiếm một phương thức tác chiến mới hiệu quả hơn.
Cần chọn mục tiêu vừa phải, "luồn sâu, đánh hiểm", đánh bất ngờ. Tiêu chí là chọn điểm chốt của địch có lực lượng vừa phải (cấp trung đội), nhưng khi ta đánh chiếm xong phải dễ dàng đưa lực lượng lên tăng cường, kịp thời chuyển vật liệu làm hầm hào công sự và thuận lợi cho việc tiếp tế lương thực, đạn dược.
2. Vị trí đặc biệt của Cao điểm A6B
A6B là một mỏm núi đá tai mèo lởm chởm thuộc sườn đông dãy 400, thuộc bờ tây sông Lô, xã Thanh Thủy. Nơi đây ba bề vách đá dựng đứng, có nhiều hang hốc tự nhiên thích hợp để trú ẩn.
Tình trạng quân sự khu vực này ở thế cài răng lược, hai bên đóng quân xen kẽ nhau ở khoảng cách rất gần. Quân Trung Quốc chiếm đóng mỏm A6B, trong khi bộ đội Việt Nam vẫn kiên cường bám trụ ở mỏm A6A ngay gần đó. Khoảng cách quá gần khiến hai bên thường xuyên dùng súng bộ binh bắn tỉa lẫn nhau.
Trung Quốc bố trí lực lượng tại chỗ tại A6B khoảng một trung đội tăng cường với hơn 50 quân. Do địa hình hẹp, phía Trung Quốc không thể rải quân đông hơn nhưng lại bố trí tới 10 ổ đề kháng theo hình xoáy trôn ốc từ chân lên đỉnh núi, trang bị hỏa lực rất mạnh, gồm đại liên, cối, B40, B41 và gài mìn dày đặc xung quanh.
Ngày 18.5.1985, Quân đoàn 67 của Trung Quốc được điều động ra mặt trận Vị Xuyên để thay phiên cho Quân đoàn 1.
Bộ Tư lệnh Mặt trận Việt Nam đã nhanh chóng chớp thời cơ khi đối phương mới lên tiếp quản trận địa, chưa thông thuộc địa hình, hệ thống thông tin liên lạc và phối hợp hỏa lực chưa hoàn toàn ổn định. Trận đánh mật danh M1 được phê duyệt nhằm giáng một đòn bất ngờ ngay khi địch đứng chân chưa vững.
3. Vì sao lại là Cao điểm A6B?
Cao điểm A6B được chọn làm mục tiêu cho trận đánh M1 nhờ hội tụ đủ các yếu tố chiến thuật tối ưu cho quân Việt Nam.
A6B nằm ở sườn đông dãy 400, có vị trí nhô hẳn về phía trước, có thể quan sát và kiểm soát trực tiếp ngã ba Thanh Thủy cùng các trục đường tiếp tế của Việt Nam. Địch chiếm giữ vị trí này sẽ liên tục gây nguy hiểm cho các chốt phòng ngự xung quanh.
Khoảng cách giữa chốt A6A phía Việt Nam giữ và A6B phía Trung Quốc giữ rất gần, có nơi chỉ cách nhau vài chục mét. Khoảng cách ngắn này cho phép chiến sĩ Việt Nam tiếp cận mục tiêu nhanh chóng, bất ngờ, hạn chế tối đa việc địch gọi pháo binh chi viện vì sợ pháo bắn trúng quân mình.
Phía sau A6B có hệ thống hang hốc tự nhiên sâu và kiên cố. Nếu quân đội Việt Nam chiếm được, địa hình này sẽ trở thành hầm trú ẩn hoàn hảo chống lại các trận bão pháo trả đũa sau đó của Trung Quốc, đồng thời giúp hậu cần dễ dàng vận chuyển bê tông, gỗ cọc lên củng cố công sự.
Quân số chiếm đóng của Trung Quốc tại đây chỉ ở quy mô khoảng một đại đội thiếu, khi chốt giữ trực tiếp khoảng 1 trung đội tăng cường, phù hợp với khả năng tiêu diệt gọn bằng một lực lượng tinh nhuệ của bộ đội Việt Nam trong thời gian ngắn.
4. Lực lượng chiếm đánh của quân đội Việt Nam
Để đảm bảo chắc thắng, Trung đoàn 567 - lúc này mang mật danh Đoàn 982 - không tung quân ồ ạt mà tổ chức lực lượng theo mô hình tinh gọn, thiện chiến nhất.
Đại đội 5 (C5) thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 567 được chọn làm lực lượng đột kích chính. Đây là đơn vị dày dặn kinh nghiệm, có kỷ luật cao và thông thuộc địa hình núi đá.
C5 được chia thành 3 mũi tấn công chính, áp sát từ 3 hướng để bao vây, chia cắt địch:
- Mũi 1 (Mũi chủ công): Đột kích trực diện từ chốt A6A sang, đánh thẳng vào cơ quan chỉ huy và các hang đá chính của địch trên đỉnh.
- Mũi 2: Vòng qua cánh phải, đánh chiếm các ổ đề kháng ở sườn đông, khóa chặt đường rút lui của địch về phía bên kia biên giới.
- Mũi 3: Đánh tạt sườn từ phía trái, tiêu diệt các hỏa điểm bắn tỉa và phối hợp cùng mũi 1 làm chủ trận địa.
Lực lượng chi viện và bảo đảm hỏa lực tại chỗ được bố trí các tổ súng máy B40, B41 và súng phun lửa đi cùng các mũi nhọn để dập tắt ngay lập tức các lô cốt, hang đá cố thủ.
Các trận địa pháo của Mặt trận và Trung đoàn được lệnh sẵn sàng thiết lập "lưới lửa" dày đặc, không phải để bắn vào A6B, mà để bắn chặn vào các con đường tiếp viện của địch từ phía sau và chế áp các trận địa pháo tầm xa của Trung Quốc.
Lực lượng công binh và vận tải chuẩn bị sẵn hàng trăm tấn gỗ, bao cát, dây thép gai và các khối bê tông đúc sẵn ngay tại chốt A6A. Nhiệm vụ của họ là ngay khi bộ đội làm chủ A6B, phải lập tức lao lên trong bão đạn để xây dựng hầm hào cố thủ, chuyển trận đánh từ thế tấn công sang phòng ngự kiên cố.
Quá trình chuẩn bị này diễn ra trong bí mật tuyệt đối. Bộ đội Việt Nam thậm chí đã dựng lại mô hình bãi đá tai mèo y hệt A6B ở tuyến sau để tập đi đêm không phát ra tiếng động, tập leo vách đá dựng đứng và tập đánh bộc phá vào hang sâu.
5. Bí mật tiếp cận dưới hỏa lực nghi binh
Rạng sáng ngày 31.5.1985, trận đánh mật danh M1 chính thức bùng nổ. Đây là một trong những trận đánh bất ngờ, chớp nhoáng và đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất trên mặt trận núi đá Vị Xuyên.
0:00 đêm 30.5, lợi dụng màn đêm đặc quánh và tiếng gầm vang của các loạt pháo bắn nghi binh ở các hướng khác, các chiến sĩ Đại đội 5 (C5) bắt đầu di chuyển.
Bộ đội Việt Nam cởi trần, mặc quần đùi, bôi nhọ nồi khắp người để ngụy trang. Các chiến sĩ bò, trườn qua những vách đá tai mèo sắc nhọn, gỡ từng quả mìn của địch. Khoảng cách giữa hai bên quá gần, đến mức các chiến sĩ có thể nghe thấy tiếng quân Trung Quốc ho và nói chuyện trong hang.
5:00 sáng 31.5, các mũi tấn công đã áp sát vị trí chỉ cách công sự địch từ 5 đến 10 mét, hình thành thế bao vây ba mặt, khóa chặt mọi lối ra vào hang.
5:25 sáng, hiệu lệnh tấn công phát ra. Từ các hướng, các chiến sĩ đồng loạt tung thủ pháo, lựu đạn và nổ súng B40, B41 thẳng vào các vọng gác và cửa hang.
Bị đánh bất ngờ ngay sáng sớm, quân Trung Quốc chốt giữ A6B hoàn toàn hoảng loạn, không kịp phản ứng hay dùng pháo binh chi viện. Mũi chủ công dùng súng phun lửa và bộc phá đánh sập các hang đá cố thủ.
Sau 30 phút, khoảng 5:55 sáng, Đại đội 5 hoàn toàn làm chủ cao điểm A6B, tiêu diệt gọn quân địch tại chỗ, bắt sống tù binh, thu giữ nhiều vũ khí mà không hy sinh một ai trong lúc đánh chiếm.
6. Các đợt phản kích của quân Trung Quốc
Sau khi mất cao điểm A6B (phía Trung Quốc gọi là cao điểm 211) vào tay Đại đội 5, Trung đoàn 567, chỉ trong vòng hơn 30 phút sáng ngày 31.5.1985, Bộ Tổng tham mưu và Quân đoàn 67 của Trung Quốc rơi vào trạng thái chấn động và tức tối. Để cứu vãn thể diện và giành lại vị trí chiến lược này, địch đã điên cuồng mở các đợt phản kích quy mô lớn với mật độ hỏa lực và quân số khủng khiếp. Trong đó có ba đợt phản kích quy mô cực lớn.
Đợt 1 diễn ra ra từ 31.5 - 1.6.1985
Ngay buổi trưa ngày 31.5, sau khi xác định mất chốt, Trung Quốc huy động hàng chục trận địa pháo tầm xa bắn không ngớt hàng vạn quả đạn xuống đỉnh A6B. Sức ép của pháo lớn làm nát vụn các khối đá tai mèo, bụi đá bay mù mịt, sườn núi chuyển sang màu trắng xóa.
Đêm 31.5 rạng sáng 1.6, lợi dụng hỏa lực pháo bắn dọn đường, Trung Quốc tung lực lượng cấp đại đội liên tục mở các đợt tiến công áp sát từ hướng cao điểm 255 và 227 sang.
Các chiến sĩ Đại đội 5 ẩn nấp an toàn trong các hang đá tự nhiên, chờ bộ binh địch bò lên khi còn cách 10-15m, mới đồng loạt tung lựu đạn, nổ súng máy đánh bật địch xuống thung lũng.
Đợt hai vào ngày 11.6.1985 diễn ra giao tranh đỉnh điểm khốc liệt.
Sau nhiều ngày phản kích nhỏ lẻ không thành, ngày 11.6.1985, Sư đoàn 199 thuộc Quân đoàn 67 Trung Quốc tổ chức một cuộc tấn công tổng lực quy mô cấp Trung đoàn dưới sự chi viện tối đa của pháo binh.
Địch bắn hàng chục nghìn quả pháo trong nhiều giờ liền để cô lập hoàn toàn A6B với tuyến sau của Việt Nam, không cho hậu cần tiếp tế. Sau đó, từng làn sóng bộ binh địch ồ ạt tràn lên từ nhiều hướng.
Địch đông gấp nhiều lần, có lúc đã tràn được lên đỉnh chốt, chia cắt các tổ chiến đấu của quân Việt Nam. Cuộc chiến diễn ra giành giật từng mỏm đá, từng cửa hang. Bộ đội Việt Nam dùng bộc phá, súng phun lửa và thậm chí là đánh giáp lá cà với địch bằng lưỡi lê, báng súng.
Trong thời khắc nguy cấp khi địch bám dày đặc quanh công sự, các chiến sĩ Việt Nam trên chốt đã dũng cảm dùng bộ đàm gọi về sở chỉ huy, yêu cầu pháo binh hạng nặng của Trung đoàn và Mặt trận bắn trực tiếp vào đỉnh A6B để tiêu diệt địch xung quanh. Lưới lửa pháo binh của Việt Nam phối hợp chính xác, quét sạch các đội hình phản kích của đối phương ở sườn núi.
Giữ vững trận địa suốt tháng 6.1985 trong đợt 3.
Thất bại thảm hại trong ngày 11.6 với tổn thất nặng nề về sinh lực, quân Trung Quốc không còn đủ khả năng mở các trận đánh lớn bằng bộ binh vào A6B.
Quân đội Trung Quốc chuyển sang chiến thuật vây hãm, dùng lực lượng bắn tỉa đặc nhiệm bám các hốc đá xung quanh và dập pháo cối liên tục nhằm cắt đứt đường tiếp tế, lấn chặn không cho quân đội Việt Nam vận chuyển bê tông đúc sẵn sang kiên cố hóa trận địa.
Bộ đội Trung đoàn 567 đã thành lập các "tổ săn máy bay", tổ bắn tỉa, kiên cường bám trụ bẻ gãy các nhóm thám báo, bảo vệ vững chắc trận địa cho đến khi bàn giao lại cho đơn vị bạn vào tháng 8.1985.
Có thời điểm lực lượng Trung Quốc tổ chức xung phong với cờ hiệu. Bộ đội Việt Nam không chỉ phòng ngự thụ động mà còn tổ chức một số hoạt động phản kích cục bộ nhằm phá các mũi tiến công. Một số nguồn tài liệu ghi nhận việc lực lượng giữ A6B bắt sống một trung đội trưởng và một binh sĩ Trung Quốc trong một hoạt động như vậy.
Theo các tài liệu tổng kết, trong suốt hơn 2 tháng phản kích điên cuồng nhằm chiếm lại cao điểm A6B (211), quân Trung Quốc đã bị tổn thất nghiêm trọng với hàng trăm binh sĩ bị loại khỏi vòng chiến đấu, phía Trung Quốc sau này cũng thừa nhận trận 211 là một trong những thất bại đau đớn nhất của họ tại Vị Xuyên do sự chủ quan và chỉ huy sai lầm.
Có những thời điểm trận chiến khốc liệt đến mức đỉnh núi A6B không còn một bóng cây, đá tảng bị băm nát, nhưng lá cờ chủ quyền của Việt Nam vẫn đứng vững. Trận đánh M1 kết thúc thắng lợi hoàn toàn, đập tan huyền thoại "phòng ngự bất khả xâm phạm" bằng lô cốt đá của quân định trên mặt trận biên giới. Bản lĩnh kiên cường của bộ đội Việt Nam đã giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
7. Vì sao một lực lượng nhỏ của quân đội Việt Nam có thể giữ được A6B?
Việc một lực lượng nhỏ với một tổ vài người đến một trung đội thiếu của quân đội Việt Nam có thể bẻ gãy các đợt phản kích ồ ạt cấp Đại đội, Trung đoàn của quân Trung Quốc tại cao điểm A6B là một kỳ tích, sự thành công này đến từ sự kết hợp giữa địa lợi, nghệ thuật tác chiến và tinh thần quả cảm của bộ đội Việt Nam.
A6B có địa thế "hầm đá tự nhiên" độc nhất vô nhị. Cao điểm A6B là mỏm núi đá tai mèo lởm chởm. Khác với núi đất, núi đá ở đây có hệ thống hang hốc tự nhiên rất sâu và kiên cố. Khi pháo binh Trung Quốc trút hàng vạn quả đạn xuống cày nát đỉnh núi, bộ đội Việt Nam đã ẩn nấp an toàn sâu trong lòng đá. Sức sát thương của pháo địch không còn hiệu quả đối với lực lượng trú ẩn phía trong.
Địa hình lên đỉnh A6B cực kỳ hiểm trở, ba bề vách đá dựng đứng, chỉ có một vài lối mòn nhỏ hẹp để leo lên. Do đó, dù Trung Quốc có quân số cực đông cũng không thể rải quân cùng lúc mà buộc phải nối đuôi nhau bò lên theo từng nhóm nhỏ. Lực lượng giữ chốt của Việt Nam dù ít nhưng chiếm giữ điểm cao, chỉ cần một khẩu đại liên hoặc vài quả lựu đạn là có thể khóa chặt toàn bộ lối lên.
Khoảng cách giữa chốt A6A phía Việt Nam giữ và A6B phía Trung Quốc giữ - sau đó Việt Nam chiếm lại - cực kỳ gần, có những đoạn chỉ cách nhau vài chục mét. Chính thế trận "cài răng lược" áp sát này đã trở thành tấm lá chắn cho phía Việt Nam. Pháo binh tầm xa của Trung Quốc dù rất mạnh nhưng không thể bắn thoải mái vì sợ đạn lạc trúng ngay vào quân của họ đang bò lên phản kích. Điều này làm giảm đáng kể ưu thế hỏa lực tuyệt đối của đối phương.
Tiếp đến là sự phối hợp xuất sắc của "lưới lửa" pháo binh Việt Nam từ tuyến sau. Dù lực lượng trực tiếp súng đạn trên đỉnh núi rất ít, nhưng phía sau các chiến sĩ là cả một hệ thống hỏa lực súng cối, pháo binh của Trung đoàn 567 và Bộ Tư lệnh Mặt trận được hiệp đồng chặt chẽ.
Các tọa độ xung quanh sườn núi A6B đã được pháo binh Việt Nam đo đạc và ngắm sẵn. Mỗi khi bộ binh địch tập trung quân ở sườn núi để chuẩn bị xung phong, pháo binh lập tức dập đạn chính xác, bẻ gãy đội hình địch ngay từ vòng ngoài trước khi chúng kịp tiếp cận cửa hầm.
Đặc biệt, trong những tình huống nguy cấp khi địch tràn lên quá đông, chiến sĩ Việt Nam trên chốt đã dũng cảm gọi pháo bắn thẳng vào đỉnh chốt để quét sạch quân địch phơi mình ở bên ngoài công sự.
Công tác tiếp tế của bộ đội Việt Nam đặc biệt hiệu quả, giúp củng cố trận địa xuyên đêm, thông suốt. Việc giữ chốt không chỉ cần có hỏa lực mà phải có công sự chắc chắn và đạn dược liên tục. Ngay sau khi chiếm được A6B, lực lượng công binh và vận tải từ chốt A6A đã không quản hiểm nguy, lợi dụng đêm tối để chuyển hàng tấn bê tông đúc sẵn, bao cát, khung sắt sang để gia cố lại các cửa hang, ngách đá bị pháo bắn sập.
Việc đảm bảo thông suốt đường dây tiếp tế vũ khí, lựu đạn và nước uống từ A6A sang A6B đã giúp lực lượng nhỏ trên chốt luôn có đủ phương tiện để chiến đấu dài ngày.
Các chiến sĩ Đại đội 5 đều là những người lính kiên cường, thiện chiến. Họ không bắn bừa bãi để lộ vị trí mà vận dụng cách đánh bắn tỉa, "chờ địch vào thật gần, thấy rõ mặt mới nổ súng và tung thủ pháo". Cách đánh này vừa tiết kiệm đạn, vừa gây áp lực tâm lý cực kỳ khủng khiếp cho quân địch khi cứ bước chân lên đá là trúng đạn mà không thấy người bắn ở đâu.
8. Kết quả và tác động đối với mặt trận Vị Xuyên
Trận đánh mật danh M1 tại cao điểm A6B là một cột mốc mang tính bản lề, làm thay đổi đáng kể cục diện cục bộ tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang, trong giai đoạn giữa năm 1985. Kết quả và tác động của chiến thắng này được thể hiện rõ nét qua cả phương diện quân sự, tâm lý chiến thuật của hai bên.
Kết quả trực tiếp của trận đánh:
Về phía Việt Nam: Tiêu diệt tại chỗ và loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 30 tên địch, bắt sống 4 tù binh, thu giữ nhiều vũ khí, chiến lợi phẩm và làm chủ hoàn toàn cao điểm A6B.
Trong đợt phòng ngự chống phản kích sau đó, quân đội Việt Nam bẻ gãy hơn 20 đợt tấn công quy mô lớn của Trung Quốc, gây thiệt hại nặng nề cho sinh lực địch, giữ vững trận địa cho đến khi kết thúc chiến tranh.
Nhờ chiến công xuất sắc này, Đại đội 5 và Trung đoàn 567 (lúc đó mang mật danh Đoàn 982) đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Về phía Trung Quốc: Quân đoàn 67 mới vào tiếp quản trận địa được vài ngày, đã mất quyền kiểm soát một mỏm chốt quan trọng .
Nỗ lực tái chiếm A6B khiến Sư đoàn 199, Quân đoàn 67, chịu tổn thất rất lớn về quân số. Theo các tài liệu lịch sử, thất bại cay đắng và việc chỉ huy nướng quân vô ích tại cao điểm này đã dẫn đến một vụ binh biến nội bộ* chấn động chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc, khi binh lính phẫn nộ vác súng bắn vào xe của chỉ huy quân đoàn.
Sự thành công của chiến dịch A6B tác động rất sâu sắc đối với Mặt trận Vị Xuyên, giúp đập tan tâm lý bi quan, xoay chuyển cục diện mặt trận. Chiến thắng A6B là một cú hích tinh thần khổng lồ. Tình hình mặt trận Thanh Thủy sau trận này chuyển biến rõ rệt theo chiều hướng có lợi cho quân đội Việt Nam.
Đồng thời, trận M1 cũng khẳng định sự đúng đắn của nghệ thuật tác chiến mới, là minh chứng hoàn hảo cho việc chuyển đổi tư duy chiến thuật của Bộ Tư lệnh Mặt trận: Từ đánh lớn, đánh dàn trải sang chiến thuật "luồn sâu, đánh hiểm", chọn mục tiêu vừa sức, tấn công bất ngờ, tiêu diệt gọn rồi nhanh chóng chuyển sang phòng ngự kiên cố.
Mô hình phòng ngự kết hợp "hang đá tự nhiên + công sự bê tông đúc sẵn" tại A6B trở thành bài học kinh nghiệm quý giá, được phổ biến và áp dụng rộng rãi cho các đơn vị khác trên toàn tuyến biên giới núi đá Vị Xuyên để giảm thiểu thương vong trước bão pháo.
Thất bại đau đớn tại A6B buộc Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc phải nhìn nhận lại năng lực phòng ngự của Việt Nam. Sau tháng 6.1985, Trung Quốc giảm hẳn các đợt tấn công bộ binh ồ ạt quy mô lớn vào khu vực này. Họ buộc phải chuyển sang thế vây hãm, đánh tỉa, sử dụng thám báo và duy trì đấu pháo tầm xa - điều này vô hình trung làm giảm bớt áp lực trực diện cho bộ đội chốt giữ của Việt Nam.
*Vụ binh biến nội bộ
Sự kiện diễn ra tại Tổng hành dinh của Quân đoàn 67 (PLA) đóng tại địa bàn tỉnh Vân Nam vào khoảng tháng 6.1985.
Quân đoàn 67 của Trung Quốc vừa ra luân chiến thay phiên cho Quân đoàn 1 được vỏn vẹn 13 ngày thì đã để mất cao điểm 211 (tức cao điểm A6B của Việt Nam) vào tay quân Việt Nam chỉ trong vòng vài chục phút sáng 31.5.1985.
Tư lệnh Quân đoàn 67 lúc bấy giờ là Trương Chí Kiên (Zhang Zhijian) và Tham mưu trưởng Tào Kế Đức. Để vớt vát thể diện với Bộ Tổng tham mưu Bắc Kinh, bộ chỉ huy này đã điên cuồng ra lệnh cho Sư đoàn 199 tung các đợt phản kích liên tục nhằm chiếm lại cao điểm. Do mệnh lệnh áp đặt duy ý chí, bất chấp địa hình núi đá hiểm trở bị quân Việt Nam khống chế, các đợt phản kích, với đỉnh điểm chiến sự vào ngày 11.6.1985, đã biến thành thảm họa "nướng quân", khiến hàng trăm binh lính Trung Quốc thiệt mạng.
Chứng kiến đồng đội bị chết quá nhiều và thảm khốc do các mệnh lệnh mù quáng từ cấp trên, tâm lý bất mãn, phẫn nộ và tuyệt vọng bao trùm hàng ngũ binh lính Trung Quốc. Một chiến sĩ thông tin của Sư đoàn 199 (nguồn tài liệu Trung Quốc ghi nhận tên là Tào Bách Hỷ) do quá uất ức sau khi sống sót trở về từ hỏa tuyến đã quyết định liều mình trả thù.
Người lính này đã ôm khẩu súng trường, bí mật mai phục ngay tại cổng bộ tư lệnh quân đoàn. Khi chiếc xe chở Tham mưu trưởng Quân đoàn 67 là Tào Kế Đức vừa chạy qua, người lính này đã xả súng bắn xối xả vào xe.
Tham mưu trưởng Tào Kế Đức cùng viên tài xế và một số sĩ quan đi cùng tử thương ngay trong xe. Riêng Tư lệnh quân đoàn Trương Chí Kiên may mắn thoát chết nhưng bị thương nặng ở vai. Sau khi nổ súng, người lính này đã tự sát ngay tại hiện trường.
Đây là vụ binh biến, lính bắn thẳng vào chỉ huy cấp cao nghiêm trọng và nhục nhã chưa từng có trong lịch sử hiện đại của Quân đội Trung Quốc (PLA). Ngay lập tức, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc phải phái đoàn công tác đặc biệt bay khẩn cấp từ Bắc Kinh xuống mặt trận Vị Xuyên để điều tra và ổn định tình hình.
Vụ việc khiến toàn bộ Bộ chỉ huy Quân đoàn 67 bị chấn chỉnh nghiêm khắc. Sư đoàn 199 hoàn toàn mất sức chiến đấu và suy sụp tinh thần, buộc Trung Quốc phải thay đổi toàn bộ chiến thuật, từ bỏ việc tấn công ồ ạt bằng bộ binh và chuyển sang thế thủ phòng ngự gián tiếp.
Nguồn khảo cứu
1. Nguyễn Đức Huy, Chiến thắng Vị Xuyên - Ban Liên lạc cựu chiến binh toàn quốc mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên, 2018.
2. Tư liệu, hồi ức và tổng kết chiến đấu của các cựu chiến binh Trung đoàn 567 và lực lượng tham chiến tại mặt trận Vị Xuyên.
3. Tư liệu về trận tiến công A6B ngày 31.5.1985, Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 567 - các tài liệu lưu trữ và hồi ức chiến trường.
4. VTC News, Điều ít biết về mặt trận biên giới Vị Xuyên 1984 - 1989.
5. Thanh Niên, Bất tử Vị Xuyên - các tư liệu, hồi ức về trận A6B và mặt trận Vị Xuyên.
6. VietnamNet, Cao điểm Vị Xuyên: Thất trận, lính Trung Quốc nổi loạn bắn chỉ huy - tổng hợp và lược dịch các tư liệu liên quan đến trận cao điểm 211/A6B.
7. Các tư liệu tiếng Trung về chiến sự tại Lão Sơn (老山), cao điểm 211 và Quân đoàn 67, được các nguồn báo chí Việt Nam lược dịch và đối chiếu.
8. Tư liệu Trận tiến công A6B (Vị Xuyên - Hà Tuyên), ngày 31.5.1985 - nguồn KNCĐ, đăng tải lại trên các nguồn tư liệu lịch sử quân sự.
Trận tiến công cao điểm A6B (phía Trung Quốc gọi là cao điểm 211) diễn ra vào ngày 31.5.1985 tại mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang). Đây là một trong những trận đánh có ý nghĩa lịch sử đặc biệt của Quân đội nhân dân Việt Nam, ghi dấu mốc quan trọng trong việc thu hồi và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ bị đối phương lấn chiếm trước đó
Trung đoàn bộ binh 567, khi sang mặt trận Vị Xuyên mang phiên hiệu Trung đoàn 982, được giao trọng trách thực hiện mật danh tác chiến này. Cao điểm A6 gồm hai mỏm núi đá tai mèo. Mỏm A6A do lực lượng Việt Nam phòng ngự, còn mỏm A6B thấp hơn và cách chỉ vài chục mét, đã bị quân đối phương chiếm đóng. Việc nhổ hòn đá tảng A6B giúp loại bỏ bàn đạp lấn dũi của đối phương, tạo thế chủ động cho ta tại khu vực Thanh Thủy.
Sau khi chiếm được mục tiêu, bên phía Việt Nam thành công chống lại nhiều đợt phản kích với sự chi viện của toàn bộ hệ thống hỏa lực phía sau của Trung Quốc trong 11 ngày liên tục.
1. Bối cảnh trước trận đánh
Từ giữa năm 1984, quân Trung Quốc đã lấn chiếm và tổ chức chốt giữ nhiều vị trí, cao điểm chiến lược của Việt Nam dọc biên giới Vị Xuyên như 1509, 772, 685, 233.
Trực tiếp trước đó, trận phản kích quy mô lớn ngày 12.7.1984 - Chiến dịch MB84 - nhằm giành lại các cao điểm như 772, 233 đã không thành công và khiến ta chịu tổn thất lớn về lực lượng.
Sự ác liệt của bão lửa pháo binh đối phương cộng với việc đánh chiếm lại các cao điểm lớn liên tục thất bại khiến tư tưởng một bộ phận chiến sĩ xuất hiện tâm lý bi quan, cho rằng "địch đánh thì ta mất chốt, ta phản kích cũng không giữ được"
Khi cục diện tại mặt trận Vị Xuyên đang ở thế giằng co quyết liệt,Bộ chỉ huy Mặt trận Vị Xuyên, dưới sự chỉ đạo của các tướng lĩnh như Nguyễn Hữu An, Nguyễn Đức Huy nhận thấy cần tìm kiếm một phương thức tác chiến mới hiệu quả hơn.
Cần chọn mục tiêu vừa phải, "luồn sâu, đánh hiểm", đánh bất ngờ. Tiêu chí là chọn điểm chốt của địch có lực lượng vừa phải (cấp trung đội), nhưng khi ta đánh chiếm xong phải dễ dàng đưa lực lượng lên tăng cường, kịp thời chuyển vật liệu làm hầm hào công sự và thuận lợi cho việc tiếp tế lương thực, đạn dược.
2. Vị trí đặc biệt của Cao điểm A6B
A6B là một mỏm núi đá tai mèo lởm chởm thuộc sườn đông dãy 400, thuộc bờ tây sông Lô, xã Thanh Thủy. Nơi đây ba bề vách đá dựng đứng, có nhiều hang hốc tự nhiên thích hợp để trú ẩn.
Tình trạng quân sự khu vực này ở thế cài răng lược, hai bên đóng quân xen kẽ nhau ở khoảng cách rất gần. Quân Trung Quốc chiếm đóng mỏm A6B, trong khi bộ đội Việt Nam vẫn kiên cường bám trụ ở mỏm A6A ngay gần đó. Khoảng cách quá gần khiến hai bên thường xuyên dùng súng bộ binh bắn tỉa lẫn nhau.
Trung Quốc bố trí lực lượng tại chỗ tại A6B khoảng một trung đội tăng cường với hơn 50 quân. Do địa hình hẹp, phía Trung Quốc không thể rải quân đông hơn nhưng lại bố trí tới 10 ổ đề kháng theo hình xoáy trôn ốc từ chân lên đỉnh núi, trang bị hỏa lực rất mạnh, gồm đại liên, cối, B40, B41 và gài mìn dày đặc xung quanh.
Ngày 18.5.1985, Quân đoàn 67 của Trung Quốc được điều động ra mặt trận Vị Xuyên để thay phiên cho Quân đoàn 1.
Bộ Tư lệnh Mặt trận Việt Nam đã nhanh chóng chớp thời cơ khi đối phương mới lên tiếp quản trận địa, chưa thông thuộc địa hình, hệ thống thông tin liên lạc và phối hợp hỏa lực chưa hoàn toàn ổn định. Trận đánh mật danh M1 được phê duyệt nhằm giáng một đòn bất ngờ ngay khi địch đứng chân chưa vững.
3. Vì sao lại là Cao điểm A6B?
Cao điểm A6B được chọn làm mục tiêu cho trận đánh M1 nhờ hội tụ đủ các yếu tố chiến thuật tối ưu cho quân Việt Nam.
A6B nằm ở sườn đông dãy 400, có vị trí nhô hẳn về phía trước, có thể quan sát và kiểm soát trực tiếp ngã ba Thanh Thủy cùng các trục đường tiếp tế của Việt Nam. Địch chiếm giữ vị trí này sẽ liên tục gây nguy hiểm cho các chốt phòng ngự xung quanh.
Khoảng cách giữa chốt A6A phía Việt Nam giữ và A6B phía Trung Quốc giữ rất gần, có nơi chỉ cách nhau vài chục mét. Khoảng cách ngắn này cho phép chiến sĩ Việt Nam tiếp cận mục tiêu nhanh chóng, bất ngờ, hạn chế tối đa việc địch gọi pháo binh chi viện vì sợ pháo bắn trúng quân mình.
Phía sau A6B có hệ thống hang hốc tự nhiên sâu và kiên cố. Nếu quân đội Việt Nam chiếm được, địa hình này sẽ trở thành hầm trú ẩn hoàn hảo chống lại các trận bão pháo trả đũa sau đó của Trung Quốc, đồng thời giúp hậu cần dễ dàng vận chuyển bê tông, gỗ cọc lên củng cố công sự.
Quân số chiếm đóng của Trung Quốc tại đây chỉ ở quy mô khoảng một đại đội thiếu, khi chốt giữ trực tiếp khoảng 1 trung đội tăng cường, phù hợp với khả năng tiêu diệt gọn bằng một lực lượng tinh nhuệ của bộ đội Việt Nam trong thời gian ngắn.
4. Lực lượng chiếm đánh của quân đội Việt Nam
Để đảm bảo chắc thắng, Trung đoàn 567 - lúc này mang mật danh Đoàn 982 - không tung quân ồ ạt mà tổ chức lực lượng theo mô hình tinh gọn, thiện chiến nhất.
Đại đội 5 (C5) thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 567 được chọn làm lực lượng đột kích chính. Đây là đơn vị dày dặn kinh nghiệm, có kỷ luật cao và thông thuộc địa hình núi đá.
C5 được chia thành 3 mũi tấn công chính, áp sát từ 3 hướng để bao vây, chia cắt địch:
- Mũi 1 (Mũi chủ công): Đột kích trực diện từ chốt A6A sang, đánh thẳng vào cơ quan chỉ huy và các hang đá chính của địch trên đỉnh.
- Mũi 2: Vòng qua cánh phải, đánh chiếm các ổ đề kháng ở sườn đông, khóa chặt đường rút lui của địch về phía bên kia biên giới.
- Mũi 3: Đánh tạt sườn từ phía trái, tiêu diệt các hỏa điểm bắn tỉa và phối hợp cùng mũi 1 làm chủ trận địa.
Lực lượng chi viện và bảo đảm hỏa lực tại chỗ được bố trí các tổ súng máy B40, B41 và súng phun lửa đi cùng các mũi nhọn để dập tắt ngay lập tức các lô cốt, hang đá cố thủ.
Các trận địa pháo của Mặt trận và Trung đoàn được lệnh sẵn sàng thiết lập "lưới lửa" dày đặc, không phải để bắn vào A6B, mà để bắn chặn vào các con đường tiếp viện của địch từ phía sau và chế áp các trận địa pháo tầm xa của Trung Quốc.
Lực lượng công binh và vận tải chuẩn bị sẵn hàng trăm tấn gỗ, bao cát, dây thép gai và các khối bê tông đúc sẵn ngay tại chốt A6A. Nhiệm vụ của họ là ngay khi bộ đội làm chủ A6B, phải lập tức lao lên trong bão đạn để xây dựng hầm hào cố thủ, chuyển trận đánh từ thế tấn công sang phòng ngự kiên cố.
Quá trình chuẩn bị này diễn ra trong bí mật tuyệt đối. Bộ đội Việt Nam thậm chí đã dựng lại mô hình bãi đá tai mèo y hệt A6B ở tuyến sau để tập đi đêm không phát ra tiếng động, tập leo vách đá dựng đứng và tập đánh bộc phá vào hang sâu.
5. Bí mật tiếp cận dưới hỏa lực nghi binh
Rạng sáng ngày 31.5.1985, trận đánh mật danh M1 chính thức bùng nổ. Đây là một trong những trận đánh bất ngờ, chớp nhoáng và đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất trên mặt trận núi đá Vị Xuyên.
0:00 đêm 30.5, lợi dụng màn đêm đặc quánh và tiếng gầm vang của các loạt pháo bắn nghi binh ở các hướng khác, các chiến sĩ Đại đội 5 (C5) bắt đầu di chuyển.
Bộ đội Việt Nam cởi trần, mặc quần đùi, bôi nhọ nồi khắp người để ngụy trang. Các chiến sĩ bò, trườn qua những vách đá tai mèo sắc nhọn, gỡ từng quả mìn của địch. Khoảng cách giữa hai bên quá gần, đến mức các chiến sĩ có thể nghe thấy tiếng quân Trung Quốc ho và nói chuyện trong hang.
5:00 sáng 31.5, các mũi tấn công đã áp sát vị trí chỉ cách công sự địch từ 5 đến 10 mét, hình thành thế bao vây ba mặt, khóa chặt mọi lối ra vào hang.
5:25 sáng, hiệu lệnh tấn công phát ra. Từ các hướng, các chiến sĩ đồng loạt tung thủ pháo, lựu đạn và nổ súng B40, B41 thẳng vào các vọng gác và cửa hang.
Bị đánh bất ngờ ngay sáng sớm, quân Trung Quốc chốt giữ A6B hoàn toàn hoảng loạn, không kịp phản ứng hay dùng pháo binh chi viện. Mũi chủ công dùng súng phun lửa và bộc phá đánh sập các hang đá cố thủ.
Sau 30 phút, khoảng 5:55 sáng, Đại đội 5 hoàn toàn làm chủ cao điểm A6B, tiêu diệt gọn quân địch tại chỗ, bắt sống tù binh, thu giữ nhiều vũ khí mà không hy sinh một ai trong lúc đánh chiếm.
6. Các đợt phản kích của quân Trung Quốc
Sau khi mất cao điểm A6B (phía Trung Quốc gọi là cao điểm 211) vào tay Đại đội 5, Trung đoàn 567, chỉ trong vòng hơn 30 phút sáng ngày 31.5.1985, Bộ Tổng tham mưu và Quân đoàn 67 của Trung Quốc rơi vào trạng thái chấn động và tức tối. Để cứu vãn thể diện và giành lại vị trí chiến lược này, địch đã điên cuồng mở các đợt phản kích quy mô lớn với mật độ hỏa lực và quân số khủng khiếp. Trong đó có ba đợt phản kích quy mô cực lớn.
Đợt 1 diễn ra ra từ 31.5 - 1.6.1985
Ngay buổi trưa ngày 31.5, sau khi xác định mất chốt, Trung Quốc huy động hàng chục trận địa pháo tầm xa bắn không ngớt hàng vạn quả đạn xuống đỉnh A6B. Sức ép của pháo lớn làm nát vụn các khối đá tai mèo, bụi đá bay mù mịt, sườn núi chuyển sang màu trắng xóa.
Đêm 31.5 rạng sáng 1.6, lợi dụng hỏa lực pháo bắn dọn đường, Trung Quốc tung lực lượng cấp đại đội liên tục mở các đợt tiến công áp sát từ hướng cao điểm 255 và 227 sang.
Các chiến sĩ Đại đội 5 ẩn nấp an toàn trong các hang đá tự nhiên, chờ bộ binh địch bò lên khi còn cách 10-15m, mới đồng loạt tung lựu đạn, nổ súng máy đánh bật địch xuống thung lũng.
Đợt hai vào ngày 11.6.1985 diễn ra giao tranh đỉnh điểm khốc liệt.
Sau nhiều ngày phản kích nhỏ lẻ không thành, ngày 11.6.1985, Sư đoàn 199 thuộc Quân đoàn 67 Trung Quốc tổ chức một cuộc tấn công tổng lực quy mô cấp Trung đoàn dưới sự chi viện tối đa của pháo binh.
Địch bắn hàng chục nghìn quả pháo trong nhiều giờ liền để cô lập hoàn toàn A6B với tuyến sau của Việt Nam, không cho hậu cần tiếp tế. Sau đó, từng làn sóng bộ binh địch ồ ạt tràn lên từ nhiều hướng.
Địch đông gấp nhiều lần, có lúc đã tràn được lên đỉnh chốt, chia cắt các tổ chiến đấu của quân Việt Nam. Cuộc chiến diễn ra giành giật từng mỏm đá, từng cửa hang. Bộ đội Việt Nam dùng bộc phá, súng phun lửa và thậm chí là đánh giáp lá cà với địch bằng lưỡi lê, báng súng.
Trong thời khắc nguy cấp khi địch bám dày đặc quanh công sự, các chiến sĩ Việt Nam trên chốt đã dũng cảm dùng bộ đàm gọi về sở chỉ huy, yêu cầu pháo binh hạng nặng của Trung đoàn và Mặt trận bắn trực tiếp vào đỉnh A6B để tiêu diệt địch xung quanh. Lưới lửa pháo binh của Việt Nam phối hợp chính xác, quét sạch các đội hình phản kích của đối phương ở sườn núi.
Giữ vững trận địa suốt tháng 6.1985 trong đợt 3.
Thất bại thảm hại trong ngày 11.6 với tổn thất nặng nề về sinh lực, quân Trung Quốc không còn đủ khả năng mở các trận đánh lớn bằng bộ binh vào A6B.
Quân đội Trung Quốc chuyển sang chiến thuật vây hãm, dùng lực lượng bắn tỉa đặc nhiệm bám các hốc đá xung quanh và dập pháo cối liên tục nhằm cắt đứt đường tiếp tế, lấn chặn không cho quân đội Việt Nam vận chuyển bê tông đúc sẵn sang kiên cố hóa trận địa.
Bộ đội Trung đoàn 567 đã thành lập các "tổ săn máy bay", tổ bắn tỉa, kiên cường bám trụ bẻ gãy các nhóm thám báo, bảo vệ vững chắc trận địa cho đến khi bàn giao lại cho đơn vị bạn vào tháng 8.1985.
Có thời điểm lực lượng Trung Quốc tổ chức xung phong với cờ hiệu. Bộ đội Việt Nam không chỉ phòng ngự thụ động mà còn tổ chức một số hoạt động phản kích cục bộ nhằm phá các mũi tiến công. Một số nguồn tài liệu ghi nhận việc lực lượng giữ A6B bắt sống một trung đội trưởng và một binh sĩ Trung Quốc trong một hoạt động như vậy.
Theo các tài liệu tổng kết, trong suốt hơn 2 tháng phản kích điên cuồng nhằm chiếm lại cao điểm A6B (211), quân Trung Quốc đã bị tổn thất nghiêm trọng với hàng trăm binh sĩ bị loại khỏi vòng chiến đấu, phía Trung Quốc sau này cũng thừa nhận trận 211 là một trong những thất bại đau đớn nhất của họ tại Vị Xuyên do sự chủ quan và chỉ huy sai lầm.
Có những thời điểm trận chiến khốc liệt đến mức đỉnh núi A6B không còn một bóng cây, đá tảng bị băm nát, nhưng lá cờ chủ quyền của Việt Nam vẫn đứng vững. Trận đánh M1 kết thúc thắng lợi hoàn toàn, đập tan huyền thoại "phòng ngự bất khả xâm phạm" bằng lô cốt đá của quân định trên mặt trận biên giới. Bản lĩnh kiên cường của bộ đội Việt Nam đã giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
7. Vì sao một lực lượng nhỏ của quân đội Việt Nam có thể giữ được A6B?
Việc một lực lượng nhỏ với một tổ vài người đến một trung đội thiếu của quân đội Việt Nam có thể bẻ gãy các đợt phản kích ồ ạt cấp Đại đội, Trung đoàn của quân Trung Quốc tại cao điểm A6B là một kỳ tích, sự thành công này đến từ sự kết hợp giữa địa lợi, nghệ thuật tác chiến và tinh thần quả cảm của bộ đội Việt Nam.
A6B có địa thế "hầm đá tự nhiên" độc nhất vô nhị. Cao điểm A6B là mỏm núi đá tai mèo lởm chởm. Khác với núi đất, núi đá ở đây có hệ thống hang hốc tự nhiên rất sâu và kiên cố. Khi pháo binh Trung Quốc trút hàng vạn quả đạn xuống cày nát đỉnh núi, bộ đội Việt Nam đã ẩn nấp an toàn sâu trong lòng đá. Sức sát thương của pháo địch không còn hiệu quả đối với lực lượng trú ẩn phía trong.
Địa hình lên đỉnh A6B cực kỳ hiểm trở, ba bề vách đá dựng đứng, chỉ có một vài lối mòn nhỏ hẹp để leo lên. Do đó, dù Trung Quốc có quân số cực đông cũng không thể rải quân cùng lúc mà buộc phải nối đuôi nhau bò lên theo từng nhóm nhỏ. Lực lượng giữ chốt của Việt Nam dù ít nhưng chiếm giữ điểm cao, chỉ cần một khẩu đại liên hoặc vài quả lựu đạn là có thể khóa chặt toàn bộ lối lên.
Khoảng cách giữa chốt A6A phía Việt Nam giữ và A6B phía Trung Quốc giữ - sau đó Việt Nam chiếm lại - cực kỳ gần, có những đoạn chỉ cách nhau vài chục mét. Chính thế trận "cài răng lược" áp sát này đã trở thành tấm lá chắn cho phía Việt Nam. Pháo binh tầm xa của Trung Quốc dù rất mạnh nhưng không thể bắn thoải mái vì sợ đạn lạc trúng ngay vào quân của họ đang bò lên phản kích. Điều này làm giảm đáng kể ưu thế hỏa lực tuyệt đối của đối phương.
Tiếp đến là sự phối hợp xuất sắc của "lưới lửa" pháo binh Việt Nam từ tuyến sau. Dù lực lượng trực tiếp súng đạn trên đỉnh núi rất ít, nhưng phía sau các chiến sĩ là cả một hệ thống hỏa lực súng cối, pháo binh của Trung đoàn 567 và Bộ Tư lệnh Mặt trận được hiệp đồng chặt chẽ.
Các tọa độ xung quanh sườn núi A6B đã được pháo binh Việt Nam đo đạc và ngắm sẵn. Mỗi khi bộ binh địch tập trung quân ở sườn núi để chuẩn bị xung phong, pháo binh lập tức dập đạn chính xác, bẻ gãy đội hình địch ngay từ vòng ngoài trước khi chúng kịp tiếp cận cửa hầm.
Đặc biệt, trong những tình huống nguy cấp khi địch tràn lên quá đông, chiến sĩ Việt Nam trên chốt đã dũng cảm gọi pháo bắn thẳng vào đỉnh chốt để quét sạch quân địch phơi mình ở bên ngoài công sự.
Công tác tiếp tế của bộ đội Việt Nam đặc biệt hiệu quả, giúp củng cố trận địa xuyên đêm, thông suốt. Việc giữ chốt không chỉ cần có hỏa lực mà phải có công sự chắc chắn và đạn dược liên tục. Ngay sau khi chiếm được A6B, lực lượng công binh và vận tải từ chốt A6A đã không quản hiểm nguy, lợi dụng đêm tối để chuyển hàng tấn bê tông đúc sẵn, bao cát, khung sắt sang để gia cố lại các cửa hang, ngách đá bị pháo bắn sập.
Việc đảm bảo thông suốt đường dây tiếp tế vũ khí, lựu đạn và nước uống từ A6A sang A6B đã giúp lực lượng nhỏ trên chốt luôn có đủ phương tiện để chiến đấu dài ngày.
Các chiến sĩ Đại đội 5 đều là những người lính kiên cường, thiện chiến. Họ không bắn bừa bãi để lộ vị trí mà vận dụng cách đánh bắn tỉa, "chờ địch vào thật gần, thấy rõ mặt mới nổ súng và tung thủ pháo". Cách đánh này vừa tiết kiệm đạn, vừa gây áp lực tâm lý cực kỳ khủng khiếp cho quân địch khi cứ bước chân lên đá là trúng đạn mà không thấy người bắn ở đâu.
8. Kết quả và tác động đối với mặt trận Vị Xuyên
Trận đánh mật danh M1 tại cao điểm A6B là một cột mốc mang tính bản lề, làm thay đổi đáng kể cục diện cục bộ tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang, trong giai đoạn giữa năm 1985. Kết quả và tác động của chiến thắng này được thể hiện rõ nét qua cả phương diện quân sự, tâm lý chiến thuật của hai bên.
Kết quả trực tiếp của trận đánh:
Về phía Việt Nam: Tiêu diệt tại chỗ và loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 30 tên địch, bắt sống 4 tù binh, thu giữ nhiều vũ khí, chiến lợi phẩm và làm chủ hoàn toàn cao điểm A6B.
Trong đợt phòng ngự chống phản kích sau đó, quân đội Việt Nam bẻ gãy hơn 20 đợt tấn công quy mô lớn của Trung Quốc, gây thiệt hại nặng nề cho sinh lực địch, giữ vững trận địa cho đến khi kết thúc chiến tranh.
Nhờ chiến công xuất sắc này, Đại đội 5 và Trung đoàn 567 (lúc đó mang mật danh Đoàn 982) đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Về phía Trung Quốc: Quân đoàn 67 mới vào tiếp quản trận địa được vài ngày, đã mất quyền kiểm soát một mỏm chốt quan trọng .
Nỗ lực tái chiếm A6B khiến Sư đoàn 199, Quân đoàn 67, chịu tổn thất rất lớn về quân số. Theo các tài liệu lịch sử, thất bại cay đắng và việc chỉ huy nướng quân vô ích tại cao điểm này đã dẫn đến một vụ binh biến nội bộ* chấn động chưa từng có trong lịch sử quân đội Trung Quốc, khi binh lính phẫn nộ vác súng bắn vào xe của chỉ huy quân đoàn.
Sự thành công của chiến dịch A6B tác động rất sâu sắc đối với Mặt trận Vị Xuyên, giúp đập tan tâm lý bi quan, xoay chuyển cục diện mặt trận. Chiến thắng A6B là một cú hích tinh thần khổng lồ. Tình hình mặt trận Thanh Thủy sau trận này chuyển biến rõ rệt theo chiều hướng có lợi cho quân đội Việt Nam.
Đồng thời, trận M1 cũng khẳng định sự đúng đắn của nghệ thuật tác chiến mới, là minh chứng hoàn hảo cho việc chuyển đổi tư duy chiến thuật của Bộ Tư lệnh Mặt trận: Từ đánh lớn, đánh dàn trải sang chiến thuật "luồn sâu, đánh hiểm", chọn mục tiêu vừa sức, tấn công bất ngờ, tiêu diệt gọn rồi nhanh chóng chuyển sang phòng ngự kiên cố.
Mô hình phòng ngự kết hợp "hang đá tự nhiên + công sự bê tông đúc sẵn" tại A6B trở thành bài học kinh nghiệm quý giá, được phổ biến và áp dụng rộng rãi cho các đơn vị khác trên toàn tuyến biên giới núi đá Vị Xuyên để giảm thiểu thương vong trước bão pháo.
Thất bại đau đớn tại A6B buộc Bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc phải nhìn nhận lại năng lực phòng ngự của Việt Nam. Sau tháng 6.1985, Trung Quốc giảm hẳn các đợt tấn công bộ binh ồ ạt quy mô lớn vào khu vực này. Họ buộc phải chuyển sang thế vây hãm, đánh tỉa, sử dụng thám báo và duy trì đấu pháo tầm xa - điều này vô hình trung làm giảm bớt áp lực trực diện cho bộ đội chốt giữ của Việt Nam.
*Vụ binh biến nội bộ
Sự kiện diễn ra tại Tổng hành dinh của Quân đoàn 67 (PLA) đóng tại địa bàn tỉnh Vân Nam vào khoảng tháng 6.1985.
Quân đoàn 67 của Trung Quốc vừa ra luân chiến thay phiên cho Quân đoàn 1 được vỏn vẹn 13 ngày thì đã để mất cao điểm 211 (tức cao điểm A6B của Việt Nam) vào tay quân Việt Nam chỉ trong vòng vài chục phút sáng 31.5.1985.
Tư lệnh Quân đoàn 67 lúc bấy giờ là Trương Chí Kiên (Zhang Zhijian) và Tham mưu trưởng Tào Kế Đức. Để vớt vát thể diện với Bộ Tổng tham mưu Bắc Kinh, bộ chỉ huy này đã điên cuồng ra lệnh cho Sư đoàn 199 tung các đợt phản kích liên tục nhằm chiếm lại cao điểm. Do mệnh lệnh áp đặt duy ý chí, bất chấp địa hình núi đá hiểm trở bị quân Việt Nam khống chế, các đợt phản kích, với đỉnh điểm chiến sự vào ngày 11.6.1985, đã biến thành thảm họa "nướng quân", khiến hàng trăm binh lính Trung Quốc thiệt mạng.
Chứng kiến đồng đội bị chết quá nhiều và thảm khốc do các mệnh lệnh mù quáng từ cấp trên, tâm lý bất mãn, phẫn nộ và tuyệt vọng bao trùm hàng ngũ binh lính Trung Quốc. Một chiến sĩ thông tin của Sư đoàn 199 (nguồn tài liệu Trung Quốc ghi nhận tên là Tào Bách Hỷ) do quá uất ức sau khi sống sót trở về từ hỏa tuyến đã quyết định liều mình trả thù.
Người lính này đã ôm khẩu súng trường, bí mật mai phục ngay tại cổng bộ tư lệnh quân đoàn. Khi chiếc xe chở Tham mưu trưởng Quân đoàn 67 là Tào Kế Đức vừa chạy qua, người lính này đã xả súng bắn xối xả vào xe.
Tham mưu trưởng Tào Kế Đức cùng viên tài xế và một số sĩ quan đi cùng tử thương ngay trong xe. Riêng Tư lệnh quân đoàn Trương Chí Kiên may mắn thoát chết nhưng bị thương nặng ở vai. Sau khi nổ súng, người lính này đã tự sát ngay tại hiện trường.
Đây là vụ binh biến, lính bắn thẳng vào chỉ huy cấp cao nghiêm trọng và nhục nhã chưa từng có trong lịch sử hiện đại của Quân đội Trung Quốc (PLA). Ngay lập tức, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc phải phái đoàn công tác đặc biệt bay khẩn cấp từ Bắc Kinh xuống mặt trận Vị Xuyên để điều tra và ổn định tình hình.
Vụ việc khiến toàn bộ Bộ chỉ huy Quân đoàn 67 bị chấn chỉnh nghiêm khắc. Sư đoàn 199 hoàn toàn mất sức chiến đấu và suy sụp tinh thần, buộc Trung Quốc phải thay đổi toàn bộ chiến thuật, từ bỏ việc tấn công ồ ạt bằng bộ binh và chuyển sang thế thủ phòng ngự gián tiếp.
Nguồn khảo cứu
1. Nguyễn Đức Huy, Chiến thắng Vị Xuyên - Ban Liên lạc cựu chiến binh toàn quốc mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên, 2018.
2. Tư liệu, hồi ức và tổng kết chiến đấu của các cựu chiến binh Trung đoàn 567 và lực lượng tham chiến tại mặt trận Vị Xuyên.
3. Tư liệu về trận tiến công A6B ngày 31.5.1985, Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 567 - các tài liệu lưu trữ và hồi ức chiến trường.
4. VTC News, Điều ít biết về mặt trận biên giới Vị Xuyên 1984 - 1989.
5. Thanh Niên, Bất tử Vị Xuyên - các tư liệu, hồi ức về trận A6B và mặt trận Vị Xuyên.
6. VietnamNet, Cao điểm Vị Xuyên: Thất trận, lính Trung Quốc nổi loạn bắn chỉ huy - tổng hợp và lược dịch các tư liệu liên quan đến trận cao điểm 211/A6B.
7. Các tư liệu tiếng Trung về chiến sự tại Lão Sơn (老山), cao điểm 211 và Quân đoàn 67, được các nguồn báo chí Việt Nam lược dịch và đối chiếu.
8. Tư liệu Trận tiến công A6B (Vị Xuyên - Hà Tuyên), ngày 31.5.1985 - nguồn KNCĐ, đăng tải lại trên các nguồn tư liệu lịch sử quân sự.

