- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,635
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Vua tôi triều Nguyễn sinh hoạt hằng ngày như thế nào?
Đời sống sinh hoạt hằng ngày của vua tôi triều Nguyễn diễn ra theo nhiều tầng bậc, với sự tham gia của một số lượng lớn quan lại, hoạn quan, cung nữ, thị nữ, đầu bếp, lính phục dịch và những lực lượng chuyên trách cung ứng sản vật. Những công việc thuộc phạm vi sinh hoạt cá nhân của nhà vua, đến việc phục vụ hậu cung, quan lại đều có hệ thống phân công và quy định riêng khá rõ ràng.
Các ghi chép của bác sĩ người Pháp Charles-Édouard Hocquard trong Une campagne au Tonkin (Một chiến dịch ở Bắc Kỳ) là một trong những nguồn tư liệu phương Tây mô tả rất chân thực một số hoạt động trong và xung quanh kinh thành Huế vào cuối thế kỷ XIX. Qua những quan sát của ông, sinh hoạt của nhà vua gắn liền với một mạng lưới cung ứng rộng lớn, trải dài từ các khu chợ quanh kinh thành đến nhiều địa phương trong cả nước.
Trong hệ thống ấy, việc cung cấp thực phẩm cho hoàng cung hoàn toàn khác cung cầu của thị trường thông thường. Một phần sản vật được đưa vào triều đình theo quy định cung tiến hằng năm, một phần do các bộ phận chuyên trách tổ chức thu mua, săn bắt hoặc khai thác.
1. Gần một nghìn người phục vụ ăn uống cho triều đình
Theo Hocquard, khu vực phục vụ ăn uống của nhà vua có một đội ngũ đầu bếp rất đông, được gọi là “thượng thiện”. Ông mô tả số lượng đầu bếp lên tới gần một trăm người, mỗi người đảm trách một món ăn theo định mức được cấp phát. Họ phải nấu một món có định mức là 30 đồng kẽm (tương đương 3 đến 5 xu tiền Pháp).
Buổi sáng, những người này đi đến các khu chợ quanh kinh thành để tìm mua thực phẩm. Việc mua bán của các "thượng thiện" ở chợ mang tính áp đặt, khi họ tìm được thực phẩm phù hợp, họ đưa cho người bán hàng 30 đồng kẽm được cấp phát theo quy định, dù giá một con cá ngon thông thường ở chợ phải đến tam quan tiền (60 xu Pháp). Họ chọn khúc ngon nhất của con cá, sau đó trả cho người bán phần còn lại của con cá.
Cách thức tương tự khi mua thực phẩm tại chợ của những người phục vụ thái hậu, hoàng tử và một số gia đình quan lại. Hoạt động của những người mua thực phẩm cho cung đình trở thành một bộ phận đặc biệt trong đời sống kinh tế của khu vực kinh đô.
Việc chuẩn bị cho nhà vua được xem là cầu kỳ và cẩn trọng nhất; vì có nghi thức riêng và đòi hỏi đội ngũ phục vụ hùng hậu, chuyên nghiệp mà theo bác sĩ Hocquard nhận định “không vị vua nào ở châu Âu được phục vụ ăn uống cầu kỳ như vua xứ An Nam”.
Bên cạnh đội ngũ đầu bếp, Hocquard và các tư liệu sử học triều Nguyễn còn ghi nhận nhiều nhóm người chuyên cung cấp những loại thực phẩm nhất định.
Nổi bật là Vệ Võng Thành với 500 người chia thành 10 đội (mỗi đội 50 người), dưới sự chỉ huy của một Đội trưởng, chuyên vây bắt các loại muông thú, thú lớn trong rừng sâu để làm thực phẩm thượng hạng phục vụ các bữa ngự thiện cầu kỳ của vua Tự Đức.
Ngoài việc phục vụ bữa ăn hằng ngày cho hoàng gia, nhiệm vụ quan trọng của họ là đi săn để có đủ muông thú cung tiến lên các đền miếu, lăng tẩm triều đình vào các dịp lễ tết hoặc ngày kỵ giỗ. Vệ Võng Thành được tuyển dụng trực tiếp từ dân hai làng nằm ven núi có truyền thống săn bắn thiện nghệ nổi tiếng
Họ được tuyển dụng trực tiếp từ dân hai làng nằm ven núi có truyền thống săn bắn thiện nghệ nổi tiếng là Làng Phù Bài (Thừa Thiên Huế), Làng Thủy Ba (Quảng Trị). Để phục vụ cho việc vây bắt thú rừng, Vệ Võng Thành còn được phép nuôi dưỡng riêng một đàn chó săn chuyên nghiệp lên tới 100 con
Tiếp đến là Võ bị viên, một đội cấm binh gồm 50 người, chuyên trách việc sử dụng cung, nỏ để săn bắn các loài chim quý phục vụ cho bữa ăn của vua Tự Đức
Ngoài ra, các vùng ven biển và đảo gần bờ cũng tham gia vào hệ thống cung ứng. Những nhóm chuyên đánh bắt cá và tìm tổ yến được tổ chức thành các đơn vị cung cấp riêng. “Yến hộ” phụ trách tổ yến và “ngư hộ” phụ trách cá, mỗi đơn vị được mô tả gồm khoảng 50 người. Ngoài ra còn có một nhóm khoảng 50 người chuyên phục vụ trà nước, được gọi là “thưởng trà viên”.
Nếu lấy toàn bộ những con số trong ghi chép của Hocquard và một số nguồn khác làm cơ sở, riêng các lực lượng liên quan trực tiếp đến việc cung cấp và phục vụ ăn uống cho nhà vua đã lên tới gần 1 nghìn người. Con số này chưa bao gồm nhân lực của hoàng cung tham gia vào những công việc lặt vặt khác.
2. Từ Cung tiến đến nghi thức phục vụ ăn uống cho nhà vua
Bữa ăn của nhà vua không chỉ phụ thuộc vào nguồn cung thực phẩm quanh kinh thành. Một hệ thống cung ứng từ các địa phương khắp cả nước đưa nhiều loại sản vật về trung tâm chính trị của triều Nguyễn.
Các địa phương có thể đảm nhiệm những loại sản vật khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên, sản xuất và quy định của triều đình.
Gạo dành cho hoàng cung được lựa chọn theo những tiêu chuẩn riêng. Một số địa phương ở miền Trung cung cấp loại gạo có đặc điểm hạt ngắn, trong và hơi dẻo. Những vùng khác cung cấp thủy sản, sản vật khô, trái cây hoặc các loại đặc sản địa phương.
Các tỉnh Nam Kỳ cung cấp cá sấu, các tỉnh phía Bắc gửi vải theo đường dịch trạm, trong khi vùng Ba Chúc thuộc An Giang được nhắc tới với các sản vật như cá khô, tôm, măng cụt và đuông dừa.
Cơ chế cung tiến đã đưa một phần sản vật địa phương gắn với nghĩa vụ và định mức thuế, và số lượng nộp hằng năm đều được triều đình tính toán cẩn thận trước khi ban hành xuống.
Món ăn xuất hiện trên bàn ăn của vua là tổng hợp một chuỗi vận chuyển từ sản xuất tại địa phương, thu gom, đi qua các tuyến đường bộ hoặc đường thủy, đến khâu tiếp nhận và chế biến trong kinh thành.
“Hằng ngày, đến giờ nhà vua dùng bữa sẽ có tiếng chuông báo từ trong cung. Các đầu bếp liền sửa soạn món ăn múc ra những bát sứ nhỏ đặt trên một cái mâm lớn bằng sơn mài. Họ chuyển mâm cho các hoạn quan rồi các hoạn quan tiếp tục chuyển cho các cung nữ mới được phép lại gần nhà vua và quỳ xuống dâng cơm. Nhà vua dùng cơm hằng ngày như người Pháp ăn bánh mì. Gạo phải bảo đảm thật trắng và được đội ngũ làm vườn của hoàng gia lựa chọn từng hạt một, tuyệt đối không được phép có hạt gãy vỡ. Cơm được nấu trong một cái niêu đất và chỉ dùng một lần, hết bữa là đập bỏ” - bác sĩ Hocquard miêu tả chi tiết.
Đầu bếp không trực tiếp phục vụ nhà vua. Thức ăn sau khi chế biến được chuyển qua các bộ phận trung gian trước khi đến miệng vua. Ngay cả vật dụng phục vụ ăn uống cũng được đặt quy định cụ thể.
3. Những mối lo xoay quanh chuyện ăn uống
Ăn uống không đơn thuần là nhu cầu sinh hoạt mà còn gắn với vấn đề an toàn tính mạng với vua.
Tự Đức là ông vua rất thận trọng và cảnh giác trong vấn đề ăn uống vì sợ đầu độc. Ông bắt các lương y nếm trước. Đũa vua ăn phải vót bằng tre và đổi hằng ngày, ông không dùng đũa bạc vì ông cho rằng chúng quá nặng. “Trong bữa ăn, nhà vua uống nước lọc cẩn thận hoặc một loại rượu trắng được chưng cất từ hạt sen và ướp các loại thảo dược. Lượng cơm vua dùng mỗi bữa được tính toán trước và ngài không bao giờ ăn quá mức đó. Nếu nhà vua không ngon miệng như lệ thường là sẽ phải triệu lương y tới, vị này lập tức kê đơn và phải uống một ngụm thuốc trước mặt nhà vua” - theo ghi chép của Hocquard.
Những chi tiết này phản ánh sự kết hợp giữa y học cung đình, chế độ ăn uống và cơ chế kiểm soát an toàn thực phẩm. Trong không gian hoàng cung, tình trạng sức khỏe của nhà vua được theo dõi bởi những người có chức trách chuyên môn, đồng thời bữa ăn được tổ chức theo các quy trình khác với sinh hoạt ăn uống của dân chúng.
4. Đời sống trong Hậu cung
Bên cạnh hệ thống phục vụ ăn uống của vua quan nhà Nguyễn, Hậu cung tạo thành một không gian xã hội riêng biệt, với hệ thống thứ bậc từ hoàng hậu, phi tần, cung nữ, thị nữ và các nữ quan.
Hệ thống thứ bậc phi tần dưới triều Nguyễn tuân theo chế độ Cửu giai (Chín bậc) cực kỳ nghiêm ngặt do vua Minh Mạng đặt nền móng và có những điều chỉnh tên gọi mỗi bậc khác nhau theo từng thời kỳ. Triều đình trả lương tiền và bổng lộc cho phi tần theo các thứ bậc ấy.
Đại đa số các vị vua (bao gồm cả Tự Đức) không lập Hoàng hậu khi còn sống để tránh việc quyền lực ngoại thích lấn át. Vị trí cao nhất cai quản lục viện là Hoàng quý phi. Lục viện (六院) là nơi ở và sinh hoạt hằng ngày của phi tần, bao gồm hệ thống các tòa điện, viện cung thất. Có 6 viện lớn là Thuận Huy, Đoan Huy, Đoan Thục, Đoan Tường, Đoan Trang, Đoan Nhã.
Thứ bậc của phi tần không cố định. Nếu làm vừa lòng vua hoặc lập công (chẳng hạn như nuôi dạy tốt các hoàng tử con nuôi vua Tự Đức), họ sẽ được tấn phong lên bậc cao hơn (ví dụ: Bà Nguyễn Thị Hương từ bậc Tam giai Lượng tần được thăng dần lên Nhất giai Học phi). Ngược lại, nếu phạm lỗi, họ có thể bị giáng thẳng xuống làm Tài nhân hoặc Ngự thiếp.
Thứ bậc phi tần cũng quyết định trực tiếp đến đãi ngộ, bậc cao sẽ được ở các lầu điện riêng (như điện Trinh Minh, viện Đoan Huy), có hàng chục thị nữ phục vụ và nhận hàng trăm xâu tiền, y phục lụa là mỗi năm. Trong khi đó, các bậc dưới Cửu giai phải ở chung trong các dãy nhà ngang và chịu sự quản lý của các Nữ quan.
Bác sĩ Hocquard so sánh rằng bổng lộc của phi tần nhà Nguyễn không cao lắm, khi hoàng hậu mỗi năm chỉ nhận 1.000 xâu tiền, tương đương 800 franc, cùng 250 đấu gạo màu, 50 đấu gạo trắng và 60 tấm lụa để may xiêm y. Các bà nhất giai phi chỉ có 500 xâu tiền, 205 đấu gạo màu, 45 đấu gạo trắng và 48 súc lụa; Với những phi tần ở hàng thứ 9 thì lương bổng ít ỏi, chỉ 43 xâu tiền, 180 hộc gạo đen, 36 hộc gạo trắng và 12 tấm lụa.
Vua Tự Đức có 104 phi tần. Mỗi ngày vua được 15 phi tần và 30 thị nữ phục vụ. Mỗi thị nữ đều mang một thanh gươm lớn canh gác tất cả lối ra vào nơi vua ở. Có 5 phi tần luôn thường trực bên cạnh hoàng thượng để phục vụ và nhóm này thay đổi hằng ngày.
Tổng số phi tần ở hậu cung của nhà vua Tự Đức bao gồm 579 người, cùng 435 thị nữ, số nữ nhân trong cung lên tới 1.014 người, tất cả đều ăn lương triều đình.
Các phi tần của vua nhà Nguyễn có quyền đem vào cung một số hầu gái tùy theo cấp bậc và phải tự bỏ tiền ra trả cho họ. Hoàng hậu có thể có 12 hầu gái và phi tần cấp thấp nhất có ba hầu gái. Những người hầu gái này phải làm hầu hết mọi việc và lao động dưới sự giám sát của những hầu gái già hơn.
Ngoài thị nữ còn có hệ thống Nữ quan. Thời vua Tự Đức nói riêng và triều Nguyễn nói chung, đây là một bộ máy quản lý hành chính nội cung độc lập, tách biệt với hàng ngũ phi tần và thị nữ. Nữ quan bắt buộc phải biết chữ (chữ Hán hoặc chữ Nôm) để ghi chép sổ sách, sản vật, bổng lộc. Thường được tuyển trong Tôn thất (hoàng tộc), con gái hoặc góa phụ của các quan lại đại thần, những người phụ nữ góa chồng đức hạnh hoặc các bà quản sự lớn tuổi có kinh nghiệm.
Nội cung triều Nguyễn chia làm Lục phiên (tương đương với Lục bộ của nam quan bên ngoài), mỗi phiên do các Nữ quan đứng đầu cai quản:
- Thượng nghi: Quản lý về nghi lễ, điển lễ, sổ sách và giáo dục hành vi trong cung.
- Thượng thực: Quản lý bếp ăn ngự thiện, thực phẩm, các món tiến cung và nếm độc.
- Thượng y: Quản lý việc thuốc men, sức khỏe, chăm sóc y tế cho hậu cung.
- Thượng ban: Quản lý lịch trình, sắp xếp người hầu hạ, tâu trình công việc.
- Thượng công: Quản lý xưởng may mặc, thêu thùa y phục hoàng gia.
- Thượng trân: Quản lý kho tàng, châu báu, các loại trang sức và cổ vật quý giá
Sách sử và tư liệu ghi nhận thời Tự Đức có khoảng 60 Nữ quan giám sát chia làm các bậc rõ rệt, gồm Quản sự → Thông sự → Thừa sự → Tùy sự → Tùng sự.
Nữ quan trực tiếp điều hành, phân công công việc hằng ngày cho hàng trăm thị nữ, phối hợp với các thái giám để sắp xếp lịch trình phục vụ nhà vua và các Thái hậu.
Ngoài ra còn có khoảng 300 nữ binh dưới quyền Nữ quan, cũng chia làm 6 bậc, chuyên trách chèo thuyền và bảo vệ phòng ngủ, đồng thời giúp duy trì sự nghiêm mật tối đa cho Hậu cung.
Hậu cung thời Nguyễn không chỉ là nơi cư trú của các phi tần mà thực chất là một bộ máy lao động sản xuất, hành chính và hậu cần khổng lồ, được tổ chức cực kỳ chuyên nghiệp và kỷ luật... Từ việc ăn mặc, may vá, chuẩn bị đồ dùng, phục vụ thuyền rồng, bảo vệ các khu vực sinh hoạt và chăm sóc các thành viên hoàng gia đều cần đến một lực lượng lao động riêng.
5. Việc tuyển chọn và số phận những người vào Hậu cung
Phụ nữ làm phi tần khi bước vào hậu cung từ những nguồn gốc xã hội khác nhau:
- Con gái của quan lại triều đình hay các tư gia giàu có muốn có danh vọng và ân huệ từ triều đình.
- Các cô gái xuất thân bình dân có có dung mạo cực kỳ xuất chúng, trải qua các kỳ sát hạch nghiêm ngặt, được triều đình "mua", hoặc tuyển chọn về kinh đô dưới sự giám sát của Thái hậu, sau đó huấn luyện thành ca công, diễn viên hát múa phục vụ triều đình.
Phi tần một khi đã vào Hậu cung thì có thể nói họ đã bị giam hãm suốt đời trong đó. Mẹ của họ thỉnh thoảng được phép vào cung thăm con. Nếu có người bị bệnh nan y thì có thể bị gửi trả với gia đình. Trong trường hợp chết đột ngột, thì thi thể của họ được nâng qua tường thành ra ngoài. Lý do là người ta không bao giờ được phép đưa một xác chết qua cửa mà nhà vua hằng ngày ra vào.
Hậu cung triều Nguyễn là một không gian khép kín tuyệt đối, vận hành theo nguyên tắc "Nội ngoại bất thông". Sự khép kín này không chỉ dừng lại ở những bức tường gạch cao lớn, mà được thiết lập bằng một hệ thống luật lệ và kiểm soát an ninh nghiêm ngặt đến mức cực đoan
Hậu cung nằm ở phía sau điện Cần Chánh (nơi vua làm việc). Để đi vào khu vực này, người ta phải đi qua các cửa được canh gác cẩn mật như cửa Đại Cung, cửa Chấn Mông. Chỉ có vua, Thái hậu, phi tần, nữ quan, thị nữ và các thái giám được phép xuất hiện tại đây.
Không có người đàn ông nào, kể cả các hoàng thân quốc thích, đại thần, được phép bước chân vào hậu cung nếu không có thánh chỉ của vua. Ngay cả các ngự y vào bắt mạch cho phi tần cũng phải tuân thủ những quy định ngặt nghèo; bắt mạch qua một lớp khăn lụa mỏng và có thái giám, Nữ quan giám sát
Sự khép kín cực đoan của Hậu cung nhằm bảo vệ tuyệt đối an toàn cho dòng máu hoàng gia (đảm bảo các hoàng tử sinh ra chắc chắn là con vua), và ngăn chặn các âm mưu chính trị, đảo chính hoặc sự can thiệp của các thế lực ngoại thích vào việc triều chính.
6. Hậu sự của Hậu cung được giải quyết như thế nào?
Khi vua Tự Đức băng hà vào năm 1883, toàn bộ hệ thống lục viện bị giải tán. Theo di chiếu và điển lệ, các phi tần thuộc hàng "Thượng giai" (bậc cao như Hoàng quý phi, các bậc Phi, Tần) bắt buộc phải rời Đại Nội để di chuyển ra Khiêm Lăng (lăng mộ vua Tự Đức). Họ đến sống tại các tòa điện phụ trong khu lăng tẩm (như điện Hòa Khiêm, chí Khiêm) với nhiệm vụ duy nhất là dâng hương khói, cúng tế, chăm sóc phần mộ và tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn tiên đế. Họ sẽ sống cuộc đời ẩn dật, cô quạnh như vậy cho đến khi nhắm mắt xuôi tay và được chôn cất quanh khu vực lăng vua.
Vua Tự Đức không có con ruột nhưng có 3 người con nuôi (Ưng Chân, Ưng Đường, Ưng Đăng). Khi nhà vua mất, các bà mẹ nuôi của những hoàng tử này (Học phi Nguyễn Thị Hương và Thiện phi) được ở lại cung. Các phi tần này ở lại một số cung điện được chỉ định trong nội cung để làm chỗ dựa cho tân đế, phối hợp với các quan đại thần đại thần nhiếp chính để điều hành và ổn định triều đình.
Những người vợ thuộc hàng dưới Cửu giai (Tài nhân vị nhập giai, Ngự thiếp), phần lớnxuất thân từ bách tính, dân nghèo, được triều đình làm thủ tục phóng thích, cho phép thu dọn hành lý trở về quê quán với gia đình. Các phi tần này hoàn toàn có quyền lấy chồng, sinh con để làm lại cuộc đời. Tuy nhiên, để bảo vệ thể diện hoàng gia, luật pháp triều Nguyễn nghiêm cấm quan lại triều đình cưới các cựu phi tần này. Do đó, họ chỉ có thể kết hôn với thường dân hoặc các phú hộ nhỏ ở địa phương.
Một bộ phận Nữ quan và thị nữ có kinh nghiệm được giữ lại để tiếp tục quản lý công việc dệt may (Thượng công), nấu nướng (Thượng thực) cho triều đại của vua mới. Để tiết kiệm ngân khố quốc gia trong thời kỳ chuyển giao quyền lực, hàng trăm thị nữ cấp thấp, cung nữ phục dịch chân tay không còn cần thiết sẽ được triều đình phát một khoản tiền lộ phí nhỏ và cho giải ngũ về quê sinh sống.
Cái chết của một vị hoàng đế ngồi ngôi tới 36 năm như Tự Đức không chỉ là một sự kiện chính trị, mà còn là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa "khép kín" của Hậu cung, đưa hàng trăm người phụ nữ trở lại với thế giới thực tại sau những năm tháng thanh xuân thanh lâu chôn vùi nơi cung cấm.
7. Một xã hội phong kiến thu nhỏ
Qua những tìm hiểu về sinh hoạt ngày thường của vua tôi triều Nguyễn, chúng ta thấy đây không chỉ là câu chuyện về một gia đình vương quyền, mà là một mô hình thu nhỏ phản ánh cấu trúc xã hội, tư tưởng bản địa và giao lưu văn hóa của Việt Nam thế kỷ XIX.
Đối với xã hội bên ngoài, Hậu cung là một đích đến đổi vận. Việc gửi con gái vào cung là chiến lược nhằm tìm kiếm sự bảo hộ, đặc ân hoặc thăng tiến giai cấp với nhiều dòng tộc, quan lại.
Sâu bên trong Hậu cung lại là sự phân tầng giai cấp khắc nghiệt. Khoảng cách giữa một Hoàng quý phi (vương quyền tối thượng) với một Tài nhân gốc bách tính hay một thị nữ chèo thuyền là biểu hiện rõ nhất của xã hội phong kiến phân vị. Sức lao động của hàng ngàn thị nữ chính là bệ đỡ cho sự xa hoa của một nhóm thiểu số quyền lực. Đồng thời, đây cũng là một chiến trường âm thầm để tranh sủng vua.
Nguồn tham khảo:
Đời sống sinh hoạt hằng ngày của vua tôi triều Nguyễn diễn ra theo nhiều tầng bậc, với sự tham gia của một số lượng lớn quan lại, hoạn quan, cung nữ, thị nữ, đầu bếp, lính phục dịch và những lực lượng chuyên trách cung ứng sản vật. Những công việc thuộc phạm vi sinh hoạt cá nhân của nhà vua, đến việc phục vụ hậu cung, quan lại đều có hệ thống phân công và quy định riêng khá rõ ràng.
Các ghi chép của bác sĩ người Pháp Charles-Édouard Hocquard trong Une campagne au Tonkin (Một chiến dịch ở Bắc Kỳ) là một trong những nguồn tư liệu phương Tây mô tả rất chân thực một số hoạt động trong và xung quanh kinh thành Huế vào cuối thế kỷ XIX. Qua những quan sát của ông, sinh hoạt của nhà vua gắn liền với một mạng lưới cung ứng rộng lớn, trải dài từ các khu chợ quanh kinh thành đến nhiều địa phương trong cả nước.
Trong hệ thống ấy, việc cung cấp thực phẩm cho hoàng cung hoàn toàn khác cung cầu của thị trường thông thường. Một phần sản vật được đưa vào triều đình theo quy định cung tiến hằng năm, một phần do các bộ phận chuyên trách tổ chức thu mua, săn bắt hoặc khai thác.
1. Gần một nghìn người phục vụ ăn uống cho triều đình
Theo Hocquard, khu vực phục vụ ăn uống của nhà vua có một đội ngũ đầu bếp rất đông, được gọi là “thượng thiện”. Ông mô tả số lượng đầu bếp lên tới gần một trăm người, mỗi người đảm trách một món ăn theo định mức được cấp phát. Họ phải nấu một món có định mức là 30 đồng kẽm (tương đương 3 đến 5 xu tiền Pháp).
Buổi sáng, những người này đi đến các khu chợ quanh kinh thành để tìm mua thực phẩm. Việc mua bán của các "thượng thiện" ở chợ mang tính áp đặt, khi họ tìm được thực phẩm phù hợp, họ đưa cho người bán hàng 30 đồng kẽm được cấp phát theo quy định, dù giá một con cá ngon thông thường ở chợ phải đến tam quan tiền (60 xu Pháp). Họ chọn khúc ngon nhất của con cá, sau đó trả cho người bán phần còn lại của con cá.
Cách thức tương tự khi mua thực phẩm tại chợ của những người phục vụ thái hậu, hoàng tử và một số gia đình quan lại. Hoạt động của những người mua thực phẩm cho cung đình trở thành một bộ phận đặc biệt trong đời sống kinh tế của khu vực kinh đô.
Việc chuẩn bị cho nhà vua được xem là cầu kỳ và cẩn trọng nhất; vì có nghi thức riêng và đòi hỏi đội ngũ phục vụ hùng hậu, chuyên nghiệp mà theo bác sĩ Hocquard nhận định “không vị vua nào ở châu Âu được phục vụ ăn uống cầu kỳ như vua xứ An Nam”.
Bên cạnh đội ngũ đầu bếp, Hocquard và các tư liệu sử học triều Nguyễn còn ghi nhận nhiều nhóm người chuyên cung cấp những loại thực phẩm nhất định.
Nổi bật là Vệ Võng Thành với 500 người chia thành 10 đội (mỗi đội 50 người), dưới sự chỉ huy của một Đội trưởng, chuyên vây bắt các loại muông thú, thú lớn trong rừng sâu để làm thực phẩm thượng hạng phục vụ các bữa ngự thiện cầu kỳ của vua Tự Đức.
Ngoài việc phục vụ bữa ăn hằng ngày cho hoàng gia, nhiệm vụ quan trọng của họ là đi săn để có đủ muông thú cung tiến lên các đền miếu, lăng tẩm triều đình vào các dịp lễ tết hoặc ngày kỵ giỗ. Vệ Võng Thành được tuyển dụng trực tiếp từ dân hai làng nằm ven núi có truyền thống săn bắn thiện nghệ nổi tiếng
Họ được tuyển dụng trực tiếp từ dân hai làng nằm ven núi có truyền thống săn bắn thiện nghệ nổi tiếng là Làng Phù Bài (Thừa Thiên Huế), Làng Thủy Ba (Quảng Trị). Để phục vụ cho việc vây bắt thú rừng, Vệ Võng Thành còn được phép nuôi dưỡng riêng một đàn chó săn chuyên nghiệp lên tới 100 con
Tiếp đến là Võ bị viên, một đội cấm binh gồm 50 người, chuyên trách việc sử dụng cung, nỏ để săn bắn các loài chim quý phục vụ cho bữa ăn của vua Tự Đức
Ngoài ra, các vùng ven biển và đảo gần bờ cũng tham gia vào hệ thống cung ứng. Những nhóm chuyên đánh bắt cá và tìm tổ yến được tổ chức thành các đơn vị cung cấp riêng. “Yến hộ” phụ trách tổ yến và “ngư hộ” phụ trách cá, mỗi đơn vị được mô tả gồm khoảng 50 người. Ngoài ra còn có một nhóm khoảng 50 người chuyên phục vụ trà nước, được gọi là “thưởng trà viên”.
Nếu lấy toàn bộ những con số trong ghi chép của Hocquard và một số nguồn khác làm cơ sở, riêng các lực lượng liên quan trực tiếp đến việc cung cấp và phục vụ ăn uống cho nhà vua đã lên tới gần 1 nghìn người. Con số này chưa bao gồm nhân lực của hoàng cung tham gia vào những công việc lặt vặt khác.
2. Từ Cung tiến đến nghi thức phục vụ ăn uống cho nhà vua
Bữa ăn của nhà vua không chỉ phụ thuộc vào nguồn cung thực phẩm quanh kinh thành. Một hệ thống cung ứng từ các địa phương khắp cả nước đưa nhiều loại sản vật về trung tâm chính trị của triều Nguyễn.
Các địa phương có thể đảm nhiệm những loại sản vật khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên, sản xuất và quy định của triều đình.
Gạo dành cho hoàng cung được lựa chọn theo những tiêu chuẩn riêng. Một số địa phương ở miền Trung cung cấp loại gạo có đặc điểm hạt ngắn, trong và hơi dẻo. Những vùng khác cung cấp thủy sản, sản vật khô, trái cây hoặc các loại đặc sản địa phương.
Các tỉnh Nam Kỳ cung cấp cá sấu, các tỉnh phía Bắc gửi vải theo đường dịch trạm, trong khi vùng Ba Chúc thuộc An Giang được nhắc tới với các sản vật như cá khô, tôm, măng cụt và đuông dừa.
Cơ chế cung tiến đã đưa một phần sản vật địa phương gắn với nghĩa vụ và định mức thuế, và số lượng nộp hằng năm đều được triều đình tính toán cẩn thận trước khi ban hành xuống.
Món ăn xuất hiện trên bàn ăn của vua là tổng hợp một chuỗi vận chuyển từ sản xuất tại địa phương, thu gom, đi qua các tuyến đường bộ hoặc đường thủy, đến khâu tiếp nhận và chế biến trong kinh thành.
“Hằng ngày, đến giờ nhà vua dùng bữa sẽ có tiếng chuông báo từ trong cung. Các đầu bếp liền sửa soạn món ăn múc ra những bát sứ nhỏ đặt trên một cái mâm lớn bằng sơn mài. Họ chuyển mâm cho các hoạn quan rồi các hoạn quan tiếp tục chuyển cho các cung nữ mới được phép lại gần nhà vua và quỳ xuống dâng cơm. Nhà vua dùng cơm hằng ngày như người Pháp ăn bánh mì. Gạo phải bảo đảm thật trắng và được đội ngũ làm vườn của hoàng gia lựa chọn từng hạt một, tuyệt đối không được phép có hạt gãy vỡ. Cơm được nấu trong một cái niêu đất và chỉ dùng một lần, hết bữa là đập bỏ” - bác sĩ Hocquard miêu tả chi tiết.
Đầu bếp không trực tiếp phục vụ nhà vua. Thức ăn sau khi chế biến được chuyển qua các bộ phận trung gian trước khi đến miệng vua. Ngay cả vật dụng phục vụ ăn uống cũng được đặt quy định cụ thể.
3. Những mối lo xoay quanh chuyện ăn uống
Ăn uống không đơn thuần là nhu cầu sinh hoạt mà còn gắn với vấn đề an toàn tính mạng với vua.
Tự Đức là ông vua rất thận trọng và cảnh giác trong vấn đề ăn uống vì sợ đầu độc. Ông bắt các lương y nếm trước. Đũa vua ăn phải vót bằng tre và đổi hằng ngày, ông không dùng đũa bạc vì ông cho rằng chúng quá nặng. “Trong bữa ăn, nhà vua uống nước lọc cẩn thận hoặc một loại rượu trắng được chưng cất từ hạt sen và ướp các loại thảo dược. Lượng cơm vua dùng mỗi bữa được tính toán trước và ngài không bao giờ ăn quá mức đó. Nếu nhà vua không ngon miệng như lệ thường là sẽ phải triệu lương y tới, vị này lập tức kê đơn và phải uống một ngụm thuốc trước mặt nhà vua” - theo ghi chép của Hocquard.
Những chi tiết này phản ánh sự kết hợp giữa y học cung đình, chế độ ăn uống và cơ chế kiểm soát an toàn thực phẩm. Trong không gian hoàng cung, tình trạng sức khỏe của nhà vua được theo dõi bởi những người có chức trách chuyên môn, đồng thời bữa ăn được tổ chức theo các quy trình khác với sinh hoạt ăn uống của dân chúng.
4. Đời sống trong Hậu cung
Bên cạnh hệ thống phục vụ ăn uống của vua quan nhà Nguyễn, Hậu cung tạo thành một không gian xã hội riêng biệt, với hệ thống thứ bậc từ hoàng hậu, phi tần, cung nữ, thị nữ và các nữ quan.
Hệ thống thứ bậc phi tần dưới triều Nguyễn tuân theo chế độ Cửu giai (Chín bậc) cực kỳ nghiêm ngặt do vua Minh Mạng đặt nền móng và có những điều chỉnh tên gọi mỗi bậc khác nhau theo từng thời kỳ. Triều đình trả lương tiền và bổng lộc cho phi tần theo các thứ bậc ấy.
Đại đa số các vị vua (bao gồm cả Tự Đức) không lập Hoàng hậu khi còn sống để tránh việc quyền lực ngoại thích lấn át. Vị trí cao nhất cai quản lục viện là Hoàng quý phi. Lục viện (六院) là nơi ở và sinh hoạt hằng ngày của phi tần, bao gồm hệ thống các tòa điện, viện cung thất. Có 6 viện lớn là Thuận Huy, Đoan Huy, Đoan Thục, Đoan Tường, Đoan Trang, Đoan Nhã.
Thứ bậc của phi tần không cố định. Nếu làm vừa lòng vua hoặc lập công (chẳng hạn như nuôi dạy tốt các hoàng tử con nuôi vua Tự Đức), họ sẽ được tấn phong lên bậc cao hơn (ví dụ: Bà Nguyễn Thị Hương từ bậc Tam giai Lượng tần được thăng dần lên Nhất giai Học phi). Ngược lại, nếu phạm lỗi, họ có thể bị giáng thẳng xuống làm Tài nhân hoặc Ngự thiếp.
Thứ bậc phi tần cũng quyết định trực tiếp đến đãi ngộ, bậc cao sẽ được ở các lầu điện riêng (như điện Trinh Minh, viện Đoan Huy), có hàng chục thị nữ phục vụ và nhận hàng trăm xâu tiền, y phục lụa là mỗi năm. Trong khi đó, các bậc dưới Cửu giai phải ở chung trong các dãy nhà ngang và chịu sự quản lý của các Nữ quan.
Bác sĩ Hocquard so sánh rằng bổng lộc của phi tần nhà Nguyễn không cao lắm, khi hoàng hậu mỗi năm chỉ nhận 1.000 xâu tiền, tương đương 800 franc, cùng 250 đấu gạo màu, 50 đấu gạo trắng và 60 tấm lụa để may xiêm y. Các bà nhất giai phi chỉ có 500 xâu tiền, 205 đấu gạo màu, 45 đấu gạo trắng và 48 súc lụa; Với những phi tần ở hàng thứ 9 thì lương bổng ít ỏi, chỉ 43 xâu tiền, 180 hộc gạo đen, 36 hộc gạo trắng và 12 tấm lụa.
Vua Tự Đức có 104 phi tần. Mỗi ngày vua được 15 phi tần và 30 thị nữ phục vụ. Mỗi thị nữ đều mang một thanh gươm lớn canh gác tất cả lối ra vào nơi vua ở. Có 5 phi tần luôn thường trực bên cạnh hoàng thượng để phục vụ và nhóm này thay đổi hằng ngày.
Tổng số phi tần ở hậu cung của nhà vua Tự Đức bao gồm 579 người, cùng 435 thị nữ, số nữ nhân trong cung lên tới 1.014 người, tất cả đều ăn lương triều đình.
Các phi tần của vua nhà Nguyễn có quyền đem vào cung một số hầu gái tùy theo cấp bậc và phải tự bỏ tiền ra trả cho họ. Hoàng hậu có thể có 12 hầu gái và phi tần cấp thấp nhất có ba hầu gái. Những người hầu gái này phải làm hầu hết mọi việc và lao động dưới sự giám sát của những hầu gái già hơn.
Ngoài thị nữ còn có hệ thống Nữ quan. Thời vua Tự Đức nói riêng và triều Nguyễn nói chung, đây là một bộ máy quản lý hành chính nội cung độc lập, tách biệt với hàng ngũ phi tần và thị nữ. Nữ quan bắt buộc phải biết chữ (chữ Hán hoặc chữ Nôm) để ghi chép sổ sách, sản vật, bổng lộc. Thường được tuyển trong Tôn thất (hoàng tộc), con gái hoặc góa phụ của các quan lại đại thần, những người phụ nữ góa chồng đức hạnh hoặc các bà quản sự lớn tuổi có kinh nghiệm.
Nội cung triều Nguyễn chia làm Lục phiên (tương đương với Lục bộ của nam quan bên ngoài), mỗi phiên do các Nữ quan đứng đầu cai quản:
- Thượng nghi: Quản lý về nghi lễ, điển lễ, sổ sách và giáo dục hành vi trong cung.
- Thượng thực: Quản lý bếp ăn ngự thiện, thực phẩm, các món tiến cung và nếm độc.
- Thượng y: Quản lý việc thuốc men, sức khỏe, chăm sóc y tế cho hậu cung.
- Thượng ban: Quản lý lịch trình, sắp xếp người hầu hạ, tâu trình công việc.
- Thượng công: Quản lý xưởng may mặc, thêu thùa y phục hoàng gia.
- Thượng trân: Quản lý kho tàng, châu báu, các loại trang sức và cổ vật quý giá
Sách sử và tư liệu ghi nhận thời Tự Đức có khoảng 60 Nữ quan giám sát chia làm các bậc rõ rệt, gồm Quản sự → Thông sự → Thừa sự → Tùy sự → Tùng sự.
Nữ quan trực tiếp điều hành, phân công công việc hằng ngày cho hàng trăm thị nữ, phối hợp với các thái giám để sắp xếp lịch trình phục vụ nhà vua và các Thái hậu.
Ngoài ra còn có khoảng 300 nữ binh dưới quyền Nữ quan, cũng chia làm 6 bậc, chuyên trách chèo thuyền và bảo vệ phòng ngủ, đồng thời giúp duy trì sự nghiêm mật tối đa cho Hậu cung.
Hậu cung thời Nguyễn không chỉ là nơi cư trú của các phi tần mà thực chất là một bộ máy lao động sản xuất, hành chính và hậu cần khổng lồ, được tổ chức cực kỳ chuyên nghiệp và kỷ luật... Từ việc ăn mặc, may vá, chuẩn bị đồ dùng, phục vụ thuyền rồng, bảo vệ các khu vực sinh hoạt và chăm sóc các thành viên hoàng gia đều cần đến một lực lượng lao động riêng.
5. Việc tuyển chọn và số phận những người vào Hậu cung
Phụ nữ làm phi tần khi bước vào hậu cung từ những nguồn gốc xã hội khác nhau:
- Con gái của quan lại triều đình hay các tư gia giàu có muốn có danh vọng và ân huệ từ triều đình.
- Các cô gái xuất thân bình dân có có dung mạo cực kỳ xuất chúng, trải qua các kỳ sát hạch nghiêm ngặt, được triều đình "mua", hoặc tuyển chọn về kinh đô dưới sự giám sát của Thái hậu, sau đó huấn luyện thành ca công, diễn viên hát múa phục vụ triều đình.
Phi tần một khi đã vào Hậu cung thì có thể nói họ đã bị giam hãm suốt đời trong đó. Mẹ của họ thỉnh thoảng được phép vào cung thăm con. Nếu có người bị bệnh nan y thì có thể bị gửi trả với gia đình. Trong trường hợp chết đột ngột, thì thi thể của họ được nâng qua tường thành ra ngoài. Lý do là người ta không bao giờ được phép đưa một xác chết qua cửa mà nhà vua hằng ngày ra vào.
Hậu cung triều Nguyễn là một không gian khép kín tuyệt đối, vận hành theo nguyên tắc "Nội ngoại bất thông". Sự khép kín này không chỉ dừng lại ở những bức tường gạch cao lớn, mà được thiết lập bằng một hệ thống luật lệ và kiểm soát an ninh nghiêm ngặt đến mức cực đoan
Hậu cung nằm ở phía sau điện Cần Chánh (nơi vua làm việc). Để đi vào khu vực này, người ta phải đi qua các cửa được canh gác cẩn mật như cửa Đại Cung, cửa Chấn Mông. Chỉ có vua, Thái hậu, phi tần, nữ quan, thị nữ và các thái giám được phép xuất hiện tại đây.
Không có người đàn ông nào, kể cả các hoàng thân quốc thích, đại thần, được phép bước chân vào hậu cung nếu không có thánh chỉ của vua. Ngay cả các ngự y vào bắt mạch cho phi tần cũng phải tuân thủ những quy định ngặt nghèo; bắt mạch qua một lớp khăn lụa mỏng và có thái giám, Nữ quan giám sát
Sự khép kín cực đoan của Hậu cung nhằm bảo vệ tuyệt đối an toàn cho dòng máu hoàng gia (đảm bảo các hoàng tử sinh ra chắc chắn là con vua), và ngăn chặn các âm mưu chính trị, đảo chính hoặc sự can thiệp của các thế lực ngoại thích vào việc triều chính.
6. Hậu sự của Hậu cung được giải quyết như thế nào?
Khi vua Tự Đức băng hà vào năm 1883, toàn bộ hệ thống lục viện bị giải tán. Theo di chiếu và điển lệ, các phi tần thuộc hàng "Thượng giai" (bậc cao như Hoàng quý phi, các bậc Phi, Tần) bắt buộc phải rời Đại Nội để di chuyển ra Khiêm Lăng (lăng mộ vua Tự Đức). Họ đến sống tại các tòa điện phụ trong khu lăng tẩm (như điện Hòa Khiêm, chí Khiêm) với nhiệm vụ duy nhất là dâng hương khói, cúng tế, chăm sóc phần mộ và tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn tiên đế. Họ sẽ sống cuộc đời ẩn dật, cô quạnh như vậy cho đến khi nhắm mắt xuôi tay và được chôn cất quanh khu vực lăng vua.
Vua Tự Đức không có con ruột nhưng có 3 người con nuôi (Ưng Chân, Ưng Đường, Ưng Đăng). Khi nhà vua mất, các bà mẹ nuôi của những hoàng tử này (Học phi Nguyễn Thị Hương và Thiện phi) được ở lại cung. Các phi tần này ở lại một số cung điện được chỉ định trong nội cung để làm chỗ dựa cho tân đế, phối hợp với các quan đại thần đại thần nhiếp chính để điều hành và ổn định triều đình.
Những người vợ thuộc hàng dưới Cửu giai (Tài nhân vị nhập giai, Ngự thiếp), phần lớnxuất thân từ bách tính, dân nghèo, được triều đình làm thủ tục phóng thích, cho phép thu dọn hành lý trở về quê quán với gia đình. Các phi tần này hoàn toàn có quyền lấy chồng, sinh con để làm lại cuộc đời. Tuy nhiên, để bảo vệ thể diện hoàng gia, luật pháp triều Nguyễn nghiêm cấm quan lại triều đình cưới các cựu phi tần này. Do đó, họ chỉ có thể kết hôn với thường dân hoặc các phú hộ nhỏ ở địa phương.
Một bộ phận Nữ quan và thị nữ có kinh nghiệm được giữ lại để tiếp tục quản lý công việc dệt may (Thượng công), nấu nướng (Thượng thực) cho triều đại của vua mới. Để tiết kiệm ngân khố quốc gia trong thời kỳ chuyển giao quyền lực, hàng trăm thị nữ cấp thấp, cung nữ phục dịch chân tay không còn cần thiết sẽ được triều đình phát một khoản tiền lộ phí nhỏ và cho giải ngũ về quê sinh sống.
Cái chết của một vị hoàng đế ngồi ngôi tới 36 năm như Tự Đức không chỉ là một sự kiện chính trị, mà còn là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa "khép kín" của Hậu cung, đưa hàng trăm người phụ nữ trở lại với thế giới thực tại sau những năm tháng thanh xuân thanh lâu chôn vùi nơi cung cấm.
7. Một xã hội phong kiến thu nhỏ
Qua những tìm hiểu về sinh hoạt ngày thường của vua tôi triều Nguyễn, chúng ta thấy đây không chỉ là câu chuyện về một gia đình vương quyền, mà là một mô hình thu nhỏ phản ánh cấu trúc xã hội, tư tưởng bản địa và giao lưu văn hóa của Việt Nam thế kỷ XIX.
Đối với xã hội bên ngoài, Hậu cung là một đích đến đổi vận. Việc gửi con gái vào cung là chiến lược nhằm tìm kiếm sự bảo hộ, đặc ân hoặc thăng tiến giai cấp với nhiều dòng tộc, quan lại.
Sâu bên trong Hậu cung lại là sự phân tầng giai cấp khắc nghiệt. Khoảng cách giữa một Hoàng quý phi (vương quyền tối thượng) với một Tài nhân gốc bách tính hay một thị nữ chèo thuyền là biểu hiện rõ nhất của xã hội phong kiến phân vị. Sức lao động của hàng ngàn thị nữ chính là bệ đỡ cho sự xa hoa của một nhóm thiểu số quyền lực. Đồng thời, đây cũng là một chiến trường âm thầm để tranh sủng vua.
Nguồn tham khảo:
- Charles-Édouard Hocquard, Une campagne au Tonkin, Hachette et Cie, Paris, 1892.
- Charles-Édouard Hocquard, Một chiến dịch ở Bắc Kỳ, bản dịch tiếng Việt, Nhà xuất bản Hà Nội, 2020.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Quốc sử quán triều Nguyễn.
- Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện.
- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên.
- Đại Nam thực lục chính biên, các tập liên quan triều vua Tự Đức.
- Đại Nam liệt truyện chính biên, Nhị tập.
- Đại Nam nhất thống chí, các quyển về kinh sư, tỉnh thành và sản vật.
- Philippe Papin (biên tập), Une campagne au Tonkin, Arléa, Paris, 1999.
- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, các quyển liên quan đến Nội vụ phủ, cung đình, hậu cung, phẩm phục, bổng lộc và cung ứng vật phẩm.
Last edited:

