- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,548
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Những thành tựu trong công cuộc giáo dục và tỷ lệ biết chữ thời Edo (1603 - 1868).
1. Tỷ lệ biết chữ và nền giáo dục thời Edo: Chỉ dấu quan trọng cho thành công của Minh Trị Duy Tân
Khởi phát từ năm 1868 với sự tái lập của Quyền lực Hoàng gia, nước Nhật chỉ trong vòng chưa tới nửa thế kỷ, đạt được cái mà Giáo sư Tsujimoto Masashi mô tả là một “Kỳ tích trong Lịch sử Thế giới”, rằng: “Cuộc Duy tân thần tốc đã biến một “quốc gia lạc hậu” thành một liệt cường có đủ sức ganh đua với Thái Tây, đánh bại nước Nga Sa hoàng và giành vị thế trọng yếu trên chính trường thế giới (sau Chiến tranh Thế giới I)”.
Hiếm giống dân da vàng nào lúc bấy giờ mà không mơ tưởng tới một ngày giống nòi mình được rạng danh như Nhật Bản.
Tới ngày nay, chắc nhiều người Việt chúng ta không biết rằng từng có những Bản Điều trần đề nghị Canh tân của Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện hay Nguyễn Lộ Trạch…đã bị thẳng thừng bác bỏ bởi vua quan nhà Nguyễn, vốn được họ cho rằng, lẽ ra đã hứa hẹn để mở nên một tương lai sáng ngời như người “láng giềng phương Đông” vì “cả hai có cùng điểm xuất phát”.
Những lý giải về sự thành công trong công cuộc Minh Trị Duy Tân, lẽ tất yếu, không bao giờ tách khỏi được một bối cảnh (trước Cải cách) đặc thù đã sẵn lắm những thuận lợi, làm Nhật Bản, trở nên khác biệt và vượt trội so với những người hàng xóm của nó khi tiến hành mở cửa.
Một dân số lớn lao hơn 30 triệu người, một nền nội thương cực kỳ phát triển cùng những nhà trí thức và hơn cả là một bộ máy quản trị “có đầu óc” là những điển hình như thế.
Thế nhưng, sự nhanh chóng trong tiến trình hiện đại hóa của quốc gia này, lẽ ra, đã không thể cứ khơi khơi mà diễn tiến nếu thiếu đi một nền tảng tối quan trọng khác: những thành tựu trong công cuộc giáo dục và tỷ lệ biết chữ thời Edo (1603 - 1868).
Bằng những cứ liệu tương đối chắc chắn, vào giữa thế kỷ XVIII, tỷ lệ biết chữ của nam giới và nữ giới Nhật Bản tại ba thành thị lớn là Tokyo (Edo), Osaka và Kyoto được cho rằng đã đạt con số ấn tượng, lần lượt là 60% và 40%.
Cho tới đầu thế kỷ XIX, ước tính đã có khoảng hơn 70% nam giới tại các nơi thành thị biết chữ trong khi con số tại các vùng nông thôn, dù khiêm tốn hơn nhưng cũng đạt mức đáng kể từ 10% tới 20% tùy theo vùng.
So với các nước châu Âu, tỷ lệ này chắc chắn là vượt trội hơn Pháp, Anh và cả phần còn lại, chỉ thua Thụy Điển và một số vùng đất nhất định của Đức, vốn vào giai đoạn này đã áp dụng “Chương trình Giáo dục Bắt buộc” (Compulsory schooling) cho con trẻ. So với các nước Đồng văn khác, lấy Việt Nam làm điển hình, thì mãi cho tới tận 1945, 90% dân số Việt Nam vẫn mù chữ, đủ cho thấy “sự kinh khủng” của những con số trên.
Nói cách khác, khi tiến hành cuộc Duy tân, Nhật Bản đã xây dựng một Nhà nước hiện đại, dựa trên nền móng vững chắc là một xã hội dân trí rất cao sẵn có nên khi áp dụng mô hình “Giáo dục Bắt buộc”, rất nhanh người dân nơi đây đã thích ứng tương đối dễ dàng với một hệ thống, mà với họ, không lấy gì làm quá lạ lẫm khi so với các Trường Terakoya (寺子屋) trong quá khứ.
Một thành công khác của tiến trình này được biểu hiện qua con số 98% trẻ em có tham gia vào chương trình Giáo dục Tiểu học vào năm 1909, tiếp tục cao hơn hầu hết những nước châu Âu cùng thời.
2. Những nguyên nhân khởi phát
Có tương đối đa dạng những nguyên do giải thích cho hiện tượng này.
Khác với những nước châu Âu như Đức hay Thụy Điển có tỷ lệ biết chữ cao thường nhờ vào các nguyên do tôn giáo (các vùng theo Tin lành có tỷ lệ biết chữ cao hơn đáng kể các vùng Công giáo La mã), chính nền chính trị và kinh tế mới là những yếu tố chính góp phần tạo ra những số ấn tượng trên của Nhật Bản.
Thời Edo, bắt đầu từ khi Tokugawa Ieyasu giành chiến thắng tại Sekigahara và thiết lập nên Mạc phủ Tokugawa tại Edo, đã mở ra một kỷ nguyên tương đối hòa bình, ổn định giúp ươm mầm cho sự phát triển của văn hóa và giao thương.
Nói về cơ cấu dân số của thời đầu Mạc Phủ theo đẳng cấp, bấy giờ, ngoài Thiên hoàng, Tướng quân và các Daimyo (Lãnh chúa) là tầng lớp thống trị cao nhất nhưng cực kỳ ít ỏi, thì còn một tầng lớp cai trị khác đông đảo hơn, chiếm từ 7% tới 8% dân số là các bushi (võ sĩ - 武士) hay samurai có địa vị quan trọng trong xã hội (theo cách phân chia của Hayashi Razan, đẳng cấp xã hội được phân chia từ cao tới thấp lần lượt là: sĩ (võ sĩ), nông, công, thương) phải tiến hành công cuộc quản lý với đại đa số 90% dân chúng còn lại.
Với sự chênh lệch như vậy, ngay từ những ngày đầu sau chiến tranh, công cuộc chuyên môn hóa và quan liêu hóa bộ máy quản lý đã được đẩy mạnh.
Giới võ sĩ, sống tại thành thị do những trắc trở về khoảng cách địa lý với đại bộ phận dân chúng và nền sản xuất, nguồn thu tô thuế chủ yếu tại các vùng nông thôn đã không thể duy trì một nền quản lý trực tiếp nên buộc phải dùng tới hệ thống các luật lệ và sắc lệnh, được thể hiện dưới dạng các văn bản viết để từ đó điều hành và ra lệnh.
Người mũ chữ, tất yếu, không thể đọc hiểu các sắc lệnh như thế. Do vậy, khởi phát từ chính trong nội bộ nhóm tầng lớp thấp nhất này - những người nông dân đã kiếm ra cho mình được một động lực để học chữ nhằm mục đích chính yếu là thi hành mệnh lệnh và nhiệm vụ được giao của các tầng lớp trên, kế đến là để bảo vệ quyền lợi của mình trước những bất công tiềm tàng là dễ bị các quan lại tham nhũng, lừa đảo số thuế, lợi dụng sự thất học của bản thân.
Công cuộc giao thương đóng một vai trò quan trọng khác. Với việc nguồn thuế được quy đổi ra thành các hộc gạo (koku) và sự trỗi dậy của các thành thị lớn với dân số lên tới cả triệu dân như Edo (Tokyo) hay hơn 40 vạn tại Osaka, Kyoto như những điểm tập kết, mua bán hàng hóa, thuế để chuyển về Edo.
Lúc này chữ nghĩa và con số lúc này với giới quan lại, Lãnh chúa và cả những người nông dân và thương nhân, nó mang ý nghĩa của những nguồn lợi nhuận có tính sống còn để duy trì cuộc sống cá nhân và cũng là để nuôi cả một hệ thống thương mãi và chế độ cai trị còn lớn hơn thế.
Chính vì vậy, nhu cầu đi học, biết chữ lại hóa ra một nhu cầu thiết yếu quan trọng như đời sống. Và đó là chưa kể đến quan niệm truyền thống Nho giáo Á Đông về mặt lý thuyết, rằng những người biết chữ là những người được xã hội trọng vọng vì đọc hiểu được lẽ thánh hiền và về mặt thực dụng, “người hay chữ” sẽ luôn có khả năng thăng tiến dễ dàng hơn trong quan lộ và có thể, là nhờ kiến thức của mình mà luôn “giữ thế tay trên” với đại đa số những người khác.
Một niềm tin về sự cần thiết trong việc biết chữ rõ ràng đã được biện minh và vào năm 1627, tại Kyoto khi Yoshida Mitsuyoshi xuất bản Jinkoki (塵劫記) - “một quyển sách giáo khoa Toán thực dụng” đã trở thành một “Best-seller” suốt thời Edo, minh chứng cho sự quan tâm của người dân xứ sở này với những con số có liên hệ với vận mệnh của họ.
Có một nguyên do khác có thể lý giải cho sự nảy nở của nền học vấn và tỷ lệ biết chữ của dân chúng ở khắp Nhật Bản vào giai đoạn đầu Edo - sự chuyển đổi từ vai trò chiến đấu sang vai trò dạy học của tầng lớp võ sĩ.
Sau khi nạn binh đao chấm dứt, đã ghi nhận một tình trạng “dư thừa” về số người nằm trong lực lượng vũ trang do các Lãnh chúa và Mạc phủ lúc này không còn phải luôn chực chờ, đề phòng việc quân bị để giao tranh lẫn nhau nữa. Nhiều “võ sĩ thất nghiệp”, lúc này buộc phải tận dụng một ưu thế khác của bản thân để kiếm sống nhằm duy trì địa vị (cao) xã hội; đó là biết chữ và “hiểu nhiều”.
Nhờ các kỹ năng này họ có thể trở thành những ông thầy dạy trẻ và địa điểm tổ chức dạy học thường là nằm tại các ngôi đền hay chùa mà sau này đã nổi danh với tên gọi “Trường Dạy Viết” Terakoya (寺子屋).
Năm 1722, trong một bức thư, một viên chức của Chính quyền Mạc Phủ đã đề cập tới việc có hơn 800 Terakoya tại khắp các nơi trong thành Edo.
Quy mô của các Terakoya được cho là một mảng lưới bao phủ rộng khắp mọi nơi tại Nhật Bản, tập trung và được chuyên môn hóa cao độ tại các nơi thành thị lớn, nhất là ba đô thị vừa kể trên. Điều này đã đảm bảo cho trẻ em, xuất thân từ mọi tầng lớp đều có điều kiện được đi học nếu chúng mong muốn.
Rõ ràng việc đi học cho trẻ nhỏ dường như thật sự trở thành một tiêu chuẩn xã hội, khi dù chưa bao giờ được Chính quyền Trung ương tổ chức dưới một mô hình nghiêm ngặt và đồng nhất như tại các nước phương Tây, cho tới cuối thời kỳ Tokugawa, khắp Nhật Bản đã ghi nhận sự tồn tại của gần 11.000 Terakoya với sự tham dự của gần 800.000 học sinh.
Một tiêu biểu là vào 1858, nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi đã thành lập nên một Terakoya chuyên dạy các môn học phương Tây, chính là tiền thân của Đại học Keio danh giá sau này.
Nhìn lại vào Việt Nam, tính đến năm 1940, toàn bộ ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với nhiều sự đầu tư (cũng như kìm hãm) của Chính quyền Thuộc địa mới chỉ ghi nhận tổng cộng 576.650 học sinh theo học ở mọi cấp bậc khác nhau.
Sự so sánh chưa kể đến các Trường được Mạc phủ thành lập và bảo trợ, phục vụ cho tầng lớp Võ sĩ và Quý tộc, vốn sẽ còn có tính chuyên môn và chất lượng giảng dạy cao hơn.
Nói cách khác, nhờ vào nền giáo dục dân lập, người Nhật từng bước tạo dựng được cho mình, không những là một nền học vấn cá nhân mà còn là cả một bầu không khí văn hóa - học thuật chung đã góp phần vào việc định hình nên bản sắc và tư tưởng của một dân tộc thống nhất theo kiểu sơ khai.
3. Sách và văn hóa đọc nở rộ thời Edo
Còn một phương diện khác, đáng để bàn tới là sự bùng nổ của số lượng sách xuất bản và nở rộ của văn hóa đọc thời Edo.
Khi một bộ phận lớn dân chúng biết chữ, công năng của việc này từng bước chuyển từ các lĩnh vực liên quan tới công việc sang cả nền văn hóa đại chúng, theo cách hiểu của chúng ta hiện nay.
Do sự hạn chế về phương tiện giải trí của thời đại, sách nổi lên như một công cụ hiệu quả, phục vụ được cho nhu cầu tìm hiểu và giải khuây của mọi từng lớp, từ nông dân cho đến Daimyo.
Một hình thức nhà sách/thư viện được mang tên Kashihonya (貸本屋) đã trỗi dậy nhằm phục vụ cho đại chúng. Các cửa hàng này tồn tại bằng cách mở ra dịch vụ cho khách thuê/mượn các sách vở trong một thời gian nhất định với mức phí chỉ bằng một phần tư hay một phần năm giá gốc.
Các sách vở trong thời kỳ này cũng cực kỳ đa dạng về thể loại và chủ đề từ sách dạy nấu ăn, làm vườn, hướng dẫn các kỹ thuật thủ công, nghệ thuật, kịch nghệ, tiếu lâm cho đến các tiểu thuyết về tình cảm, văn hóa thành thị, thơ ca…đi song hành với tỷ lệ biết chữ tăng cũng tức là sẽ có càng nhiều những tác giả, nhà viết văn vô danh hay nổi danh ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu của quần chúng.
Cho tới đầu thế kỷ XVIII, tại Edo đã ghi nhận có gần 700 Kashihonya đang hoạt động và con số này tại các nơi khác như Osaka hay Kyoto lẽ dĩ nhiên cũng không kém cạnh.
Ngoài ra, cũng còn hàng trăm các Thư viện, Nhà học khác tồn tại trong khu vực của các Chùa, cơ sở tôn giáo, lãnh địa Lãnh chúa hay Hoàng gia, Mạc phủ với công tác bảo quản sách vở kỹ lưỡng và kỹ thuật in bành trướng đã trở thành những tụ điểm trí thức đã đào tạo nên “thầy của những ông thầy” cho mọi thế hệ người Nhật Bản.
Điều này lý giải vì sao, khi cuộc Duy tân Minh Trị bắt đầu, nước Nhật đã không lâm vào một tình thế “nhân tài như sao sớm mùa thu” mà trái lại, các trí thức với tư tưởng uyên bác hiện diện ở khắp muôn nơi đã trở thành lực lượng nhân sự nòng cốt cho sự bổ khuyết vào cái vị trí thiết yếu trong bộ máy quản trị non trẻ (sau khi tiêu diệt bộ máy Mạc phủ trước đây).
Có thể thấy học vấn đóng vai trò nền tảng quyết định không chỉ tương lai của một cá nhân mà còn là vận mệnh và sự hưng thịnh của cả một quốc gia. Như một câu nói trong quyển Khuyến học của cụ Fukuzawa Yukichi: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng; nếu có khác biệt là do học vấn mà thôi”.
1. Tỷ lệ biết chữ và nền giáo dục thời Edo: Chỉ dấu quan trọng cho thành công của Minh Trị Duy Tân
Khởi phát từ năm 1868 với sự tái lập của Quyền lực Hoàng gia, nước Nhật chỉ trong vòng chưa tới nửa thế kỷ, đạt được cái mà Giáo sư Tsujimoto Masashi mô tả là một “Kỳ tích trong Lịch sử Thế giới”, rằng: “Cuộc Duy tân thần tốc đã biến một “quốc gia lạc hậu” thành một liệt cường có đủ sức ganh đua với Thái Tây, đánh bại nước Nga Sa hoàng và giành vị thế trọng yếu trên chính trường thế giới (sau Chiến tranh Thế giới I)”.
Hiếm giống dân da vàng nào lúc bấy giờ mà không mơ tưởng tới một ngày giống nòi mình được rạng danh như Nhật Bản.
Tới ngày nay, chắc nhiều người Việt chúng ta không biết rằng từng có những Bản Điều trần đề nghị Canh tân của Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện hay Nguyễn Lộ Trạch…đã bị thẳng thừng bác bỏ bởi vua quan nhà Nguyễn, vốn được họ cho rằng, lẽ ra đã hứa hẹn để mở nên một tương lai sáng ngời như người “láng giềng phương Đông” vì “cả hai có cùng điểm xuất phát”.
Những lý giải về sự thành công trong công cuộc Minh Trị Duy Tân, lẽ tất yếu, không bao giờ tách khỏi được một bối cảnh (trước Cải cách) đặc thù đã sẵn lắm những thuận lợi, làm Nhật Bản, trở nên khác biệt và vượt trội so với những người hàng xóm của nó khi tiến hành mở cửa.
Một dân số lớn lao hơn 30 triệu người, một nền nội thương cực kỳ phát triển cùng những nhà trí thức và hơn cả là một bộ máy quản trị “có đầu óc” là những điển hình như thế.
Thế nhưng, sự nhanh chóng trong tiến trình hiện đại hóa của quốc gia này, lẽ ra, đã không thể cứ khơi khơi mà diễn tiến nếu thiếu đi một nền tảng tối quan trọng khác: những thành tựu trong công cuộc giáo dục và tỷ lệ biết chữ thời Edo (1603 - 1868).
Bằng những cứ liệu tương đối chắc chắn, vào giữa thế kỷ XVIII, tỷ lệ biết chữ của nam giới và nữ giới Nhật Bản tại ba thành thị lớn là Tokyo (Edo), Osaka và Kyoto được cho rằng đã đạt con số ấn tượng, lần lượt là 60% và 40%.
Cho tới đầu thế kỷ XIX, ước tính đã có khoảng hơn 70% nam giới tại các nơi thành thị biết chữ trong khi con số tại các vùng nông thôn, dù khiêm tốn hơn nhưng cũng đạt mức đáng kể từ 10% tới 20% tùy theo vùng.
So với các nước châu Âu, tỷ lệ này chắc chắn là vượt trội hơn Pháp, Anh và cả phần còn lại, chỉ thua Thụy Điển và một số vùng đất nhất định của Đức, vốn vào giai đoạn này đã áp dụng “Chương trình Giáo dục Bắt buộc” (Compulsory schooling) cho con trẻ. So với các nước Đồng văn khác, lấy Việt Nam làm điển hình, thì mãi cho tới tận 1945, 90% dân số Việt Nam vẫn mù chữ, đủ cho thấy “sự kinh khủng” của những con số trên.
Nói cách khác, khi tiến hành cuộc Duy tân, Nhật Bản đã xây dựng một Nhà nước hiện đại, dựa trên nền móng vững chắc là một xã hội dân trí rất cao sẵn có nên khi áp dụng mô hình “Giáo dục Bắt buộc”, rất nhanh người dân nơi đây đã thích ứng tương đối dễ dàng với một hệ thống, mà với họ, không lấy gì làm quá lạ lẫm khi so với các Trường Terakoya (寺子屋) trong quá khứ.
Một thành công khác của tiến trình này được biểu hiện qua con số 98% trẻ em có tham gia vào chương trình Giáo dục Tiểu học vào năm 1909, tiếp tục cao hơn hầu hết những nước châu Âu cùng thời.
2. Những nguyên nhân khởi phát
Có tương đối đa dạng những nguyên do giải thích cho hiện tượng này.
Khác với những nước châu Âu như Đức hay Thụy Điển có tỷ lệ biết chữ cao thường nhờ vào các nguyên do tôn giáo (các vùng theo Tin lành có tỷ lệ biết chữ cao hơn đáng kể các vùng Công giáo La mã), chính nền chính trị và kinh tế mới là những yếu tố chính góp phần tạo ra những số ấn tượng trên của Nhật Bản.
Thời Edo, bắt đầu từ khi Tokugawa Ieyasu giành chiến thắng tại Sekigahara và thiết lập nên Mạc phủ Tokugawa tại Edo, đã mở ra một kỷ nguyên tương đối hòa bình, ổn định giúp ươm mầm cho sự phát triển của văn hóa và giao thương.
Nói về cơ cấu dân số của thời đầu Mạc Phủ theo đẳng cấp, bấy giờ, ngoài Thiên hoàng, Tướng quân và các Daimyo (Lãnh chúa) là tầng lớp thống trị cao nhất nhưng cực kỳ ít ỏi, thì còn một tầng lớp cai trị khác đông đảo hơn, chiếm từ 7% tới 8% dân số là các bushi (võ sĩ - 武士) hay samurai có địa vị quan trọng trong xã hội (theo cách phân chia của Hayashi Razan, đẳng cấp xã hội được phân chia từ cao tới thấp lần lượt là: sĩ (võ sĩ), nông, công, thương) phải tiến hành công cuộc quản lý với đại đa số 90% dân chúng còn lại.
Với sự chênh lệch như vậy, ngay từ những ngày đầu sau chiến tranh, công cuộc chuyên môn hóa và quan liêu hóa bộ máy quản lý đã được đẩy mạnh.
Giới võ sĩ, sống tại thành thị do những trắc trở về khoảng cách địa lý với đại bộ phận dân chúng và nền sản xuất, nguồn thu tô thuế chủ yếu tại các vùng nông thôn đã không thể duy trì một nền quản lý trực tiếp nên buộc phải dùng tới hệ thống các luật lệ và sắc lệnh, được thể hiện dưới dạng các văn bản viết để từ đó điều hành và ra lệnh.
Người mũ chữ, tất yếu, không thể đọc hiểu các sắc lệnh như thế. Do vậy, khởi phát từ chính trong nội bộ nhóm tầng lớp thấp nhất này - những người nông dân đã kiếm ra cho mình được một động lực để học chữ nhằm mục đích chính yếu là thi hành mệnh lệnh và nhiệm vụ được giao của các tầng lớp trên, kế đến là để bảo vệ quyền lợi của mình trước những bất công tiềm tàng là dễ bị các quan lại tham nhũng, lừa đảo số thuế, lợi dụng sự thất học của bản thân.
Công cuộc giao thương đóng một vai trò quan trọng khác. Với việc nguồn thuế được quy đổi ra thành các hộc gạo (koku) và sự trỗi dậy của các thành thị lớn với dân số lên tới cả triệu dân như Edo (Tokyo) hay hơn 40 vạn tại Osaka, Kyoto như những điểm tập kết, mua bán hàng hóa, thuế để chuyển về Edo.
Lúc này chữ nghĩa và con số lúc này với giới quan lại, Lãnh chúa và cả những người nông dân và thương nhân, nó mang ý nghĩa của những nguồn lợi nhuận có tính sống còn để duy trì cuộc sống cá nhân và cũng là để nuôi cả một hệ thống thương mãi và chế độ cai trị còn lớn hơn thế.
Chính vì vậy, nhu cầu đi học, biết chữ lại hóa ra một nhu cầu thiết yếu quan trọng như đời sống. Và đó là chưa kể đến quan niệm truyền thống Nho giáo Á Đông về mặt lý thuyết, rằng những người biết chữ là những người được xã hội trọng vọng vì đọc hiểu được lẽ thánh hiền và về mặt thực dụng, “người hay chữ” sẽ luôn có khả năng thăng tiến dễ dàng hơn trong quan lộ và có thể, là nhờ kiến thức của mình mà luôn “giữ thế tay trên” với đại đa số những người khác.
Một niềm tin về sự cần thiết trong việc biết chữ rõ ràng đã được biện minh và vào năm 1627, tại Kyoto khi Yoshida Mitsuyoshi xuất bản Jinkoki (塵劫記) - “một quyển sách giáo khoa Toán thực dụng” đã trở thành một “Best-seller” suốt thời Edo, minh chứng cho sự quan tâm của người dân xứ sở này với những con số có liên hệ với vận mệnh của họ.
Có một nguyên do khác có thể lý giải cho sự nảy nở của nền học vấn và tỷ lệ biết chữ của dân chúng ở khắp Nhật Bản vào giai đoạn đầu Edo - sự chuyển đổi từ vai trò chiến đấu sang vai trò dạy học của tầng lớp võ sĩ.
Sau khi nạn binh đao chấm dứt, đã ghi nhận một tình trạng “dư thừa” về số người nằm trong lực lượng vũ trang do các Lãnh chúa và Mạc phủ lúc này không còn phải luôn chực chờ, đề phòng việc quân bị để giao tranh lẫn nhau nữa. Nhiều “võ sĩ thất nghiệp”, lúc này buộc phải tận dụng một ưu thế khác của bản thân để kiếm sống nhằm duy trì địa vị (cao) xã hội; đó là biết chữ và “hiểu nhiều”.
Nhờ các kỹ năng này họ có thể trở thành những ông thầy dạy trẻ và địa điểm tổ chức dạy học thường là nằm tại các ngôi đền hay chùa mà sau này đã nổi danh với tên gọi “Trường Dạy Viết” Terakoya (寺子屋).
Năm 1722, trong một bức thư, một viên chức của Chính quyền Mạc Phủ đã đề cập tới việc có hơn 800 Terakoya tại khắp các nơi trong thành Edo.
Quy mô của các Terakoya được cho là một mảng lưới bao phủ rộng khắp mọi nơi tại Nhật Bản, tập trung và được chuyên môn hóa cao độ tại các nơi thành thị lớn, nhất là ba đô thị vừa kể trên. Điều này đã đảm bảo cho trẻ em, xuất thân từ mọi tầng lớp đều có điều kiện được đi học nếu chúng mong muốn.
Rõ ràng việc đi học cho trẻ nhỏ dường như thật sự trở thành một tiêu chuẩn xã hội, khi dù chưa bao giờ được Chính quyền Trung ương tổ chức dưới một mô hình nghiêm ngặt và đồng nhất như tại các nước phương Tây, cho tới cuối thời kỳ Tokugawa, khắp Nhật Bản đã ghi nhận sự tồn tại của gần 11.000 Terakoya với sự tham dự của gần 800.000 học sinh.
Một tiêu biểu là vào 1858, nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi đã thành lập nên một Terakoya chuyên dạy các môn học phương Tây, chính là tiền thân của Đại học Keio danh giá sau này.
Nhìn lại vào Việt Nam, tính đến năm 1940, toàn bộ ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với nhiều sự đầu tư (cũng như kìm hãm) của Chính quyền Thuộc địa mới chỉ ghi nhận tổng cộng 576.650 học sinh theo học ở mọi cấp bậc khác nhau.
Sự so sánh chưa kể đến các Trường được Mạc phủ thành lập và bảo trợ, phục vụ cho tầng lớp Võ sĩ và Quý tộc, vốn sẽ còn có tính chuyên môn và chất lượng giảng dạy cao hơn.
Nói cách khác, nhờ vào nền giáo dục dân lập, người Nhật từng bước tạo dựng được cho mình, không những là một nền học vấn cá nhân mà còn là cả một bầu không khí văn hóa - học thuật chung đã góp phần vào việc định hình nên bản sắc và tư tưởng của một dân tộc thống nhất theo kiểu sơ khai.
3. Sách và văn hóa đọc nở rộ thời Edo
Còn một phương diện khác, đáng để bàn tới là sự bùng nổ của số lượng sách xuất bản và nở rộ của văn hóa đọc thời Edo.
Khi một bộ phận lớn dân chúng biết chữ, công năng của việc này từng bước chuyển từ các lĩnh vực liên quan tới công việc sang cả nền văn hóa đại chúng, theo cách hiểu của chúng ta hiện nay.
Do sự hạn chế về phương tiện giải trí của thời đại, sách nổi lên như một công cụ hiệu quả, phục vụ được cho nhu cầu tìm hiểu và giải khuây của mọi từng lớp, từ nông dân cho đến Daimyo.
Một hình thức nhà sách/thư viện được mang tên Kashihonya (貸本屋) đã trỗi dậy nhằm phục vụ cho đại chúng. Các cửa hàng này tồn tại bằng cách mở ra dịch vụ cho khách thuê/mượn các sách vở trong một thời gian nhất định với mức phí chỉ bằng một phần tư hay một phần năm giá gốc.
Các sách vở trong thời kỳ này cũng cực kỳ đa dạng về thể loại và chủ đề từ sách dạy nấu ăn, làm vườn, hướng dẫn các kỹ thuật thủ công, nghệ thuật, kịch nghệ, tiếu lâm cho đến các tiểu thuyết về tình cảm, văn hóa thành thị, thơ ca…đi song hành với tỷ lệ biết chữ tăng cũng tức là sẽ có càng nhiều những tác giả, nhà viết văn vô danh hay nổi danh ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu của quần chúng.
Cho tới đầu thế kỷ XVIII, tại Edo đã ghi nhận có gần 700 Kashihonya đang hoạt động và con số này tại các nơi khác như Osaka hay Kyoto lẽ dĩ nhiên cũng không kém cạnh.
Ngoài ra, cũng còn hàng trăm các Thư viện, Nhà học khác tồn tại trong khu vực của các Chùa, cơ sở tôn giáo, lãnh địa Lãnh chúa hay Hoàng gia, Mạc phủ với công tác bảo quản sách vở kỹ lưỡng và kỹ thuật in bành trướng đã trở thành những tụ điểm trí thức đã đào tạo nên “thầy của những ông thầy” cho mọi thế hệ người Nhật Bản.
Điều này lý giải vì sao, khi cuộc Duy tân Minh Trị bắt đầu, nước Nhật đã không lâm vào một tình thế “nhân tài như sao sớm mùa thu” mà trái lại, các trí thức với tư tưởng uyên bác hiện diện ở khắp muôn nơi đã trở thành lực lượng nhân sự nòng cốt cho sự bổ khuyết vào cái vị trí thiết yếu trong bộ máy quản trị non trẻ (sau khi tiêu diệt bộ máy Mạc phủ trước đây).
Có thể thấy học vấn đóng vai trò nền tảng quyết định không chỉ tương lai của một cá nhân mà còn là vận mệnh và sự hưng thịnh của cả một quốc gia. Như một câu nói trong quyển Khuyến học của cụ Fukuzawa Yukichi: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng; nếu có khác biệt là do học vấn mà thôi”.

