- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,600
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Vì sao Cộng Sản phát triển ở Nga chứ không phải Tây Âu?
Chủ nghĩa Marx là một lý thuyết sinh ra ở phương Tây nhưng lại không thắng thế tại chính phương Tây.
Karl Marx xây dựng học thuyết của mình dựa trên bức tranh công nghiệp hóa của nước Anh và Đức, và ông dự đoán cách mạng vô sản sẽ nổ ra đầu tiên ở những nước tư bản phát triển nhất, nơi mâu thuẫn giai cấp và sức mạnh của giai cấp công nhân lên đến đỉnh điểm.
Dự đoán này của Marx đã sai. Tây Âu, nhờ đã phát triển đủ chín chắn để dùng phúc lợi xã hội và cơ chế dân chủ nghị viện xoa dịu công nhân, đã tránh được cách mạng bạo lực. Ngược lại, chính Nga, một đế quốc nông nghiệp lạc hậu với cấu trúc phong kiến chuyên chế và chế độ nông nô kéo dài, mới là nơi mô hình cộng sản kiểu Lenin bùng nổ và giành chiến thắng đầu tiên.
1. Bối cảnh thế giới trong giai đoạn này
Để trả lời câu hỏi vì sao chủ nghĩa cộng sản thắng thế ở Nga chứ không phải ở Tây Âu, trước tiên cần xác định điều gì tạo ra một cuộc cách mạng lật đổ trật tự cũ, và nước Pháp năm 1789 là trường hợp duy nhất trên thế giới hội tụ đầy đủ các điều kiện đó cùng một lúc, trở thành chuẩn để đối chiếu với Liên Xô ở các phần sau.
Xã hội Pháp khi đó chia thành ba đẳng cấp.
- Đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc chỉ chiếm khoảng 2% dân số nhưng nắm phần lớn đất đai, hưởng đặc quyền chính trị và gần như không phải nộp thuế.
- Đẳng cấp thứ ba, chiếm khoảng 98% dân số còn lại gồm nông dân, công nhân và tầng lớp tư sản, gánh toàn bộ nghĩa vụ thuế khóa nhưng không có quyền lực chính trị.
Tầng lớp tư sản Pháp khi đó đã giàu có và tri thức nhưng bị chặn đứng con đường tiến thân vào bộ máy nhà nước, và sự bức bối này trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng.
Pháp cũng là trung tâm của phong trào Khai sáng châu Âu, quê hương của Voltaire, Rousseau và Montesquieu. Tư tưởng về tự do, bình đẳng, phân chia quyền lực và khế ước xã hội đã lan rộng sâu trong giới trí thức và tư sản Pháp, cho họ một hệ tư tưởng hoàn chỉnh để bác bỏ quyền lực tuyệt đối của nhà vua.
Song song đó, tài chính nhà nước Pháp kiệt quệ vì các cuộc chiến tranh, đặc biệt là khoản chi viện cho Cách mạng Mỹ nhằm trả đũa Anh. Thiên tai các năm 1788 và 1789 khiến giá bánh mì tăng vọt, đẩy nông dân và người nghèo thành thị vào cảnh bần cùng, biến sự phẫn nộ của giới trí thức thành bạo động thực sự trên đường phố.
Các cường quốc châu Âu khác không rơi vào tình cảnh tương tự.
- Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng tư sản của mình từ năm 1688, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến với một quốc hội cho tầng lớp tư sản tiếng nói chính trị, nên áp lực cách mạng đã được giải tỏa từ trước đó cả thế kỷ.
- Phổ và Áo theo đuổi mô hình chuyên chế khai sáng, trong đó các vị vua chủ động cải cách từ trên xuống để xoa dịu xã hội và củng cố quyền lực của chính mình.
Nước Pháp thì ngược lại rơi vào thế chế độ cũ không chịu cải cách trong khi tư sản đã đủ mạnh và quần chúng đã cùng đường, nên chỉ có cách mạng mới giải quyết được bế tắc.
Không chỉ các cường quốc châu Âu, vào năm 1789 không một châu lục nào khác trên thế giới có một cuộc cách mạng mang bản chất giống Cách mạng Pháp, dù lý do ở mỗi nơi khác nhau.
Tại châu Á, các đế chế phong kiến tập quyền lớn như nhà Thanh, Đế quốc Ottoman và Nhật Bản thời Mạc phủ Tokugawa vẫn kiểm soát xã hội chặt chẽ, trong khi Đế quốc Mughal ở Ấn Độ vào thời điểm này đã suy yếu sâu trước sức ép của các thế lực địa phương như Maratha và sự bành trướng của công ty Đông Ấn Anh, không còn là một trung tâm quyền lực tập trung như trước.
Phần lớn dân chúng châu Á lúc đó chưa tiếp xúc với tư tưởng Khai sáng phương Tây, còn tầng lớp thương nhân nói chung bị coi là hạng thấp trong trật tự xã hội truyền thống.
Nhật Bản áp dụng chính sách hạn chế ngoại thương nghiêm ngặt trong giai đoạn này, còn nhà Thanh không đóng cửa hoàn toàn mà chỉ giới hạn giao thương phương Tây qua một số cảng nhất định như Quảng Châu, nhưng ở cả hai nước bộ máy phong kiến vẫn đủ sức kiểm soát xã hội và chưa rơi vào khủng hoảng tài chính như triều đình Pháp.
Tại châu Mỹ, phần lớn vùng đất khi đó vẫn là thuộc địa của các cường quốc châu Âu.
- Bắc Mỹ đã nổ ra Cách mạng Mỹ năm 1776, sớm hơn Pháp 13 năm, nhưng đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Anh, chứ không phải cuộc cách mạng xã hội lật đổ giai cấp phong kiến nội bộ như ở Pháp.
- Các cuộc cách mạng độc lập ở Nam Mỹ chỉ bùng nổ từ năm 1808 đến năm 1826, khi ngọn lửa từ Pháp lan sang làm suy yếu Tây Ban Nha.
Tại châu Phi, xã hội lúc đó đang chịu tàn phá của nạn buôn bán nô lệ qua Đại Tây Dương, và dù có nhiều vương quốc và cấu trúc chính trị bản địa đa dạng, phần lớn khu vực không hình thành được những nhà nước tập quyền quy mô lớn theo kiểu phong kiến châu Âu, cũng chưa có tầng lớp tư sản hay trí thức đô thị đóng vai trò tương tự như ở Pháp.
Châu Đại Dương khi đó vừa mới có tiếp xúc trực tiếp đầu tiên với người châu Âu, tiêu biểu là các chuyến đi của James Cook trong thập niên 1770, và các xã hội bản địa ở đây, dù đã có lịch sử lâu đời trước đó, chưa trải qua quá trình phân hóa giai cấp phức tạp theo mô hình nhà nước kiểu châu Âu.
2. Nước Nga thế kỷ XVIII
Nếu đem so với Pháp năm 1789, nước Nga cùng thời kỳ thiếu hẳn những điều kiện cấu trúc cần thiết cho một cuộc cách mạng tư sản.
Kinh tế Nga khi đó vẫn thuần nông, thương mại và công nghiệp phát triển chậm so với Tây Âu. Tầng lớp chủ xưởng và thương nhân Nga tồn tại được là nhờ sự bảo hộ, đặc quyền hoặc đơn hàng từ hoàng gia và giới quý tộc, nên họ phụ thuộc chặt chẽ vào chính quyền phong kiến để làm ăn.
Do đó tầng lớp tư sản Nga không có ý thức giai cấp độc lập và không có động lực đòi hỏi quyền lực chính trị cho riêng mình như tư sản Pháp.
Đa số dân cư Nga khi đó là nông nô, thuộc sở hữu của quý tộc hoặc nhà nước, không có quyền tự do đi lại và bị xem như một loại tài sản có thể mua bán, thế chấp hay gán nợ. Quý tộc Nga có quyền lực gần như tuyệt đối trên lãnh địa của mình, và từ năm 1760 còn được nhà nước trao quyền tự ý đày nông nô đi lao động khổ sai ở Siberia vì các lỗi mà họ tự cho là bất phục tùng.
Vì bị gắn chặt vào từng làng xã và bị địa chủ quản lý trực tiếp, nông nô chỉ có thể bùng phát thành những cuộc nổi dậy mang tính địa phương và bột phát, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Pugachev diễn ra từ năm 1773 đến năm 1775, chứ không thể tổ chức thành một phong trào cách mạng toàn quốc.
Hơn 90% dân số Nga thời kỳ này không biết chữ, nên các tác phẩm của Voltaire, Rousseau hay Montesquieu gần như không thể tiếp cận được đến quần chúng.
Nữ hoàng Catherine Đại đế từng thư từ qua lại với Voltaire trong nhiều năm, nhưng đó chỉ là công cụ phô trương trí tuệ và ngoại giao của triều đình, không đi kèm cải cách thể chế nào, và khi Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789 bà đã trở nên cảnh giác với chính những tư tưởng đó.
Năm 1790, sau khi nhà văn Alexander Radishchev xuất bản tác phẩm mô tả cảnh khốn cùng của nông nô Nga, Catherine đã cho cấm sách, kết án tử hình ông rồi giảm xuống án lưu đày tới vùng Ilimsk ở Siberia.
Bên cạnh đó, Giáo hội Chính thống giáo Nga duy trì tư tưởng trung quân, dạy dân chúng nhẫn nại và coi Sa hoàng là đại diện của Chúa trên mặt đất, khiến mọi mầm mống phản kháng về tư tưởng bị dập tắt từ trong trứng nước.
Những rào cản trực tiếp này bắt nguồn từ ba khoảng cách lịch sử kéo dài hàng thế kỷ giữa Nga và Tây Âu.
- Về địa lý, từ thế kỷ XV và XVI, Anh, Pháp, Hà Lan và Tây Ban Nha đã bước vào kỷ nguyên khám phá hàng hải, phát triển thương mại đường biển và làm giàu cho tầng lớp thương nhân của mình. Nga thì ngược lại là một đại lục mênh mông, chủ yếu là đất liền, bị băng giá bao bọc phía bắc và có rất ít khả năng tiếp cận các vùng biển ấm trong nhiều thế kỷ, nên phần lớn đứng ngoài các tuyến thương mại đại dương sầm uất mà Tây Âu khai thác.
- Về di sản lịch sử, trong khi Tây Âu thời Trung Cổ xây dựng đô thị, trường đại học và thương mại, thì nước Nga từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV bị Đế quốc Mông Cổ, cụ thể là Kim Trướng Hãn Quốc, xâm lược và cai trị trong gần 250 năm. Cuộc thống trị này san phẳng nhiều đô thị Nga và hạn chế nghiêm trọng sự liên lạc giữa Nga với phần còn lại của châu Âu trong nhiều thế kỷ.
Sau khi thoát khỏi ách Mông Cổ, các Sa hoàng đã kế thừa mô hình tập trung quyền lực tuyệt đối của người Mông Cổ, coi đất đai và con người là tài sản của nhà vua, tạo nên một chế độ chuyên chế khắc nghiệt hơn phần lớn vương triều Tây Âu cùng thời.
- Về tôn giáo và văn hóa, sau cuộc ly giáo năm 1054 chia Kitô giáo thành hai nhánh, Tây Âu theo Công giáo La Mã và kế thừa di sản luật pháp cùng truyền thống tranh luận của La Mã và Hy Lạp cổ đại. Nga tiếp nhận Chính thống giáo từ Đế quốc Byzantine, trong đó Sa hoàng được coi là người do Chúa chọn để lãnh đạo cả giáo hội lẫn quốc gia, còn dân chúng được dạy phải tuyệt đối phục tùng.
Sự phân tách tôn giáo này khiến Nga không trải qua phong trào Phục hưng hay Cải cách Tôn giáo, hai bước đệm tư tưởng quan trọng đã giúp Tây Âu giải phóng trí tuệ khỏi khuôn khổ phong kiến.
3. Các biến động từ năm 1861 đến năm 1917
Nước Nga không đứng yên suốt từ thế kỷ XVIII đến năm 1917.
Năm 1861, Sa hoàng Alexander II ban hành sắc lệnh bãi bỏ chế độ nông nô, giải phóng khoảng 23 triệu nông nô. Tuy nhiên nông dân phải trả tiền chuộc đất trong nhiều năm và phần đất tốt vẫn thuộc về giới quý tộc, nên cải cách này mang lại lợi ích cho địa chủ nhiều hơn cho nông dân.
Một bộ phận nông dân mất đất phải rời làng ra thành phố làm công nhân, từ đó hình thành giai cấp công nhân công nghiệp đô thị mà trước đó nước Nga gần như chưa có.
Dù vậy, tầng lớp tư sản Nga vẫn không trở nên độc lập và mạnh mẽ như tư sản Tây Âu. Công nghiệp Nga cuối thế kỷ XIX phát triển chủ yếu nhờ vốn đầu tư nước ngoài và các đơn đặt hàng của nhà nước, nên giới sử học và chính các nhà cách mạng Nga thời đó thường gọi đây là một nền kinh tế tư bản nửa vời, phát triển về quy mô công nghiệp nhưng vẫn phụ thuộc vào bên ngoài và vào chính quyền chuyên chế, không hình thành được một giai cấp tư sản dân tộc đủ sức lãnh đạo cải cách chính trị.
Năm 1905, thất bại của Nga trong chiến tranh với Nhật Bản cùng với sự kiện Ngày Chủ nhật Đẫm máu, khi quân đội nổ súng vào đoàn người biểu tình ôn hòa do linh mục Georgy Gapon dẫn đầu tại Petersburg vào tháng 1, đã châm ngòi cho làn sóng bãi công và nổi dậy trên khắp nước Nga.
Lần đầu tiên công nhân lập ra xô viết, tức hội đồng đại biểu công nhân, tiêu biểu nhất là Xô viết Petersburg, và Sa hoàng buộc phải ban hành bản tuyên ngôn tháng 10 hứa hẹn thành lập một nghị viện gọi là Duma. Trên thực tế những nhượng bộ này chỉ mang tính hình thức, và Lenin về sau gọi cuộc cách mạng năm 1905 là cuộc tổng dượt mà nếu thiếu nó thì thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười năm 1917 khó có thể xảy ra.
Sau năm 1905, Thủ tướng Pyotr Stolypin tiến hành một loạt cải cách ruộng đất nhằm phá vỡ mô hình công xã làng xã mir, tạo ra một tầng lớp nông dân sở hữu ruộng đất cá thể và trung thành với chế độ, tương tự con đường mà nước Anh và Pháp từng đi qua. Cải cách này bị giới quý tộc bảo thủ trong triều đình cản trở, và chính Stolypin bị ám sát năm 1911, nên đến khi Thế chiến thứ nhất nổ ra phần lớn nông dân Nga vẫn còn gắn bó với ruộng đất công xã.
Đây là nỗ lực cải cách từ bên trong cuối cùng của chế độ Sa hoàng, và sự thất bại của nó cho thấy chính quyền cũ đã không còn khả năng tự thay đổi trước khi bị lật đổ hoàn toàn.
Bên cạnh sự bế tắc cải cách đó, truyền thống chuyên chế tập quyền kiểu phương Đông, kế thừa từ thời Mông Cổ, khiến nước Nga không có cơ chế đối thoại hay xoa dịu mâu thuẫn xã hội như quốc hội hay hiến pháp ở Tây Âu. Khi quần chúng bế tắc, cách duy nhất để thay đổi là đập tan toàn bộ bộ máy nhà nước.
Nông dân Nga còn sống theo mô hình cộng đồng làng xã gọi là mir, có sẵn tính chất sinh hoạt tập thể và chia sẻ đất đai, khiến tâm lý cộng đồng thấm sâu vào người dân Nga hơn hẳn tính cá nhân chủ nghĩa đã hình thành ở Tây Âu.
Trong khi đó, tầng lớp tư sản Tây Âu sau các cuộc bạo động thế kỷ XIX đã khôn khéo nhượng bộ công nhân bằng cách tăng lương, giảm giờ làm và cho phép thành lập công đoàn cùng các đảng xã hội dân chủ đấu tranh qua nghị viện. Công nhân Tây Âu nhờ đó có cuộc sống tương đối ổn định và dần mất đi động lực làm cách mạng bạo lực, còn công nhân Nga không có công đoàn bảo vệ, không có quyền bầu cử và gần như không có gì để mất.
Lenin nhận ra dự đoán ban đầu của Marx không khớp với thực tế và phát triển lý thuyết mắt xích yếu nhất, dựa trên phân tích về chủ nghĩa đế quốc và sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn cầu.
Theo Lenin, hệ thống tư bản thế giới sẽ sụp đổ trước tiên tại mắt xích yếu nhất trong chuỗi liên kết của nó chứ không phải ở nơi tư bản phát triển mạnh nhất, và nước Nga chính là mắt xích yếu đó vì vừa lạc hậu kinh tế vừa có giai cấp thống trị suy yếu.
Trong khi Marx tin rằng giai cấp công nhân sẽ tự phát giác ngộ làm cách mạng, Lenin cho rằng nếu để tự phát thì công nhân chỉ dừng lại ở đòi tăng lương theo tư tưởng công đoàn.
Để hoạt động được trong điều kiện cảnh sát mật Sa hoàng theo dõi gắt gao, Lenin xây dựng Đảng Bolshevik thành một tổ chức những nhà cách mạng chuyên nghiệp, kỷ luật chặt chẽ và hoạt động bí mật. Ngược lại, các đảng dân chủ xã hội và phong trào công nhân ở Tây Âu như Đức, Pháp, Ý hoạt động công khai và bị chi phối bởi bầu cử nghị viện nên dễ bị phân rã hoặc bị chính quyền tư sản đàn áp khi có biến cố.
Nước Nga dưới thời Sa hoàng bị lôi vào Thế chiến thứ nhất khi nền kinh tế và quân sự chưa sẵn sàng. Hàng triệu binh lính vốn là nông dân đã chết ngoài mặt trận trong khi dân chúng chết đói ở hậu phương, khiến chính quyền Sa hoàng sụp đổ năm 1917 và tạo ra một khoảng trống quyền lực lớn.
Khẩu hiệu của Lenin là hòa bình, ruộng đất và bánh mì đã đánh trúng nguyện vọng cấp bách của nông dân và binh lính Nga vào đúng thời điểm đó.
4. Mẫu số chung của các cuộc cách mạng Cộng Sản
Công trình so sánh lịch sử của Theda Skocpol về ba cuộc cách mạng Pháp, Nga và Trung Quốc, cùng những nghiên cứu mở rộng khung phân tích cấu trúc này sang các cuộc cách mạng nông dân khác của thế kỷ XX, đã chỉ ra một số đặc điểm cấu trúc lặp lại ở những nơi phong trào cộng sản giành được chính quyền, tiêu biểu là Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Cuba.
Giống như Nga, các nước này đều là xã hội nông nghiệp lạc hậu chứ không phải các nền kinh tế công nghiệp hóa như lý thuyết ban đầu của Marx giả định, với nông dân chiếm 80 đến 90% dân số và bị bóc lột nặng nề bởi địa chủ hoặc ách thống trị thực dân.
Ở Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên, văn hóa làng xã mang tính cộng đồng cao đã giúp dân chúng dễ tiếp nhận tư tưởng công hữu và tập thể, tương tự mô hình mir của nông dân Nga.
Cuba là một trường hợp khác biệt hơn trong nhóm này, vì phần lớn nông dân ở đây làm thuê trên các đồn điền mía thuộc sở hữu tư bản chứ không sống theo mô hình công xã làng, nên động lực cách mạng ở Cuba đến từ quan hệ bóc lột lao động làm thuê nhiều hơn là từ văn hóa cộng đồng làng xã.
Ở cả năm quốc gia, chính quyền cũ đều rơi vào bế tắc chính trị không thể tự cải cách.
- Chế độ nhà Thanh ở Trung Quốc sụp đổ dẫn đến thời kỳ quân phiệt cát cứ rồi chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tham nhũng và suy yếu.
- Ở Việt Nam, triều Nguyễn trở thành tay sai cho thực dân Pháp và mất khả năng điều hành thực chất.
- Triều Tiên bị Nhật Bản đô hộ suốt 35 năm cho đến khi Nhật bại trận năm 1945, để lại một khoảng trống quyền lực trên bán đảo.
- Ở Cuba, chế độ độc tài quân sự Batista tàn bạo, tham nhũng và phụ thuộc nặng nề vào Mỹ.
Không nước nào trong số này có truyền thống dân chủ nghị viện hay xã hội dân sự để người dân đấu tranh ôn hòa như ở Tây Âu, nên cách mạng bạo lực hoặc sự áp đặt từ bên ngoài trở thành con đường thay đổi chính quyền.
Khác với Nga, nơi cách mạng chủ yếu giải quyết mâu thuẫn giai cấp nội bộ, phong trào cộng sản ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Cuba còn gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân hoặc đế quốc.
Việc kết hợp khẩu hiệu bình đẳng giai cấp với khẩu hiệu độc lập dân tộc đã giúp các đảng cộng sản tại đây thu hút không chỉ công nhân và nông dân mà cả trí thức, tiểu tư sản và những người theo chủ nghĩa dân tộc.
Ở Trung Quốc, Việt Nam và Cuba, một đảng tiên phong kỷ luật cao theo mô hình Bolshevik đã tự mình lãnh đạo đấu tranh vũ trang và giành chính quyền, với các lãnh đạo như Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Fidel Castro và Che Guevara xây dựng được lực lượng gắn kết chặt chẽ với quần chúng, biết chớp thời cơ khi chính quyền cũ suy yếu vì những biến cố lớn như Thế chiến thứ hai làm lung lay các đế quốc thực dân phương Tây và Nhật Bản.
Triều Tiên là một biến thể của mô hình này. Bán đảo này vốn đã có phong trào cộng sản và các lực lượng du kích kháng Nhật bản địa từ trước năm 1945, nhưng chính quyền cộng sản ở miền Bắc cuối cùng không hình thành từ một cuộc khởi nghĩa nội sinh tự giành lấy chính quyền trên toàn quốc như ở Trung Quốc, Việt Nam hay Cuba, mà được củng cố và đưa lên nắm quyền dưới sự hậu thuẫn trực tiếp của quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc bán đảo từ năm 1945, với Kim Nhật Thành, một chỉ huy du kích từng được huấn luyện tại Liên Xô, được chọn làm lãnh đạo.
Chủ nghĩa Marx là một lý thuyết sinh ra ở phương Tây nhưng lại không thắng thế tại chính phương Tây.
Karl Marx xây dựng học thuyết của mình dựa trên bức tranh công nghiệp hóa của nước Anh và Đức, và ông dự đoán cách mạng vô sản sẽ nổ ra đầu tiên ở những nước tư bản phát triển nhất, nơi mâu thuẫn giai cấp và sức mạnh của giai cấp công nhân lên đến đỉnh điểm.
Dự đoán này của Marx đã sai. Tây Âu, nhờ đã phát triển đủ chín chắn để dùng phúc lợi xã hội và cơ chế dân chủ nghị viện xoa dịu công nhân, đã tránh được cách mạng bạo lực. Ngược lại, chính Nga, một đế quốc nông nghiệp lạc hậu với cấu trúc phong kiến chuyên chế và chế độ nông nô kéo dài, mới là nơi mô hình cộng sản kiểu Lenin bùng nổ và giành chiến thắng đầu tiên.
1. Bối cảnh thế giới trong giai đoạn này
Để trả lời câu hỏi vì sao chủ nghĩa cộng sản thắng thế ở Nga chứ không phải ở Tây Âu, trước tiên cần xác định điều gì tạo ra một cuộc cách mạng lật đổ trật tự cũ, và nước Pháp năm 1789 là trường hợp duy nhất trên thế giới hội tụ đầy đủ các điều kiện đó cùng một lúc, trở thành chuẩn để đối chiếu với Liên Xô ở các phần sau.
Xã hội Pháp khi đó chia thành ba đẳng cấp.
- Đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc chỉ chiếm khoảng 2% dân số nhưng nắm phần lớn đất đai, hưởng đặc quyền chính trị và gần như không phải nộp thuế.
- Đẳng cấp thứ ba, chiếm khoảng 98% dân số còn lại gồm nông dân, công nhân và tầng lớp tư sản, gánh toàn bộ nghĩa vụ thuế khóa nhưng không có quyền lực chính trị.
Tầng lớp tư sản Pháp khi đó đã giàu có và tri thức nhưng bị chặn đứng con đường tiến thân vào bộ máy nhà nước, và sự bức bối này trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng.
Pháp cũng là trung tâm của phong trào Khai sáng châu Âu, quê hương của Voltaire, Rousseau và Montesquieu. Tư tưởng về tự do, bình đẳng, phân chia quyền lực và khế ước xã hội đã lan rộng sâu trong giới trí thức và tư sản Pháp, cho họ một hệ tư tưởng hoàn chỉnh để bác bỏ quyền lực tuyệt đối của nhà vua.
Song song đó, tài chính nhà nước Pháp kiệt quệ vì các cuộc chiến tranh, đặc biệt là khoản chi viện cho Cách mạng Mỹ nhằm trả đũa Anh. Thiên tai các năm 1788 và 1789 khiến giá bánh mì tăng vọt, đẩy nông dân và người nghèo thành thị vào cảnh bần cùng, biến sự phẫn nộ của giới trí thức thành bạo động thực sự trên đường phố.
Các cường quốc châu Âu khác không rơi vào tình cảnh tương tự.
- Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng tư sản của mình từ năm 1688, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến với một quốc hội cho tầng lớp tư sản tiếng nói chính trị, nên áp lực cách mạng đã được giải tỏa từ trước đó cả thế kỷ.
- Phổ và Áo theo đuổi mô hình chuyên chế khai sáng, trong đó các vị vua chủ động cải cách từ trên xuống để xoa dịu xã hội và củng cố quyền lực của chính mình.
Nước Pháp thì ngược lại rơi vào thế chế độ cũ không chịu cải cách trong khi tư sản đã đủ mạnh và quần chúng đã cùng đường, nên chỉ có cách mạng mới giải quyết được bế tắc.
Không chỉ các cường quốc châu Âu, vào năm 1789 không một châu lục nào khác trên thế giới có một cuộc cách mạng mang bản chất giống Cách mạng Pháp, dù lý do ở mỗi nơi khác nhau.
Tại châu Á, các đế chế phong kiến tập quyền lớn như nhà Thanh, Đế quốc Ottoman và Nhật Bản thời Mạc phủ Tokugawa vẫn kiểm soát xã hội chặt chẽ, trong khi Đế quốc Mughal ở Ấn Độ vào thời điểm này đã suy yếu sâu trước sức ép của các thế lực địa phương như Maratha và sự bành trướng của công ty Đông Ấn Anh, không còn là một trung tâm quyền lực tập trung như trước.
Phần lớn dân chúng châu Á lúc đó chưa tiếp xúc với tư tưởng Khai sáng phương Tây, còn tầng lớp thương nhân nói chung bị coi là hạng thấp trong trật tự xã hội truyền thống.
Nhật Bản áp dụng chính sách hạn chế ngoại thương nghiêm ngặt trong giai đoạn này, còn nhà Thanh không đóng cửa hoàn toàn mà chỉ giới hạn giao thương phương Tây qua một số cảng nhất định như Quảng Châu, nhưng ở cả hai nước bộ máy phong kiến vẫn đủ sức kiểm soát xã hội và chưa rơi vào khủng hoảng tài chính như triều đình Pháp.
Tại châu Mỹ, phần lớn vùng đất khi đó vẫn là thuộc địa của các cường quốc châu Âu.
- Bắc Mỹ đã nổ ra Cách mạng Mỹ năm 1776, sớm hơn Pháp 13 năm, nhưng đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Anh, chứ không phải cuộc cách mạng xã hội lật đổ giai cấp phong kiến nội bộ như ở Pháp.
- Các cuộc cách mạng độc lập ở Nam Mỹ chỉ bùng nổ từ năm 1808 đến năm 1826, khi ngọn lửa từ Pháp lan sang làm suy yếu Tây Ban Nha.
Tại châu Phi, xã hội lúc đó đang chịu tàn phá của nạn buôn bán nô lệ qua Đại Tây Dương, và dù có nhiều vương quốc và cấu trúc chính trị bản địa đa dạng, phần lớn khu vực không hình thành được những nhà nước tập quyền quy mô lớn theo kiểu phong kiến châu Âu, cũng chưa có tầng lớp tư sản hay trí thức đô thị đóng vai trò tương tự như ở Pháp.
Châu Đại Dương khi đó vừa mới có tiếp xúc trực tiếp đầu tiên với người châu Âu, tiêu biểu là các chuyến đi của James Cook trong thập niên 1770, và các xã hội bản địa ở đây, dù đã có lịch sử lâu đời trước đó, chưa trải qua quá trình phân hóa giai cấp phức tạp theo mô hình nhà nước kiểu châu Âu.
2. Nước Nga thế kỷ XVIII
Nếu đem so với Pháp năm 1789, nước Nga cùng thời kỳ thiếu hẳn những điều kiện cấu trúc cần thiết cho một cuộc cách mạng tư sản.
Kinh tế Nga khi đó vẫn thuần nông, thương mại và công nghiệp phát triển chậm so với Tây Âu. Tầng lớp chủ xưởng và thương nhân Nga tồn tại được là nhờ sự bảo hộ, đặc quyền hoặc đơn hàng từ hoàng gia và giới quý tộc, nên họ phụ thuộc chặt chẽ vào chính quyền phong kiến để làm ăn.
Do đó tầng lớp tư sản Nga không có ý thức giai cấp độc lập và không có động lực đòi hỏi quyền lực chính trị cho riêng mình như tư sản Pháp.
Đa số dân cư Nga khi đó là nông nô, thuộc sở hữu của quý tộc hoặc nhà nước, không có quyền tự do đi lại và bị xem như một loại tài sản có thể mua bán, thế chấp hay gán nợ. Quý tộc Nga có quyền lực gần như tuyệt đối trên lãnh địa của mình, và từ năm 1760 còn được nhà nước trao quyền tự ý đày nông nô đi lao động khổ sai ở Siberia vì các lỗi mà họ tự cho là bất phục tùng.
Vì bị gắn chặt vào từng làng xã và bị địa chủ quản lý trực tiếp, nông nô chỉ có thể bùng phát thành những cuộc nổi dậy mang tính địa phương và bột phát, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Pugachev diễn ra từ năm 1773 đến năm 1775, chứ không thể tổ chức thành một phong trào cách mạng toàn quốc.
Hơn 90% dân số Nga thời kỳ này không biết chữ, nên các tác phẩm của Voltaire, Rousseau hay Montesquieu gần như không thể tiếp cận được đến quần chúng.
Nữ hoàng Catherine Đại đế từng thư từ qua lại với Voltaire trong nhiều năm, nhưng đó chỉ là công cụ phô trương trí tuệ và ngoại giao của triều đình, không đi kèm cải cách thể chế nào, và khi Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789 bà đã trở nên cảnh giác với chính những tư tưởng đó.
Năm 1790, sau khi nhà văn Alexander Radishchev xuất bản tác phẩm mô tả cảnh khốn cùng của nông nô Nga, Catherine đã cho cấm sách, kết án tử hình ông rồi giảm xuống án lưu đày tới vùng Ilimsk ở Siberia.
Bên cạnh đó, Giáo hội Chính thống giáo Nga duy trì tư tưởng trung quân, dạy dân chúng nhẫn nại và coi Sa hoàng là đại diện của Chúa trên mặt đất, khiến mọi mầm mống phản kháng về tư tưởng bị dập tắt từ trong trứng nước.
Những rào cản trực tiếp này bắt nguồn từ ba khoảng cách lịch sử kéo dài hàng thế kỷ giữa Nga và Tây Âu.
- Về địa lý, từ thế kỷ XV và XVI, Anh, Pháp, Hà Lan và Tây Ban Nha đã bước vào kỷ nguyên khám phá hàng hải, phát triển thương mại đường biển và làm giàu cho tầng lớp thương nhân của mình. Nga thì ngược lại là một đại lục mênh mông, chủ yếu là đất liền, bị băng giá bao bọc phía bắc và có rất ít khả năng tiếp cận các vùng biển ấm trong nhiều thế kỷ, nên phần lớn đứng ngoài các tuyến thương mại đại dương sầm uất mà Tây Âu khai thác.
- Về di sản lịch sử, trong khi Tây Âu thời Trung Cổ xây dựng đô thị, trường đại học và thương mại, thì nước Nga từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV bị Đế quốc Mông Cổ, cụ thể là Kim Trướng Hãn Quốc, xâm lược và cai trị trong gần 250 năm. Cuộc thống trị này san phẳng nhiều đô thị Nga và hạn chế nghiêm trọng sự liên lạc giữa Nga với phần còn lại của châu Âu trong nhiều thế kỷ.
Sau khi thoát khỏi ách Mông Cổ, các Sa hoàng đã kế thừa mô hình tập trung quyền lực tuyệt đối của người Mông Cổ, coi đất đai và con người là tài sản của nhà vua, tạo nên một chế độ chuyên chế khắc nghiệt hơn phần lớn vương triều Tây Âu cùng thời.
- Về tôn giáo và văn hóa, sau cuộc ly giáo năm 1054 chia Kitô giáo thành hai nhánh, Tây Âu theo Công giáo La Mã và kế thừa di sản luật pháp cùng truyền thống tranh luận của La Mã và Hy Lạp cổ đại. Nga tiếp nhận Chính thống giáo từ Đế quốc Byzantine, trong đó Sa hoàng được coi là người do Chúa chọn để lãnh đạo cả giáo hội lẫn quốc gia, còn dân chúng được dạy phải tuyệt đối phục tùng.
Sự phân tách tôn giáo này khiến Nga không trải qua phong trào Phục hưng hay Cải cách Tôn giáo, hai bước đệm tư tưởng quan trọng đã giúp Tây Âu giải phóng trí tuệ khỏi khuôn khổ phong kiến.
3. Các biến động từ năm 1861 đến năm 1917
Nước Nga không đứng yên suốt từ thế kỷ XVIII đến năm 1917.
Năm 1861, Sa hoàng Alexander II ban hành sắc lệnh bãi bỏ chế độ nông nô, giải phóng khoảng 23 triệu nông nô. Tuy nhiên nông dân phải trả tiền chuộc đất trong nhiều năm và phần đất tốt vẫn thuộc về giới quý tộc, nên cải cách này mang lại lợi ích cho địa chủ nhiều hơn cho nông dân.
Một bộ phận nông dân mất đất phải rời làng ra thành phố làm công nhân, từ đó hình thành giai cấp công nhân công nghiệp đô thị mà trước đó nước Nga gần như chưa có.
Dù vậy, tầng lớp tư sản Nga vẫn không trở nên độc lập và mạnh mẽ như tư sản Tây Âu. Công nghiệp Nga cuối thế kỷ XIX phát triển chủ yếu nhờ vốn đầu tư nước ngoài và các đơn đặt hàng của nhà nước, nên giới sử học và chính các nhà cách mạng Nga thời đó thường gọi đây là một nền kinh tế tư bản nửa vời, phát triển về quy mô công nghiệp nhưng vẫn phụ thuộc vào bên ngoài và vào chính quyền chuyên chế, không hình thành được một giai cấp tư sản dân tộc đủ sức lãnh đạo cải cách chính trị.
Năm 1905, thất bại của Nga trong chiến tranh với Nhật Bản cùng với sự kiện Ngày Chủ nhật Đẫm máu, khi quân đội nổ súng vào đoàn người biểu tình ôn hòa do linh mục Georgy Gapon dẫn đầu tại Petersburg vào tháng 1, đã châm ngòi cho làn sóng bãi công và nổi dậy trên khắp nước Nga.
Lần đầu tiên công nhân lập ra xô viết, tức hội đồng đại biểu công nhân, tiêu biểu nhất là Xô viết Petersburg, và Sa hoàng buộc phải ban hành bản tuyên ngôn tháng 10 hứa hẹn thành lập một nghị viện gọi là Duma. Trên thực tế những nhượng bộ này chỉ mang tính hình thức, và Lenin về sau gọi cuộc cách mạng năm 1905 là cuộc tổng dượt mà nếu thiếu nó thì thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười năm 1917 khó có thể xảy ra.
Sau năm 1905, Thủ tướng Pyotr Stolypin tiến hành một loạt cải cách ruộng đất nhằm phá vỡ mô hình công xã làng xã mir, tạo ra một tầng lớp nông dân sở hữu ruộng đất cá thể và trung thành với chế độ, tương tự con đường mà nước Anh và Pháp từng đi qua. Cải cách này bị giới quý tộc bảo thủ trong triều đình cản trở, và chính Stolypin bị ám sát năm 1911, nên đến khi Thế chiến thứ nhất nổ ra phần lớn nông dân Nga vẫn còn gắn bó với ruộng đất công xã.
Đây là nỗ lực cải cách từ bên trong cuối cùng của chế độ Sa hoàng, và sự thất bại của nó cho thấy chính quyền cũ đã không còn khả năng tự thay đổi trước khi bị lật đổ hoàn toàn.
Bên cạnh sự bế tắc cải cách đó, truyền thống chuyên chế tập quyền kiểu phương Đông, kế thừa từ thời Mông Cổ, khiến nước Nga không có cơ chế đối thoại hay xoa dịu mâu thuẫn xã hội như quốc hội hay hiến pháp ở Tây Âu. Khi quần chúng bế tắc, cách duy nhất để thay đổi là đập tan toàn bộ bộ máy nhà nước.
Nông dân Nga còn sống theo mô hình cộng đồng làng xã gọi là mir, có sẵn tính chất sinh hoạt tập thể và chia sẻ đất đai, khiến tâm lý cộng đồng thấm sâu vào người dân Nga hơn hẳn tính cá nhân chủ nghĩa đã hình thành ở Tây Âu.
Trong khi đó, tầng lớp tư sản Tây Âu sau các cuộc bạo động thế kỷ XIX đã khôn khéo nhượng bộ công nhân bằng cách tăng lương, giảm giờ làm và cho phép thành lập công đoàn cùng các đảng xã hội dân chủ đấu tranh qua nghị viện. Công nhân Tây Âu nhờ đó có cuộc sống tương đối ổn định và dần mất đi động lực làm cách mạng bạo lực, còn công nhân Nga không có công đoàn bảo vệ, không có quyền bầu cử và gần như không có gì để mất.
Lenin nhận ra dự đoán ban đầu của Marx không khớp với thực tế và phát triển lý thuyết mắt xích yếu nhất, dựa trên phân tích về chủ nghĩa đế quốc và sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn cầu.
Theo Lenin, hệ thống tư bản thế giới sẽ sụp đổ trước tiên tại mắt xích yếu nhất trong chuỗi liên kết của nó chứ không phải ở nơi tư bản phát triển mạnh nhất, và nước Nga chính là mắt xích yếu đó vì vừa lạc hậu kinh tế vừa có giai cấp thống trị suy yếu.
Trong khi Marx tin rằng giai cấp công nhân sẽ tự phát giác ngộ làm cách mạng, Lenin cho rằng nếu để tự phát thì công nhân chỉ dừng lại ở đòi tăng lương theo tư tưởng công đoàn.
Để hoạt động được trong điều kiện cảnh sát mật Sa hoàng theo dõi gắt gao, Lenin xây dựng Đảng Bolshevik thành một tổ chức những nhà cách mạng chuyên nghiệp, kỷ luật chặt chẽ và hoạt động bí mật. Ngược lại, các đảng dân chủ xã hội và phong trào công nhân ở Tây Âu như Đức, Pháp, Ý hoạt động công khai và bị chi phối bởi bầu cử nghị viện nên dễ bị phân rã hoặc bị chính quyền tư sản đàn áp khi có biến cố.
Nước Nga dưới thời Sa hoàng bị lôi vào Thế chiến thứ nhất khi nền kinh tế và quân sự chưa sẵn sàng. Hàng triệu binh lính vốn là nông dân đã chết ngoài mặt trận trong khi dân chúng chết đói ở hậu phương, khiến chính quyền Sa hoàng sụp đổ năm 1917 và tạo ra một khoảng trống quyền lực lớn.
Khẩu hiệu của Lenin là hòa bình, ruộng đất và bánh mì đã đánh trúng nguyện vọng cấp bách của nông dân và binh lính Nga vào đúng thời điểm đó.
4. Mẫu số chung của các cuộc cách mạng Cộng Sản
Công trình so sánh lịch sử của Theda Skocpol về ba cuộc cách mạng Pháp, Nga và Trung Quốc, cùng những nghiên cứu mở rộng khung phân tích cấu trúc này sang các cuộc cách mạng nông dân khác của thế kỷ XX, đã chỉ ra một số đặc điểm cấu trúc lặp lại ở những nơi phong trào cộng sản giành được chính quyền, tiêu biểu là Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Cuba.
Giống như Nga, các nước này đều là xã hội nông nghiệp lạc hậu chứ không phải các nền kinh tế công nghiệp hóa như lý thuyết ban đầu của Marx giả định, với nông dân chiếm 80 đến 90% dân số và bị bóc lột nặng nề bởi địa chủ hoặc ách thống trị thực dân.
Ở Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên, văn hóa làng xã mang tính cộng đồng cao đã giúp dân chúng dễ tiếp nhận tư tưởng công hữu và tập thể, tương tự mô hình mir của nông dân Nga.
Cuba là một trường hợp khác biệt hơn trong nhóm này, vì phần lớn nông dân ở đây làm thuê trên các đồn điền mía thuộc sở hữu tư bản chứ không sống theo mô hình công xã làng, nên động lực cách mạng ở Cuba đến từ quan hệ bóc lột lao động làm thuê nhiều hơn là từ văn hóa cộng đồng làng xã.
Ở cả năm quốc gia, chính quyền cũ đều rơi vào bế tắc chính trị không thể tự cải cách.
- Chế độ nhà Thanh ở Trung Quốc sụp đổ dẫn đến thời kỳ quân phiệt cát cứ rồi chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tham nhũng và suy yếu.
- Ở Việt Nam, triều Nguyễn trở thành tay sai cho thực dân Pháp và mất khả năng điều hành thực chất.
- Triều Tiên bị Nhật Bản đô hộ suốt 35 năm cho đến khi Nhật bại trận năm 1945, để lại một khoảng trống quyền lực trên bán đảo.
- Ở Cuba, chế độ độc tài quân sự Batista tàn bạo, tham nhũng và phụ thuộc nặng nề vào Mỹ.
Không nước nào trong số này có truyền thống dân chủ nghị viện hay xã hội dân sự để người dân đấu tranh ôn hòa như ở Tây Âu, nên cách mạng bạo lực hoặc sự áp đặt từ bên ngoài trở thành con đường thay đổi chính quyền.
Khác với Nga, nơi cách mạng chủ yếu giải quyết mâu thuẫn giai cấp nội bộ, phong trào cộng sản ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Cuba còn gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân hoặc đế quốc.
Việc kết hợp khẩu hiệu bình đẳng giai cấp với khẩu hiệu độc lập dân tộc đã giúp các đảng cộng sản tại đây thu hút không chỉ công nhân và nông dân mà cả trí thức, tiểu tư sản và những người theo chủ nghĩa dân tộc.
Ở Trung Quốc, Việt Nam và Cuba, một đảng tiên phong kỷ luật cao theo mô hình Bolshevik đã tự mình lãnh đạo đấu tranh vũ trang và giành chính quyền, với các lãnh đạo như Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Fidel Castro và Che Guevara xây dựng được lực lượng gắn kết chặt chẽ với quần chúng, biết chớp thời cơ khi chính quyền cũ suy yếu vì những biến cố lớn như Thế chiến thứ hai làm lung lay các đế quốc thực dân phương Tây và Nhật Bản.
Triều Tiên là một biến thể của mô hình này. Bán đảo này vốn đã có phong trào cộng sản và các lực lượng du kích kháng Nhật bản địa từ trước năm 1945, nhưng chính quyền cộng sản ở miền Bắc cuối cùng không hình thành từ một cuộc khởi nghĩa nội sinh tự giành lấy chính quyền trên toàn quốc như ở Trung Quốc, Việt Nam hay Cuba, mà được củng cố và đưa lên nắm quyền dưới sự hậu thuẫn trực tiếp của quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc bán đảo từ năm 1945, với Kim Nhật Thành, một chỉ huy du kích từng được huấn luyện tại Liên Xô, được chọn làm lãnh đạo.

