• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Tại sao Mỹ thu thuế nhà đất cao hơn hẳn Châu Âu và Việt Nam?

Thảo luận 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,543
Reaction score
0
Points
36
Tại sao Mỹ thu thuế nhà đất cao hơn hẳn Châu Âu và Việt Nam?

1. Cơ cấu nguồn thu ngân sách của Mỹ, Châu Âu và Việt Nam

Mỗi quốc gia đều thu nhiều loại thuế khác nhau như thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sản, thuế doanh nghiệp, nhưng trọng tâm để nuôi bộ máy và chi trả cho điện, đường, trường, trạm, y tế, an ninh ở Mỹ, Châu Âu và Việt Nam lại hoàn toàn khác nhau do thiết kế thể chế.

Nền tài chính của Mỹ vận hành theo kiểu phân quyền triệt để và hoàn toàn không có thuế giá trị gia tăng cấp liên bang, chia làm hai tầng rõ rệt.

Ở cấp liên bang, thuế thu nhập cá nhân chiếm khoảng 48-50% tổng thu, thuế lao động và an sinh xã hội chiếm khoảng 30-35%, thuế doanh nghiệp chiếm khoảng 8-10%, dùng để chi cho quân đội, y tế quốc gia, an sinh xã hội và trả nợ công.

Ở cấp địa phương, thuế tài sản và nhà đất là trụ cột chính, trong khi bản thân cấp bang lại thu thuế tài sản rất ít; theo số liệu của Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2024, khi gộp chung ngân sách bang và địa phương, loại thuế này chiếm khoảng 38% tổng thu thuế, xếp trên thuế bán hàng khoảng 28% và thuế thu nhập khoảng 25,6%, còn ở một số học khu và quận phụ thuộc nặng vào thuế tài sản, tỷ lệ đóng góp của thuế nhà đất trong thu ngân sách địa phương có thể lên tới 70-75%, dù đây không phải mức phổ biến trên toàn quốc.

Nguồn tiền thuế nhà đất này dùng trực tiếp để chi cho trường học công lập, cảnh sát địa phương, cứu hỏa, dọn rác, sửa đường nội khu. Đặc trưng của Mỹ là không đánh thuế nặng vào tiêu dùng chung, nhưng đánh rất nặng vào thu nhập cá nhân và gia sản, nhà đất.

Mô hình Châu Âu là mô hình nhà nước phúc lợi, chính phủ đứng ra lo từ y tế, giáo dục miễn phí đến giao thông công cộng.

Theo dữ liệu Eurostat và OECD, thuế tiêu dùng và VAT chiếm khoảng 30-35% tổng ngân sách, với mức thuế suất VAT phổ biến từ 19% đến 25% tùy nước.
- Thuế thu nhập cá nhân và đóng góp an sinh xã hội chiếm tới 45-50% tổng ngân sách, mức thuế thu nhập bậc cao có thể lên tới 45-55%.
- Thuế tài sản và nhà đất chỉ chiếm khoảng 3-5% tổng thu ngân sách, thuế doanh nghiệp chiếm khoảng 7-9%.
- Nguồn tiền từ VAT và thuế thu nhập khổng lồ này gom về ngân sách trung ương để chi cho y tế toàn dân miễn phí, giáo dục đại học miễn phí, hệ thống giao thông công cộng, trợ cấp thất nghiệp và hưu trí.

Việt Nam thuộc nhóm các nền kinh tế đang phát triển, nơi việc quản lý thu nhập cá nhân chưa thể bao quát toàn bộ do tỷ lệ giao dịch tiền mặt và khu vực kinh tế phi chính thức còn lớn, nên hệ thống thuế nghiêng mạnh về các khoản dễ thu.

Theo cơ cấu thu ngân sách nhà nước, thuế tiêu dùng gồm VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất nhập khẩu chiếm phần lớn nhất tổng thu ngân sách, các khoản thu liên quan đến đất đai và tài nguyên như tiền giao đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế chuyển nhượng bất động sản chiếm một tỷ trọng đáng kể, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng đóng góp lớn, trong khi thuế thu nhập cá nhân chỉ chiếm một phần nhỏ.

Riêng thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tức thuế nhà đất hàng năm kiểu Mỹ, theo số liệu công bố của Bộ Tài chính chỉ chiếm chưa tới 1% tổng thu ngân sách, gần như không đáng kể, dù tỷ trọng này có thể thay đổi theo năm và theo cách tính có gộp tiền sử dụng đất một lần hay không.

Nguồn ngân sách tập trung này được trung ương phân bổ để chi cho đầu tư phát triển hạ tầng quy mô lớn như cao tốc, sân bay, cảng biển, quốc phòng an ninh, giáo dục công lập và y tế.

Người dân Mỹ đóng góp chủ yếu qua hóa đơn nhà đất hàng năm và bảng lương thu nhập cá nhân.
Người dân Châu Âu đóng góp chủ yếu qua giá hàng hóa hàng ngày đã cộng sẵn VAT cao và bảng lương bị cắt trừ nặng cho thuế thu nhập và an sinh xã hội.
Người dân Việt Nam đóng góp chủ yếu khi mua sắm hàng hóa dịch vụ, vì VAT đã cộng sẵn vào giá, và khi giao dịch mua bán đất đai qua tiền sử dụng đất ban đầu, chứ không bị áp lực bởi thuế thu nhập cá nhân diện rộng hay thuế giữ nhà đất hàng năm.

Xét về tổng gánh nặng thuế thực tế, tức tổng tất cả các loại thuế mà một người phải gánh chịu gồm thuế thu nhập, bảo hiểm an sinh xã hội, thuế tiêu dùng và thuế tài sản, Châu Âu là nơi người dân phải đóng thuế nhiều nhất, tiếp theo là Mỹ, còn Việt Nam có tỷ lệ gánh nặng thuế trên thu nhập thực tế ở mức thấp nhất trong ba khu vực.

Châu Âu vận hành theo mô hình nhà nước phúc lợi nên thu thuế rất nặng từ mọi ngóc ngách, với mức thuế thu nhập bậc cao và VAT đã nêu ở trên đều thuộc hàng cao nhất thế giới.

Vì mọi khoản thuế cộng dồn lên từng cá nhân, ngay cả người có thu nhập trung bình ở các nước như Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Điển cũng dễ mất từ 30-40% tiền lương chỉ riêng cho thuế thu nhập và bảo hiểm xã hội bắt buộc, chưa tính VAT khi chi tiêu. Tính chung, tỷ lệ thu thuế trên GDP của các nước EU thường đạt từ 38% đến 46%, thuộc hàng cao nhất thế giới.

Mỹ có tỷ lệ đóng thuế thấp hơn Châu Âu nhưng cấu trúc thuế lại gây cảm giác đau đớn trực tiếp hơn vì có thuế nhà đất đắt đỏ.

Thuế thu nhập liên bang cộng tiểu bang và an sinh xã hội dao động từ 15% đến 35% tùy thu nhập và tiểu bang, các bang như California, New York có thuế thu nhập rất cao trong khi Texas, Florida không có thuế thu nhập tiểu bang.

Thuế tiêu dùng khá thấp so với Châu Âu, chỉ dao động từ 0% đến 10% tùy thành phố. Thuế tài sản, nhà đất rất cao, từ 1% đến 2,5% giá trị căn nhà mỗi năm, một căn nhà 500.000 USD có thể khiến chủ nhà mất 5.000-12.000 USD tiền thuế mỗi năm bất kể có thu nhập hay không.

Tỷ lệ thu thuế trên GDP của Mỹ chỉ khoảng 25-27%.

So với Âu, Mỹ, gánh nặng thuế trực tiếp lên đại đa số người dân Việt Nam thấp hơn đáng kể.

Biểu thuế thu nhập cá nhân lũy tiến có mức tối đa 35%, nhưng nhờ các khoản giảm trừ gia cảnh khá linh hoạt, đại đa số người lao động phổ thông và trung lưu đóng mức thuế thực tế khá thấp, thường dưới 5-10% thu nhập, nhiều người không phải đóng, chỉ nhóm thu nhập cao mới chịu ảnh hưởng rõ rệt.

Mức thuế VAT phổ biến là 8-10%, thấp hơn nhiều so với 20-25% của Châu Âu. Thuế nhà đất hàng năm cực kỳ thấp, chỉ khoảng 0,03% theo bảng giá nhà nước.

Tỷ lệ thu ngân sách từ thuế và phí trên GDP của Việt Nam dao động khoảng 16-19%.

2. Thuế nhà đất và thuế thừa kế ở Mỹ rất khó để bãi bỏ

Loại thuế này rất khó bãi bỏ - tỷ lệ gần như bằng 0 - để nước Mỹ bỏ hoàn toàn thuế nhà đất và thuế thừa kế.

Việc hạ thấp thuế thừa kế cho người dân đã và đang xảy ra, còn thuế nhà đất gần như là hơi thở của bộ máy chính quyền địa phương nên khó có thể xóa bỏ.

Thuế nhà đất ở Mỹ không nộp cho chính quyền liên bang mà nộp trực tiếp cho chính quyền địa phương, chủ yếu là quận, thành phố hoặc học khu nơi người dân sinh sống, một số bang có thêm thuế tài sản cấp bang nhưng phần lớn nguồn thu vẫn thuộc về địa phương.

Khoản thuế này trả lương cho cảnh sát, lính chữa cháy, dịch vụ cấp cứu 911, nhân viên dọn rác, và duy trì đường xá, công viên địa phương. Bỏ thuế này đồng nghĩa thành phố phá sản, không có cảnh sát giữ an ninh, rác thải không ai dọn.

Chất lượng trường học công lập ở Mỹ phụ thuộc rất lớn vào thuế nhà đất của khu vực đó, khu giàu đóng thuế cao có trường học hiện đại và thầy cô giỏi, khu nghèo đóng thuế thấp có trường học xập xệ. Nếu bỏ thuế nhà đất, chính quyền thành phố sẽ phải tăng vọt thuế thu nhập hoặc thuế tiêu dùng để bù vào, người dân vẫn mất tiền chỉ dưới một tên gọi khác.

Ngược lại, thuế tài sản khi qua đời của liên bang Mỹ, tiếng Anh gọi là estate tax, trên thực tế chỉ đánh vào giới siêu giàu, đại đa số người dân bình thường không phải đóng.

Cần phân biệt rõ, liên bang Mỹ không có inheritance tax, tức loại thuế đánh vào phần tài sản mà từng người thừa kế nhận được, mà chỉ có estate tax đánh vào tổng di sản trước khi chia cho người thừa kế.

Theo quy định có hiệu lực từ năm 2026 sau khi được luật One Big Beautiful Bill Act quy định không có ngày hết hạn, ngưỡng miễn thuế di sản và quà tặng liên bang là 15 triệu USD/người, tương đương 30 triệu USD cho một cặp vợ chồng nhờ cơ chế portability.

Điều này có nghĩa đại đa số người dân Mỹ khi qua đời chuyển giao nhà cửa, tiền bạc cho con cái hoàn toàn không tốn một xu thuế di sản liên bang, loại thuế này sinh ra chỉ để đánh vào nhóm gia đình siêu giàu có tài sản vượt xa ngưỡng đó.

Giới siêu giàu và doanh nghiệp gia đình vẫn vận động hành lang rất mạnh để hạ hoặc bỏ thuế di sản, gọi lái loại thuế này thành "Death Tax" để tranh thủ sự ủng hộ của dân thường. Lập luận của họ là tài sản đã bị đánh thuế thu nhập khi làm ra, khi chết đi lại bị đánh thuế lần nữa là bất công.

Thuế di sản liên bang có thể tiếp tục được giảm bớt hoặc nâng ngưỡng miễn thuế cao hơn nếu phe Cộng hòa nắm quyền, nhưng để xóa bỏ hoàn toàn thì rất khó vì phe Dân chủ muốn dùng loại thuế này để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

Bức tranh miễn thuế rộng rãi này chỉ đúng ở cấp liên bang, nhiều bang như Massachusetts, Oregon, New York, Maryland, Pennsylvania vẫn duy trì thuế di sản hoặc thuế thừa kế riêng của bang với ngưỡng miễn thuế thấp hơn nhiều, nên một số cư dân có tài sản trung bình khá vẫn phải đóng thuế ở cấp bang dù không tốn đồng nào ở cấp liên bang.

Nếu Mỹ bỏ hoàn toàn hai loại thuế này, một kịch bản khắc nghiệt có thể xảy ra.

Không có thuế nhà đất, giới tài phiệt và các quỹ đầu tư bất động sản có thể gom sạch nhà đất và ôm hàng trăm năm không bán vì giữ đất không tốn chi phí duy trì, khiến người trẻ bản địa vĩnh viễn không mua nổi nhà do nguồn cung bị đầu cơ tích trữ hết, còn giới siêu giàu tích lũy tài sản qua hàng chục thế hệ mà không hao hụt, tạo ra một tầng lớp giàu có cha truyền con nối trong khi dân thường mãi mãi đi thuê nhà.

Dịch vụ công cộng cũng sẽ hỗn loạn, đường xá ổ gà, không có cảnh sát tuần tra khi bị trộm cướp, trường công lập thiếu ngân sách trầm trọng.

Nước Mỹ vận hành theo triết lý "you get what you pay for", tức người dân nhận lại đúng những gì đã trả tiền, và thuế nhà đất cao chính là một dạng phí hội viên bắt buộc để được sống trong một cộng đồng an toàn, văn minh và có hạ tầng tốt.

Dù ở Mỹ, Châu Âu hay Việt Nam, tiền xây đường, trả lương cảnh sát, làm trường học hay bệnh viện đều từ tiền túi người dân mà ra, không có dịch vụ công nào thực sự miễn phí, chỉ là chính phủ chọn rút tiền từ túi người dân qua con đường nào: qua hóa đơn nhà đất hàng năm ở Mỹ, qua giá hàng hóa hàng ngày ở Châu Âu và Việt Nam, qua bảng lương hàng tháng ở Châu Âu và Mỹ, qua tiền mua và đấu giá đất ban đầu ở Việt Nam.

Cốt lõi lý do khiến Mỹ không bao giờ chuyển sang mô hình thuế gom về trung ương như Châu Âu hay Việt Nam nằm ở triết lý thành lập quốc gia.

Nước Mỹ ra đời từ một cuộc cách mạng chống thuế, các bang thuộc địa nổi dậy chống Vua Anh với khẩu hiệu "No taxation without representation". Người Mỹ từ xưa đã coi chính phủ liên bang ở Washington D.C là một bộ máy xa xôi, cồng kềnh và dễ lãng phí tiền bạc, trong khi tin tưởng chính quyền địa phương của mình hơn nhiều.

Khi đóng thuế nhà đất cho địa phương, người dân nhìn thấy ngay tiền thuế đó biến thành chiếc xe chữa cháy mới ở đầu phố, trả lương cho cô giáo đang dạy con họ ở trường công trong khu, và có quyền đi họp hội đồng thành phố để chất vấn trực tiếp thị trưởng hoặc trưởng cảnh sát khu vực về việc chi tiêu tiền thuế.

Mỗi nơi vì thế chấp nhận một sự bức xúc riêng. Người Mỹ chấp nhận cằn nhằn về hóa đơn thuế nhà đất mỗi năm, nhưng thà chịu đau đớn cục bộ ở địa phương còn hơn giao toàn bộ chiếc ví đó cho chính phủ liên bang quản lý rồi chia lại.

Người Châu Âu chấp nhận mất 40-50% lương và VAT cao vì có văn hóa tin tưởng vào một nhà nước sẽ chăm sóc y tế, giáo dục và an sinh cho họ từ khi sinh ra đến khi qua đời.

Người Việt Nam và Đông Á chấp nhận đóng thuế gián tiếp, cảm thấy nhẹ nhàng hơn khi mua sắm hàng hóa dù giá đã gồm VAT hoặc trả tiền đất một lần, thay vì mỗi năm nhận một hóa đơn thuế đòi tiền trực tiếp từ chính quyền.

Sự khác biệt về hệ thống thuế giữa các nước không phải do nước này thông minh hơn nước kia trong quản lý tài chính, mà do lựa chọn văn hóa và lịch sử. Người Mỹ chọn sự tự chủ địa phương và phân quyền, thuế nhà đất chính là cái giá bắt buộc phải trả để duy trì sự tự chủ đó.

3. Sự khác nhau giữa hệ thống an sinh xã hội Mỹ, Châu Âu, Việt Nam

Các hình thức và tỷ lệ thu thuế quyết định trực tiếp đến bản chất của hệ thống an sinh xã hội. Dù trong ngân sách liên bang Mỹ, các khoản chi cho an sinh xã hội như Social Security và Medicare chiếm tỷ trọng rất lớn, cách thức an sinh xã hội ở Mỹ vận hành khác biệt hoàn toàn so với Châu Âu.

Mô hình an sinh của Mỹ dựa trên triết lý phải đi làm, đóng thuế đủ số năm mới được hưởng an sinh, an sinh là một hình thức bảo hiểm bắt buộc chứ không phải quà tặng miễn phí từ nhà nước.
- Về y tế, chính phủ liên bang chỉ lo cho người trên 65 tuổi qua Medicare hoặc người cực nghèo dưới chuẩn nghèo qua Medicaid, còn đại đa số người lao động từ 18-64 tuổi bắt buộc phải tự mua bảo hiểm tư nhân thường qua công ty làm việc, nếu mất việc thì lập tức mất bảo hiểm.
- Về hưu trí, tiền lương hưu Social Security dựa trực tiếp vào số tiền đã đóng thuế FICA trong quá trình đi làm, làm lương cao đóng nhiều thì hưu cao, không đi làm thì không có gì, nhiều người còn phải tự tích lũy thêm qua các quỹ đầu tư tư nhân như 401(k) hoặc IRA.


Châu Âu dựa trên triết lý an sinh xã hội là quyền con người, bất kể giàu hay nghèo, có đi làm hay thất nghiệp, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cuộc sống cơ bản.
- Y tế toàn dân được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn thuế thu nhập và VAT siêu cao mà cả xã hội đã đóng, mọi người dân vào bệnh viện công đều được khám chữa bệnh miễn phí hoặc chi phí cực thấp.
- Học đại học hầu như miễn phí, cha mẹ sinh con được nghỉ thai sản có lương tới 1-2 năm, trong khi ở Mỹ chế độ nghỉ thai sản có lương tùy thuộc hoàn toàn vào chính sách từng công ty vì luật liên bang không bắt buộc trả lương thai sản. Nếu mất việc, chính phủ trả trợ cấp thất nghiệp kéo dài, có thể lên tới 60-80% mức lương cũ trong 1-2 năm.


Việt Nam thu thuế chủ yếu qua thuế gián thu và thu nhập còn ở mức đang phát triển, nên ưu tiên chi tiêu công khác Âu, Mỹ.
- Phần lớn nguồn thu ngân sách ưu tiên cho đầu tư phát triển hạ tầng như đường cao tốc, sân bay, cảng biển, điện lưới để tạo động lực tăng trưởng kinh tế, thay vì dồn nhiều vào trợ cấp sinh hoạt.
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế vận hành theo hướng chia sẻ rủi ro, bảo hiểm y tế bao phủ hơn 90% dân số với mức phí rẻ so với Mỹ, nhưng mức chi trả và trợ cấp thất nghiệp, lương hưu vẫn ở mức vừa phải, chưa bao cấp toàn diện như Châu Âu.


Do an sinh nhà nước chưa bao phủ 100% mọi khía cạnh cuộc sống, xã hội Việt Nam và Đông Á vẫn phụ thuộc nhiều vào mạng lưới an sinh gia đình, con cái chăm sóc cha mẹ khi về già, dòng họ đùm bọc lẫn nhau khi gặp biến cố.

Ở Châu Âu, người dân đóng thuế rất đau, mất nửa tiền lương và 20% khi mua đồ, nhưng bù lại không bao giờ sợ phá sản vì bệnh tật hay không có tiền cho con đi học.

Ở Mỹ, người dân giữ lại được nhiều tiền lương hơn, nhưng sống trong áp lực canh cánh: mất việc là mất bảo hiểm y tế, ốm nặng có thể vỡ nợ, con cái phải gánh nợ để đi học đại học.

Ở Việt Nam, thuế trực tiếp nhẹ nhàng, chi phí sống linh hoạt, nhà nước hỗ trợ hạ tầng và y tế cơ bản, phần còn lại người dân chủ động tích lũy và đùm bọc theo quy mô gia đình.

4. Mô hình thuế và an sinh nào là tối ưu theo giới nghiên cứu?

Nếu loại bỏ toàn bộ rào cản về thể chế, lịch sử và tư tưởng chính trị để tìm một mô hình tối ưu nhất trên lý thuyết, giới kinh tế học và chính sách công toàn cầu không chọn hoàn toàn Mỹ, Châu Âu hay bất kỳ mô hình truyền thống nào, mà hướng tới một mô hình lai kết hợp tính hiệu quả của thị trường với sự an toàn của phúc lợi xã hội.

Về phía thu thuế, nhiều nhà kinh tế học từ các trường phái khác nhau đồng ý rằng thuế thu nhập và thuế doanh nghiệp truyền thống gây ra tổn thất vô ích, càng đánh thuế nặng vào lao động và kinh doanh, người ta càng lười làm việc và bớt đầu tư.

Hình thức được đánh giá tối ưu về mặt kinh tế học là thuế giá trị đất đai theo lý thuyết Henry George, chỉ đánh thuế vào giá trị của vị trí đất chứ không đánh vào công trình xây trên đó, vì đất đai là tài nguyên cố định, không ai mang đất đi giấu hay bỏ trốn sang nước khác được nên đánh thuế đất triệt tiêu nạn đầu cơ và ép chủ đất phải đưa đất vào sản xuất kinh doanh.

Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Milton Friedman từng gọi thuế giá trị đất đai là "the least bad tax", còn nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz phát triển một định lý mang tên Henry George, cho rằng trong những điều kiện nhất định thuế đất có thể tài trợ đủ cho hàng hóa công mà không gây méo mó thị trường.

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng ủng hộ đánh thuế nặng vào những thứ gây hại cho xã hội như thuế carbon với ô nhiễm môi trường, thuế tiêu thụ đồ có đường, rượu, thuốc lá, thay vì đánh thuế vào thu nhập làm ra từ sức lao động.

Về phía an sinh xã hội, các nhà nghiên cứu nhận thấy mô hình kiểu Mỹ quá khắc nghiệt còn mô hình Châu Âu truyền thống thì quá cồng kềnh, dễ tạo tâm lý ỷ lại.

Mô hình được xem là tối ưu là sự kết hợp lấy cảm hứng từ Đan Mạch, gọi là flexicurity hay linh hoạt an toàn: doanh nghiệp được tự do sa thải nhân viên khi làm ăn thất bát mà không có luật lệ rườm rà bắt buộc bồi thường đắt đỏ, nhờ đó dám mạnh dạn tuyển dụng và mở rộng sản xuất, đổi lại khi người lao động bị sa thải, nhà nước đứng ra trả ngay 70-80% lương cũ và bắt buộc hỗ trợ đào tạo lại nghề mới.

Một hướng khác được đề xuất là thu nhập cơ bản toàn dân hoặc thuế thu nhập âm, phát thẳng một khoản tiền cơ bản cho mọi công dân không cần điều kiện, đủ để không ai chết đói hay văng ra đường, còn ai muốn sống giàu sang hơn thì vẫn phải đi làm, giữ nguyên động lực lao động.

Về dịch vụ công, phần lớn các nhà nghiên cứu thừa nhận mô hình y tế và giáo dục công lập của Châu Âu vượt trội so với Mỹ. Trong mô hình y tế toàn dân một người trả duy nhất, nhà nước đứng ra làm người mua duy nhất để đàm phán giá thuốc và chi phí y tế với các tập đoàn dược phẩm, giúp chi phí y tế toàn xã hội rẻ hơn nhiều so với để các công ty bảo hiểm tư nhân tự định giá như ở Mỹ.

Giáo dục đại học do ngân sách hỗ trợ giúp đảm bảo bình đẳng về cơ hội cho thế hệ trẻ, tránh vòng lặp bố mẹ nghèo khiến con phải gánh nợ đi học rồi tiếp tục nghèo.

Nếu được chọn một mô hình tối ưu lý tưởng, giới nghiên cứu sẽ chọn một nền kinh tế đánh thuế mạnh vào đất đai và sự ô nhiễm thay vì đánh thuế sức lao động, một thị trường lao động tự do linh hoạt như Mỹ, nhưng có tấm lưới an sinh y tế và giáo dục toàn dân như Bắc Âu, kết hợp thêm một bộ máy hành chính nhỏ gọn và số hóa theo kiểu Estonia hay Singapore.
Buddy Up - Văn hóa xã hội
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom