• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Người Trung quốc viết về vụ cụ Hồ Chí Minh bị bắt tại Quảng Tây

Tài liệu 
  • Thread starter Thread starter BuddyUp
  • Start date Start date
  • Replies 0
  • Views 257

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
3,876
Reaction score
0
Points
36
Người Trung quốc viết về vụ cụ Hồ Chí Minh bị bắt tại Quảng Tây.
Buddy Up - Chân dung Việt Nam

Năm 1942, cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Việt Nam tiếp tục giành được những thắng lợi quan trọng. Ảnh hưởng của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (gọi tắt là “Việt Minh”) ngày càng lan rộng, nhiều nơi đã nổ ra các hoạt động du kích. Tuy nhiên, Việt Minh vẫn chưa thiết lập được quan hệ với bất kỳ quốc gia nào trong phe Đồng minh chống phát xít. Đồng thời, quan hệ giữa các tổ chức của Việt Minh ở khu vực Hoa Nam (Nam Trung Quốc) với chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc ngày càng trở nên căng thẳng.

Trong hoàn cảnh đó, việc làm sao để liên lạc với các tổ chức Việt Minh ở nước ngoài, mở rộng hơn nữa ảnh hưởng của Việt Minh và tranh thủ hiệu quả sự viện trợ quốc tế trở thành vấn đề cấp bách. Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng và khẩn cấp này, cần cử một người hiểu biết về Trung Quốc và có uy tín sang Trùng Khánh. Là người sáng lập Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc được mọi người nhất trí đề cử đảm nhận trọng trách đó.

Giữa tháng 8, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi căn cứ địa tỉnh Cao Bằng (miền Bắc Việt Nam), bí mật sang Trung Quốc. Để giữ bí mật và đánh lạc hướng dư luận, ông sử dụng một cái tên mới – Hồ Chí Minh. Từ đó về sau, cái tên Hồ Chí Minh đã gắn bó với ông cho đến lúc qua đời.

Ngày 25 tháng 8, Hồ Chí Minh đến Bà Mông, huyện Tịnh Tây, tỉnh Quảng Tây, nghỉ lại hai ngày tại nhà một nông dân quen cũ là Từ Vĩ Tam.

Ngày 27 tháng 8, ông tiếp tục lên đường do một nông dân tên là Dương Đào dẫn đường. Khi đi đến làng Túc Vinh, huyện Đức Bảo, ông bị cảnh sát địa phương của chính quyền Quốc dân đảng chặn lại kiểm tra. Cảnh sát phát hiện Hồ Chí Minh ngoài tấm thẻ của “Chi hội Việt Nam - Hội Quốc tế chống xâm lược” còn mang theo thẻ hội viên của “Hội nhà báo thanh niên Trung Quốc” và giấy thông hành quân sự của Bộ Tư lệnh Chiến khu 4 của chính phủ Quốc dân đảng, nhưng tất cả đều đã hết hạn. Cảnh sát xác định ông có lai lịch phức tạp, nghi là gián điệp trọng yếu, nên đã bắt giữ ông.

Ngày 29 tháng 8, Hồ Chí Minh bị áp giải từ huyện Đức Bảo đến huyện Tịnh Tây. Chính quyền Tịnh Tây cho rằng ông là người Việt Nam nhưng lại mang nhiều loại giấy tờ của Trung Quốc, rõ ràng là một nghi phạm quan trọng, nên quyết định chuyển ông đến cơ quan quân sự tối cao của tỉnh Quảng Tây – Hành dinh Quế Lâm của Quân ủy Chính phủ Quốc Dân Đảng để thẩm tra.

Hồ Chí Minh đã viết thư xin gặp huyện trưởng Tịnh Tây vì trước đây từng gặp người này ở Quế Lâm, nhưng bị từ chối. Ông cũng viết thư gửi các quan chức cấp cao của Quốc Dân Đảng nhưng không nhận được hồi âm.

Tại Tịnh Tây, một nông dân Trung Quốc tên là Vương Tích Cơ – người trước đây từng kết nghĩa anh em với các nhà cách mạng Việt Nam – đã đến nhà tù thăm ông. Hồ Chí Minh nhờ Vương Tích Cơ gửi thư về nước báo tin ông đã bị bắt và đang bị giam giữ.

Sau khoảng một tháng rưỡi ở Tịnh Tây, ông lại bị áp giải đến nơi khác. Cứ mỗi hai tuần hoặc một tháng, chính quyền lại chuyển ông đến một nhà tù mới. Mỗi lần chuyển, ông đều bị đeo còng tay, cùm chân và có 5 lính vũ trang áp giải. Thường phải lên đường từ sáng sớm, đến tối mới đến nơi, có khi phải đi bộ hai đến ba ngày liền.

Trong tù, các phạm nhân chính trị như ông bị giam chung với những người nghiện ma túy và mắc bệnh hoa liễu, phòng giam lúc nào cũng chật kín người. Nếu đến muộn một chút thì đến chỗ nằm cũng không còn. Nhiều khi, Hồ Chí Minh đành phải ngồi trên bô xí, nếu có người cần đi vệ sinh thì phải đứng dậy “nhường chỗ”. Việc đầu tiên sau khi thức dậy mỗi sáng là đổ bô. Có lần, khi ông tỉnh dậy thì phát hiện một tù nhân nằm bên cạnh đã chết, buộc phải cùng các phạm nhân khác khiêng xác ra khỏi phòng giam.

Điều đau khổ nhất trong tù là ghẻ lở, chấy rận và rệp, buổi tối còn bị muỗi đốt. Phạm nhân gọi chấy là “xe tăng”, gọi rệp là “xe bọc thép”, còn muỗi là “máy bay”. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh bị ghẻ lở khắp người, người gầy trơ xương, tóc rụng nhiều.

Từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh bị giam giữ tại 13 nhà tù khác nhau thuộc 13 huyện ở Quảng Tây như: Tịnh Tây, Điền Đông, Long An, Thiên Đẳng, Ung Ninh, Nam Ninh, Vũ Minh, Tân Dương, Lai Tân, Liễu Châu... tổng cộng là 30 phòng giam.

Giải cứu Hồ Chí Minh.
Khi hay tin Hồ Chí Minh bị bắt giam tại Quảng Tây, Trung Quốc, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vô cùng lo lắng, nhiều lần lấy danh nghĩa “Chi hội Việt Nam thuộc Hội quốc tế chống xâm lược” điện báo cho Tôn Khoa – Viện trưởng Viện Lập Pháp [tương đương Quốc Hội] của Chính phủ Quốc dân Đảng – để hỏi thăm tung tích của Hồ Chí Minh. Sau đó, họ còn thông qua các hãng thông tấn như AP (Mỹ), Reuters (Anh), AFP (Pháp), TASS (Liên Xô)... để tạo dư luận, gây sức ép buộc Chính phủ Quốc dân Đảng phải thả Hồ Chí Minh, nhưng phía Quốc dân Đảng làm ngơ, không đoái hoài gì.

Trong tình cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam buộc phải cầu cứu Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Diên An [nơi làm việc của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc] lập tức gửi điện cho Chu Ân Lai – khi đó đang ở Trùng Khánh – yêu cầu ông nghĩ mọi cách để cứu Hồ Chí Minh.

Chu Ân Lai từng quen biết Hồ Chí Minh từ những năm 1920 tại Pháp; vào thời kỳ Đại cách mạng ở Quảng Châu, hai người – khi ấy đều là những đảng viên cộng sản trẻ tuổi – thường xuyên gặp nhau , xây dựng tình bạn cách mạng sâu sắc. Sau khi nhận được chỉ thị từ Diên An, dù đang bệnh nặng vừa mới hồi phục, lại mới mất cha, Chu Ân Lai vẫn cố hết sức tìm mọi cách cứu Hồ Chí Minh.

Chu Ân Lai nhận định rằng Tôn Khoa, Viện trưởng Viện Lập Pháp Quốc dân Đảng, là người nhát gan, sợ rắc rối, nên ông phải tìm cách thu hồi lại bức điện của Đảng Việt Nam, đích thân trình bức điện ấy lên Tưởng Giới Thạch.

Vì vậy, ông giao nhiệm vụ này cho Kiển Bá Tán (翦伯赞). Kiển Bá Tán là đồng hương với Thẩm Trấn (覃振) – Phó Viện trưởng Viện Lập Pháp Quốc Dân Đảng – và từng làm thư ký cho ông ta. Nhờ mối quan hệ này, Chu Ân Lai đã thu hồi được bức điện báo gốc gửi từ Việt Nam. Tiếp theo, Chu Ân Lai nhờ viên tướng yêu nước Phùng Ngọc Tường (冯玉祥, bộ hạ của Tưởng Giới Thạch) đi thuyết phục Lý Tông Nhân – nhân vật chủ chốt của phe Quế Hệ – yêu cầu phía Quảng Tây nhanh chóng điều tra tung tích Hồ Chí Minh. Phùng Ngọc Tường là người kiên quyết kháng Nhật, đồng tình với Đảng Cộng sản và phản đối Tưởng Giới Thạch đầu hàng bán nước, vì vậy việc ông đứng ra giải cứu Hồ Chí Minh là hành động mang nhiều rủi ro.

Thông qua nhiều kênh, Phùng Ngọc Tường biết rằng vụ việc của Hồ Chí Minh là do đích thân Tưởng Giới Thạch can thiệp, nếu không có cái gật đầu của Tưởng thì không ai có thể tự quyết. Sau khi bàn bạc với Đoàn Cố vấn Liên Xô do Quốc dân Đảng mời sang, ông quyết định lợi dụng mâu thuẫn giữa Lý Tông Nhân và Tưởng Giới Thạch để ép Tưởng phải thả Hồ Chí Minh.

Phùng Ngọc Tường nói với Lý Tông Nhân: “Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây của các ông, ông không sợ Tưởng Giới Thạch đổ tội cho mình sao?” Là người có thế lực trong phe Quế Hệ, Lý Tông Nhân biết rõ Hồ Chí Minh là lãnh tụ Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy có mâu thuẫn với Tưởng và từng có một số liên hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng Lý không tán thành lý tưởng của cộng sản. Tuy vậy, cuối cùng ông vẫn đồng ý cùng Phùng Ngọc Tường đi gặp Tưởng Giới Thạch.

Phùng Ngọc Tường nói với Tưởng Giới Thạch:
“Chưa bàn đến việc Hồ Chí Minh có phải là cộng sản hay không, nếu có thì ông ấy cũng là cộng sản của Việt Nam. Chúng ta có quyền, có lý do gì để bắt cộng sản nước ngoài? Các Cố vấn Liên Xô chẳng phải cũng là cộng sản đấy ư? Sao không bắt giam họ? Hơn nữa, Việt Nam đang ủng hộ chúng ta kháng chiến chống Nhật, Hồ Chí Minh phải là bạn của chúng ta, sao lại thành tội phạm? Nếu biến bạn bè quốc tế ủng hộ kháng chiến thành tội phạm, vậy cuộc kháng chiến của chúng ta chẳng phải là giả tạo đấy ư? Như thế chẳng phải là sẽ mất đi sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế ? Nếu thực sự muốn kháng chiến, thì phải lập tức thả Hồ Chí Minh!”

Lý Tông Nhân ở bên cũng góp lời: “Ông Phùng đã nói hết các lý lẽ về việc thả Hồ Chí Minh rồi. Tôi hỏi ông, tại sao lại bắt Hồ Chí Minh ở Quảng Tây? Chẳng phải đang đổ vạ cho Quảng Tây sao? Đây là ý của cấp dưới hay là lệnh của ông?”

Tưởng Giới Thạch cứng họng, chỉ có thể nói: “Được rồi, lập tức bảo người điều tra.” Cuộc nói chuyện này có tác dụng quan trọng trong sự kiện sau đó Tưởng Giới Thạch ra lệnh thả Hồ Chí Minh.

Chính trong bối cảnh đó, Tưởng Giới Thạch cuối cùng ra lệnh cho Quân khu 4 thả Hồ Chí Minh. Như vậy, ngày 10 tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh được ra khỏi nhà giam, sau đó được giao cho Phòng Chính trị Quân khu 4 “quan sát và cảm hóa”. Từ đây, trên danh nghĩa, Hồ Chí Minh đã được phục hồi tự do.

Bài viết của Lý Gia Trung (1936-) từng làm Đại sứ TQ tại Việt Nam thời gian 2-1992 đến 7-2000
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom