- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,665
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
15 thành viên của Nội các thống nhất quốc gia Chính phủ lâm thời 1945
15 thành viên Chính phủ lâm thời năm 1945: Cuộc đời, sự nghiệp và những con đường khác nhau của một thế hệ chính khách.
Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra một văn kiện quan trọng mang tên "Tuyên cáo về việc thành lập Chính phủ mới". Trong tờ tuyên cáo này, tiêu đề danh sách nhân sự được ghi rõ ràng là: "Danh sách Nội các thống nhất quốc gia". Nội các thống nhất quốc gia gồm 15 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
Danh sách được công bố gồm:
Trong số 15 người, con đường sự nghiệp sau năm 1945 cũng rất khác nhau. Một số trở thành những nhân vật giữ vị trí cao trong Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nhiều thập niên; một số tập trung vào lĩnh vực chuyên môn; một số hy sinh trong chiến tranh; một số rời khỏi đời sống chính trị hoặc sống ở nước ngoài.
1. Hồ Chí Minh: từ Nguyễn Ái Quốc đến người đứng đầu Chính phủ lâm thời
Hồ Chí Minh, tên khai sinh Nguyễn Sinh Cung, sau này thường sử dụng tên Nguyễn Ái Quốc, sinh năm 1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Năm 1911, Bác rời Việt Nam và trải qua nhiều năm hoạt động tại nhiều quốc gia. Trong quá trình đó, Bác tham gia các hoạt động chính trị của người Việt ở Pháp, gia nhập phong trào cộng sản quốc tế và trở thành một trong những nhân vật tham gia thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.
Trong những năm 1930 - 1940, Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại nhiều địa bàn ở châu Á. Năm 1941, Bác trở về Việt Nam và trực tiếp tham gia xây dựng tổ chức Việt Minh, căn cứ địa và hệ thống lực lượng cách mạng. Tháng 8 năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, thời cơ chính trị xuất hiện và lực lượng Việt Minh tiến hành giành chính quyền tại nhiều địa phương.
Ngày 28.8.1945, Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ lâm thời và kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình, Bác thay mặt Chính phủ đọc Tuyên ngôn Độc lập.
Trong những tháng tiếp theo, Chính phủ phải đồng thời xây dựng hệ thống hành chính, tổ chức Tổng tuyển cử, xử lý vấn đề tài chính, cứu đói, chống nạn mù chữ và đối phó với các lực lượng quân sự nước ngoài hiện diện tại Việt Nam. Ngày 6.1.1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I được tổ chức. Sau đó, cơ cấu chính phủ tiếp tục thay đổi qua Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày 1.1.1946 và Chính phủ liên hiệp kháng chiến ngày 2.3.1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến khi qua đời ngày 2.9.1969 tại Hà Nội.
2. Võ Nguyên Giáp: từ nhà giáo, nhà báo đến người tổ chức lực lượng vũ trang
Cụ Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Cụ được đào tạo trong hệ thống giáo dục thuộc địa, từng học tại Trường Quốc học Huế và sau đó học tại Hà Nội. Trước khi trở thành một nhân vật quân sự, cụ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và báo chí.
Trong những năm 1930, cụ Võ Nguyên Giáp tham gia hoạt động chính trị và báo chí. Năm 1940, cụ sang Trung Quốc và gặp Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, hoạt động của cụ gắn trực tiếp với quá trình xây dựng lực lượng cách mạng.
Tháng 12.1944, theo chỉ thị của lãnh đạo Việt Minh, cụ tổ chức Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Lực lượng ban đầu chỉ gồm vài chục người nhưng trở thành một trong những tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau Cách mạng Tháng Tám, cụ Võ Nguyên Giáp được giao Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời. Danh sách chính thức ngày 28.8.1945 xác định cụ là Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Trong những năm 1945–1946, nhiệm vụ của Bộ Nội vụ liên quan trực tiếp đến tổ chức chính quyền ở các địa phương, xây dựng bộ máy hành chính và xử lý những vấn đề an ninh, chính trị. Từ tháng 3.1946, cụ Võ Nguyên Giáp chuyển sang giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Sự nghiệp của cụ sau đó chủ yếu gắn với quân đội. Cụ giữ vai trò chỉ huy cao cấp trong Chiến tranh Đông Dương, đặc biệt tại chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, cụ tiếp tục giữ vị trí lãnh đạo cao cấp của quân đội. Sau năm 1975, cụ đảm nhiệm một số chức vụ nhà nước và quân đội trước khi nghỉ công tác.
Cụ Võ Nguyên Giáp qua đời ngày 4.10.2013 tại Hà Nội.
3. Trần Huy Liệu: từ nhà báo chính trị đến nhà sử học
Trần Huy Liệu sinh ngày 5.11.1901 tại Vân Cát, Vụ Bản, Nam Định, trong một gia đình nhà Nho. Từ khi còn trẻ, ông đã tham gia hoạt động báo chí và chính trị. Năm 1920, ông bắt đầu viết báo; đến thập niên 1920 hoạt động báo chí trở thành một phần quan trọng trong sự nghiệp của ông.
Năm 1927 - 1928, ông tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng và sau đó bị chính quyền thuộc địa bắt giữ. Ông bị kết án và đày ra Côn Đảo. Trong thời gian này, ông tiếp xúc với nhiều tù chính trị và dần chuyển sang hoạt động theo khuynh hướng cộng sản.
Sau khi được trả tự do, Trần Huy Liệu tiếp tục hoạt động báo chí. Trong thời kỳ Mặt trận Bình dân, ông tham gia các hoạt động báo chí công khai. Năm 1939, ông bị bắt và bị đưa đi Sơn La, Nghĩa Lộ. Tháng 3.1945, ông vượt ngục và trở về Hà Nội.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin, Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời. Ông cũng là thành viên phái đoàn của Chính phủ vào Huế cuối tháng 8.1945 để tiếp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xác định ông là người thay mặt Chính phủ tham dự nghi lễ tiếp nhận ấn kiếm tại Ngọ Môn ngày 30.8.1945.
Sau năm 1945, sự nghiệp của Trần Huy Liệu chuyển dần từ chính trị và báo chí sang nghiên cứu lịch sử. Ông tham gia Ban Nghiên cứu Văn, Sử, Địa và sau đó trở thành Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học. Ông viết nhiều công trình về lịch sử Việt Nam, trong đó có các nghiên cứu về Nguyễn Trãi và lịch sử cận đại.
Ông qua đời ngày 28.7.1969 tại Hà Nội. Di sản lớn nhất của ông về sau nằm ở lĩnh vực sử học và nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại.
4. Chu Văn Tấn: từ địa phương Bắc Sơn đến Bộ trưởng Quốc phòng
Chu Văn Tấn sinh tháng 5.1909 tại vùng Võ Nhai, Thái Nguyên, là người dân tộc Nùng. Ông xuất thân từ một gia đình có vị thế tại địa phương và từng làm việc trong hệ thống hành chính cấp cơ sở của chính quyền thuộc địa.
Từ giữa thập niên 1930, ông tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1936, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tháng 9.1940, ông tham gia xây dựng lực lượng vũ trang ở khu vực Bắc Sơn và Việt Bắc.
Trong quá trình phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, Chu Văn Tấn giữ vai trò quan trọng tại khu vực Bắc Sơn và sau đó trong Cứu quốc quân. Kinh nghiệm hoạt động ở vùng núi phía Bắc khiến ông trở thành một trong những chỉ huy quân sự quan trọng của Việt Minh trước năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giao Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời. Theo hồ sơ chính thức, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từ tháng 8.1945 đến ngày 2.3.1946.
Sau đó, sự nghiệp của Chu Văn Tấn tiếp tục gắn với quân đội và tổ chức chính trị. Năm 1948, ông nằm trong số những cán bộ quân đội đầu tiên được phong quân hàm Thiếu tướng. Về sau ông được phong Thượng tướng và giữ nhiều chức vụ trong hệ thống chính trị, trong đó có Phó Chủ tịch Quốc hội.
Những năm cuối đời, hoạt động chính trị của ông giảm dần. Chu Văn Tấn qua đời ngày 22.5.1984.
5. Dương Đức Hiền: đại diện của tầng lớp trí thức và Đảng Dân chủ Việt Nam
Dương Đức Hiền sinh năm 1916. Ông học tại Trường Bưởi và sau đó theo học luật tại Viện Đại học Đông Dương. Năm 1940, ông tốt nghiệp cử nhân luật.
Trong thời gian học tập, ông tham gia phong trào sinh viên và các hoạt động xã hội. Ông cũng cộng tác với nhóm Thanh Nghị, một trong những nhóm trí thức hoạt động công khai trong những năm cuối thời thuộc địa.
Ngày 30.6.1944, Dương Đức Hiền tham gia thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam và trở thành Tổng Bí thư đầu tiên của đảng này. Cuối năm 1944, ông tham gia một đoàn đại biểu Việt Minh sang Trung Quốc để tiếp xúc với chính quyền Tưởng Giới Thạch.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ lâm thời. Chức vụ này phản ánh vai trò của tầng lớp thanh niên, sinh viên và trí thức trong quá trình xây dựng bộ máy chính quyền mới.
Dương Đức Hiền tiếp tục tham gia hoạt động chính trị trong những năm sau đó nhưng không trở thành nhân vật giữ vị trí quyền lực cao trong thời gian dài như một số thành viên khác của Chính phủ năm 1945.
Ông mất năm 1963, khi mới 47 tuổi.
6. Nguyễn Mạnh Hà: một trí thức được đào tạo tại Pháp và Bộ trưởng Kinh tế Quốc gia
Nguyễn Mạnh Hà sinh trong một gia đình Công giáo tại Hưng Yên. Ông được đưa sang Pháp học từ khi còn trẻ và theo học luật cùng khoa học chính trị. Năm 1937, ông tốt nghiệp tại Paris. Sau khi về Việt Nam, ông làm việc trong bộ máy kinh tế và lao động của chính quyền thuộc địa.
Năm 1943, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Kinh tế kiêm Thanh tra Lao động Bắc Kỳ. Đây là một vị trí đáng chú ý bởi ông đã có kinh nghiệm quản lý kinh tế trong chính quyền thuộc địa trước khi tham gia Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Mạnh Hà được mời tham gia Chính phủ lâm thời và giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế Quốc gia. Bộ Kinh tế Quốc gia được thành lập ngày 28.8.1945; những văn bản đầu tiên của bộ liên quan đến tổ chức quản lý kinh tế và tài chính của chính quyền mới đều được ban hành trong thời gian ông phụ trách.
Ông tiếp tục giữ chức Bộ trưởng trong giai đoạn đầu năm 1946. Ông cũng tham gia phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946.
Sau khi trở lại Pháp, cuộc đời Nguyễn Mạnh Hà tách khỏi quỹ đạo chính trị trong nước. Ông sống tại Pháp và sau đó tại Thụy Sĩ. Ông qua đời năm 1992.
Trường hợp Nguyễn Mạnh Hà đặc biệt ở chỗ ông chuyển từ một trí thức và viên chức chuyên môn trong hệ thống thuộc địa sang vị trí bộ trưởng của chính quyền Việt Nam mới thành lập, rồi sau đó lại sống lâu dài ở châu Âu.
7. Nguyễn Văn Tố: học giả Hán học và người đứng đầu Quốc hội khóa I
Nguyễn Văn Tố sinh ngày 5.6.1889 tại Hà Đông. Ông được đào tạo Hán học từ nhỏ, sau đó học chương trình Pháp và làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội. Công việc nghiên cứu tại đây giúp ông tiếp cận nhiều tư liệu về lịch sử, văn học và văn hóa Việt Nam.
Ông sử dụng bút hiệu Ứng Hòe và có nhiều bài khảo cứu về văn hóa, lịch sử và văn học. Ngoài hoạt động học thuật, ông tham gia Hội Trí Tri và Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Văn Tố giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội trong Chính phủ lâm thời. Đây là một trong những vị trí gắn trực tiếp với vấn đề cứu trợ xã hội trong những tháng đầu của chính quyền mới.
Sau Tổng tuyển cử tháng 1.1946, ông trở thành Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I và tham gia Chính phủ Liên hiệp Quốc dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông rời Hà Nội cùng Chính phủ và lên Việt Bắc. Ngày 7.10.1947, trong một cuộc tấn công của quân Pháp vào khu vực chiến khu, ông bị bắt và bị sát hại tại Bắc Kạn.
Sự nghiệp của Nguyễn Văn Tố trải qua ba lĩnh vực chính: nghiên cứu văn hóa, hoạt động xã hội và xây dựng thiết chế nhà nước trong những năm đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
8. Vũ Trọng Khánh: luật sư và người đặt nền móng cho Bộ Tư pháp
Vũ Trọng Khánh sinh ngày 13.3.1912, quê gốc Cự Đà, Thanh Oai, Hà Đông. Ông học tại Lycée Albert Sarraut và sau đó học luật tại Hà Nội. Năm 1936, ông tốt nghiệp cử nhân luật và hành nghề luật sư tại Hải Phòng từ năm 1938.
Trước Cách mạng Tháng Tám, ông từng tham gia một số hoạt động xã hội và chính trị, đồng thời có quan hệ với các nhóm trí thức và thanh niên hoạt động trong thời kỳ Mặt trận Bình dân.
Tháng 7.1945, ông được bổ nhiệm làm Đốc lý Hải Phòng. Sau khi Việt Minh giành chính quyền tại thành phố, ông tham gia quá trình chuyển giao chính quyền.
Ngày 28.8.1945, Vũ Trọng Khánh trở thành Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ lâm thời. Ông giữ chức vụ này đến ngày 28.2.1946.
Trong thời gian ngắn tại Bộ Tư pháp, ông tham gia xây dựng cơ cấu tư pháp của nhà nước mới. Ngày 1.12.1945, ông ký Nghị định số 37 về tổ chức Bộ Tư pháp, quy định phạm vi công việc liên quan đến pháp luật, tòa án, truy tố, thi hành án, luật sư và các lĩnh vực tư pháp khác.
Sau đó, Vũ Trọng Khánh tiếp tục hoạt động trong ngành tư pháp và chính quyền địa phương. Ông từng giữ chức Giám đốc Tư pháp Chiến khu 10, Trưởng Ban Nghiên cứu pháp lý và đảm nhiệm nhiều chức vụ tại Hải Phòng. Sau năm 1955, ông tham gia quản lý hành chính thành phố Hải Phòng và hoạt động trong Hội Luật gia.
Ông nghỉ hưu năm 1977 và qua đời ngày 22.1.1996.
9. Phạm Ngọc Thạch: Thủ lĩnh phong trào Thanh niên tiền phong đến Bộ trưởng Bộ Y tế
Phạm Ngọc Thạch sinh năm 1909. Ông học y tại Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục đào tạo và tốt nghiệp bác sĩ tại Paris năm 1934. Sau khi về Việt Nam, ông hành nghề y tại Sài Gòn đồng thời tham gia hoạt động chính trị.
Trong thời kỳ Mặt trận Bình dân 1936 - 1939, ông tham gia các hoạt động xã hội và phong trào yêu nước. Tháng 3.1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành một trong những người tổ chức Thanh niên Tiền phong tại Nam Bộ.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giao chức Bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ lâm thời. Ông cũng tham gia Ủy ban Nhân dân Nam Bộ. Khi chiến sự tại Nam Bộ bùng nổ từ tháng 9.1945, ông đảm nhiệm nhiều vị trí trong hệ thống chính quyền và kháng chiến ở Nam Bộ.
Từ năm 1948 đến 1950, ông giữ chức Trưởng phái đoàn Chính phủ tại Nam Bộ và Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau đó ông ra Bắc và tiếp tục hoạt động trong ngành y tế.
Từ năm 1958, Phạm Ngọc Thạch trở lại giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế. Ông tập trung vào tổ chức mạng lưới y tế, đào tạo cán bộ và phát triển hệ thống y tế công cộng.
Ngày 7.11.1968, ông qua đời tại chiến trường miền Nam. Sự nghiệp của ông sau năm 1945 chủ yếu gắn với việc xây dựng hệ thống y tế nhà nước.
10. Đào Trọng Kim: kỹ sư công chính trong một chính phủ cách mạng
Đào Trọng Kim sinh năm 1897, thuộc thế hệ kỹ sư Việt Nam được đào tạo trong hệ thống giáo dục kỹ thuật của chính quyền thuộc địa. Ông học Trường Bưởi, sau đó học Trường Công chính Đông Dương và tiếp tục nâng cao chuyên môn về công chính tại Pháp.
Sau khi tốt nghiệp, ông có nhiều năm làm việc trong ngành công chính tại Bắc Kỳ và từng giữ chức trưởng ty tại nhiều địa phương.
Sau cuộc đảo chính Pháp của quân đội Nhật ngày 9.3.1945, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha Công chính Bắc Bộ dưới chính quyền Trần Trọng Kim.
Sau Cách mạng Tháng Tám, kinh nghiệm chuyên môn của Đào Trọng Kim được sử dụng trong bộ máy chính quyền mới. Ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính trong Chính phủ lâm thời từ 28.8.1945 - 2.3.1946
Sự nghiệp của Đào Trọng Kim không phát triển theo hướng chính trị hoặc quân sự như cụ Võ Nguyên Giáp hay Phạm Văn Đồng. Vai trò chủ yếu của ông nằm ở lĩnh vực kỹ thuật và quản lý công trình.
Ông qua đời năm 1984.
11. Lê Văn Hiến: từ hoạt động cách mạng ở Trung Kỳ đến Bộ Tài chính
Lê Văn Hiến sinh ngày 15.9.1904 tại Đà Nẵng, trong một gia đình lao động. Ông được học tại Huế và sau đó làm việc trong ngành bưu điện.
Từ cuối thập niên 1920, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, ông cùng một số đồng chí thành lập tổ chức cách mạng tại Đà Nẵng. Ông nhiều lần bị chính quyền thuộc địa bắt giữ và trải qua nhiều nhà tù.
Sau khi được trả tự do năm 1945, ông tham gia vào chính quyền cách mạng. Trong Chính phủ lâm thời, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động. Sau đó, từ tháng 3.1946, ông chuyển sang Bộ Tài chính.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông giữ vai trò quan trọng trong quản lý tài chính của Chính phủ. Ông tiếp tục phụ trách lĩnh vực tài chính cho đến năm 1958.
Một trong những nguồn tư liệu quan trọng về giai đoạn này là hồi ký Nhật ký một Bộ trưởng, được ông xuất bản năm 1995, ghi lại nhiều hoạt động liên quan đến công tác tài chính, kinh tế và quản lý nhà nước trong thời kỳ kháng chiến.
Lê Văn Hiến qua đời năm 1997.
12. Phạm Văn Đồng: từ nhà hoạt động cách mạng đến người đứng đầu Chính phủ trong hơn ba thập niên
Phạm Văn Đồng sinh ngày 1.3.1906 tại Quảng Ngãi. Năm 1925, ông tham gia phong trào học sinh, sinh viên. Năm 1926, ông sang Quảng Châu và tham gia lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, sau đó gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Năm 1929, ông bị chính quyền thuộc địa bắt và bị kết án tù, sau đó bị đày ra Côn Đảo. Năm 1936, ông được trả tự do và tiếp tục hoạt động. Năm 1940, ông sang Trung Quốc và tham gia hoạt động cùng Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1945, Phạm Văn Đồng tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và được bầu vào cơ quan lãnh đạo của phong trào. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời.
Năm 1946, ông tham gia đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức vụ trong Chính phủ và ngoại giao.
Tháng 9.1955, Phạm Văn Đồng trở thành Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau năm 1976, ông tiếp tục giữ chức Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam thống nhất; từ năm 1981, chức danh được đổi thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông giữ cương vị này đến năm 1987.
Phạm Văn Đồng qua đời ngày 29.4.2000 tại Hà Nội.
Trong số 15 thành viên Chính phủ lâm thời năm 1945, ông thuộc nhóm có sự nghiệp chính trị kéo dài nhất và giữ chức vụ đứng đầu Chính phủ trong nhiều thập niên.
13. Vũ Đình Hòe: luật sư, nhà báo và người xây dựng nền giáo dục mới
Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, xuất thân trong một gia đình có truyền thống học thuật. Ông học luật và hoạt động báo chí, đồng thời tham gia nhóm trí thức Thanh Nghị. Tạp chí Thanh Nghị xuất bản từ năm 1941 và trở thành một diễn đàn quan trọng của giới trí thức đương thời.
Ông cũng tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và Hội Truyền bá Quốc ngữ. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giao chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục.
Trong những tháng đầu tiên của chính quyền mới, Vũ Đình Hòe tham gia tổ chức lại hệ thống giáo dục. Ngày 10.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 45 thành lập Ban Đại học Văn khoa. Sau đó, Vũ Đình Hòe ký các nghị định quy định chương trình và nhân sự của Ban Đại học Văn khoa.
Tháng 3.1946, ông chuyển sang Bộ Tư pháp và giữ chức Bộ trưởng trong nhiều năm. Theo Bộ Tư pháp, ông đảm nhiệm cương vị này từ tháng 3.1946 đến năm 1960.
Sự nghiệp của Vũ Đình Hòe trải qua hai lĩnh vực chính: giáo dục và pháp luật. Ông tham gia xây dựng cơ cấu giáo dục đại học và sau đó đóng vai trò lâu dài trong việc xây dựng hệ thống pháp luật của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ông qua đời ngày 29.1.2011.
14. Cù Huy Cận: nhà thơ của phong trào Thơ mới và một chính khách hoạt động lâu dài trong lĩnh vực văn hóa
Cù Huy Cận, thường được biết đến với tên Huy Cận, sinh ngày 31.5.1919 tại Hà Tĩnh. Ông học tại Huế, sau đó ra Hà Nội học Trường Đại học Nông Lâm. Trong những năm 1930, ông bắt đầu nổi tiếng với tư cách nhà thơ và trở thành một trong những tác giả tiêu biểu của phong trào Thơ mới.
Đầu thập niên 1940, Huy Cận vừa học tập vừa tham gia hoạt động bí mật. Năm 1945, ông dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Giải phóng toàn quốc.
Trong văn bản Tuyên cáo về việc thành lập Chính phủ lâm thời công bố ngày 28.8.1945, Cù Huy Cận chính thức giữ chức danh Bộ trưởng không bộ.
Ngay sau khi nhận chức danh này, ông cùng với Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Trần Huy Liệu và Ủy viên Nguyễn Lương Bằng đã lập tức lên đường vào Huế để nhận ấn kiếm thoái vị của Vua Bảo Đại vào ngày 30.8.1945.
Do yêu cầu cấp bách của tình hình thực tế, Bộ trưởng không bộ Cù Huy Cận được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao đảm nhiệm nhiều trọng trách chuyên biệt thuộc các lĩnh vực khác nhu các hoạt động về Canh nông hay Thanh tra đặc biệt.
Từ năm 1949 đến 1955, ông làm Tổng Thư ký Hội đồng Chính phủ. Sau đó, sự nghiệp của Huy Cận chuyển mạnh sang lĩnh vực văn hóa. Ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa trong nhiều năm và tham gia các tổ chức văn học nghệ thuật.
Ông qua đời ngày 19.2.2005 tại Hà Nội. Sự nghiệp của ông có sự kết hợp giữa văn học, quản lý nhà nước và hoạt động văn hóa trong nhiều thập niên.
15. Nguyễn Văn Xuân: người tổ chức kỹ thuật và quân giới
Nguyễn Văn Xuân, tên khai sinh Nguyễn Ngọc Xuân (1902 - 1981), thuộc nhóm những cán bộ kỹ thuật tham gia xây dựng ngành quân giới của chính quyền cách mạng.
Ông từng học tại Trường Kỹ nghệ Hà Nội và làm việc tại một số cơ sở kỹ thuật dưới chính quyền thuộc địa, trong đó có các xưởng công nghiệp và phòng thí nghiệm. Kinh nghiệm kỹ thuật sau đó được ông sử dụng trong hoạt động xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí.
Năm 1929, ông tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng và bị chính quyền thuộc địa bắt giữ. Sau khi được thả, ông chuyển sang hoạt động với các tổ chức cách mạng và tham gia xây dựng các cơ sở quân giới bí mật.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được đưa vào Chính phủ lâm thời với chức Bộ trưởng không bộ. Trong thời kỳ đầu của chính quyền mới, vai trò của ông chủ yếu liên quan đến tổ chức sản xuất, kỹ thuật và quân giới.
Khác với nhiều thành viên khác trong danh sách, Nguyễn Văn Xuân không phát triển thành một nhân vật chính trị cấp cao trong những thập niên tiếp theo. Sự nghiệp của ông chủ yếu gắn với lĩnh vực kỹ thuật và tổ chức sản xuất phục vụ kháng chiến.
Ông qua đời năm 1981.
16. Một nội các với những con đường sự nghiệp khác nhau
15 thành viên Chính phủ lâm thời năm 1945 không tạo thành một nhóm có lý lịch giống nhau. Xuất thân và thành phần của 15 thành viên được chia làm 3 nhóm chính:
Nhóm các nhà hoạt động chính trị - xã hội chuyên nghiệp. Đây là nhóm những người đã dấn thân vào con đường đấu tranh cứu nước từ trước năm 1945, lãnh đạo phong trào mặt trận hoặc lực lượng vũ trang, không phân biệt đảng phái.
Một số người có sự nghiệp ngắn hơn do chiến tranh và hoàn cảnh cá nhân. Nguyễn Văn Tố hy sinh năm 1947; Phạm Ngọc Thạch mất năm 1968 khi đang hoạt động tại chiến trường; Dương Đức Hiền mất năm 1963; những trường hợp này khiến sự nghiệp của họ không kéo dài như những thành viên khác.
Cũng có những người chuyển lĩnh vực. Trần Huy Liệu từ báo chí và chính trị chuyển sang nghiên cứu lịch sử; Huy Cận từ thơ ca và hoạt động chính trị chuyển sang quản lý văn hóa; Vũ Đình Hòe từ giáo dục chuyển sang tư pháp.
17. Từ Chính phủ lâm thời đến những thập niên sau năm 1945
Trong suốt các thập niên sau năm 1945, các nhà nghiên cứu lịch sử, các chính trị gia và các thế hệ sau này đều thống nhất đưa ra những kết luận và đánh giá mang tính kinh điển về Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Dù chỉ hoạt động trong thời gian ngắn từ 28.8.1945 đến 2.3.1946, sau đó Chính phủ lâm thời được cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời ngày 1.1.1946, sau đó nữa là Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập ngày 2.3.1946. Vai trò và di sản của Chính phủ lâm thời được nhìn nhận qua nhiều bài học.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết lập một "Nội các thống nhất quốc gia" với đa số thành viên là các nhân sĩ, trí thức ngoài Đảng (như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Đình Hòe...) đã chứng minh Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của một đảng phái, mà là chính phủ của toàn dân tộc. Có thể coi việc thành lập Chính phủ lâm thời là biểu tượng đỉnh cao của khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là kết luận được nhắc đến nhiều nhất trong các công trình lịch sử sau này.
Di sản này trở thành bài học xương máu cho các giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước sau này. Muốn vượt qua nghịch cảnh, phải tìm được "mẫu số chung" là lòng yêu nước và sự đồng thuận của nhân dân.
Các thập niên sau nhìn lại đều vô cùng khâm phục cách dùng người của Chính phủ lâm thời. 15 vị bộ trưởng đầu tiên đều là những bậc đại trí thức, đem hết tài năng, danh vọng cá nhân để cống hiến cho một nền độc lập non trẻ mà không mưu cầu lợi ích riêng. Sự tận tụy của họ đã tạo ra một chuẩn mực đạo đức công vụ cho các thế hệ lãnh đạo sau này noi theo. Đây thật sự là sự lựa chọn nhân sự "vô tiền khoáng hậu" vì quốc gia.
Chính phủ lâm thời đã đặt nền móng pháp lý vững chắc cho nhà nước pháp quyền. Dù là chính phủ "lâm thời", nhưng những gì họ thiết lập lại mang tính vĩnh cửu. Trong chưa đầy nửa năm, Chính phủ lâm thời đã:
- Ký sắc lệnh ấn định Quốc kỳ cờ đỏ sao vàng.
- Khai sinh ra phong trào Bình dân học vụ xóa nạn mù chữ.
- Tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên 6.1.1946 để bầu ra Quốc hội chính thức.
- Chuẩn bị dự thảo cho bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946.
Nếu không có sự nhạy bén pháp lý của Chính phủ lâm thời trong việc chuyển hóa quyền lực cách mạng thành quyền lực hiến định, nhà nước non trẻ đã không thể có đủ tư cách pháp lý để đối thoại và đương đầu với các thế lực ngoại bang.
Giai đoạn sau năm 1945 là lúc Việt Nam rơi vào vòng vây của nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm của quân Tưởng, quân Pháp. Chính phủ lâm thời dưới sự chèo lái khôn khéo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện những quyết sách ngoại giao vô cùng tài tình (nhẫn nhịn, hòa hoãn với quân Tưởng để rảnh tay đối phó thực dân Pháp), đồng thời phát động "Tuần lễ Vàng", lập "Quỹ Độc lập" dựa vào sức dân để cứu đói và duy trì ngân khố quốc gia.
Đến các thập niên sau này, Chính phủ lâm thời năm 1945 không chỉ được nhìn nhận như một cơ quan quản lý hành chính mang tính chuyển tiếp, mà được vinh danh là bệ đỡ lịch sử, người đặt những viên gạch đầu tiên hình thành nên cấu trúc nhà nước Việt Nam hiện đại.
Nguồn khảo cứu
1. Chính phủ Việt Nam, Thành viên Chính phủ qua các thời kỳ - Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945.
2. Việt Nam Dân quốc Công báo, số 1, ngày 29/9/1945.
3. Lịch sử Chính phủ Việt Nam (1945-2005), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
4. Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
5. Bộ Tư pháp, các tư liệu về sự hình thành Chính phủ lâm thời và Bộ Tư pháp năm 1945.
6. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, tư liệu về Nguyễn Văn Tố và Quốc hội khóa I.
7. Bộ Quốc phòng / Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tư liệu về Chính phủ lâm thời, Chu Văn Tấn và Nguyễn Ngọc Xuân.
8. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tư liệu về Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ lâm thời và 15 chữ ký dưới Tuyên ngôn Độc lập.
9. Viện Sử học – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các nghiên cứu về Tổng tuyển cử và Chính phủ năm 1945 - 1946.
10. Nguyễn Văn Tố, tư liệu tiểu sử và hoạt động xã hội - văn hóa, Cổng Thông tin điện tử Quốc hội.
11. Kiều Mai Sơn, Chân dung 15 vị Bộ trưởng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (8.1945), NXB Kim Đồng.
12. Đào Trọng Kim, các tư liệu về Bộ Giao thông Công chính năm 1945 - 1946 và hoạt động tại Quốc hội khóa I.
13. Vũ Đình Hòe, tư liệu của Bộ Tư pháp và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
14. Nguyễn Ngọc Xuân, tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam về Giấy ủy nhiệm số 87 ngày 22/9/1945.
15. Trần Huy Liệu, tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia về hoạt động của ông trong Chính phủ lâm thời và phái đoàn tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại.
15 thành viên Chính phủ lâm thời năm 1945: Cuộc đời, sự nghiệp và những con đường khác nhau của một thế hệ chính khách.
Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra một văn kiện quan trọng mang tên "Tuyên cáo về việc thành lập Chính phủ mới". Trong tờ tuyên cáo này, tiêu đề danh sách nhân sự được ghi rõ ràng là: "Danh sách Nội các thống nhất quốc gia". Nội các thống nhất quốc gia gồm 15 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
Danh sách được công bố gồm:
- Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Hồ Chí Minh
- Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Võ Nguyên Giáp
- Bộ trưởng Bộ Thông tin, Tuyên truyền: Trần Huy Liệu
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Chu Văn Tấn
- Bộ trưởng Bộ Thanh niên: Dương Đức Hiền
- Bộ trưởng Bộ Kinh tế Quốc gia: Nguyễn Mạnh Hà
- Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội: Nguyễn Văn Tố
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Trọng Khánh
- Bộ trưởng Bộ Y tế: Phạm Ngọc Thạch
- Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Đào Trọng Kim
- Bộ trưởng Bộ Lao động: Lê Văn Hiến
- Bộ trưởng Bộ Tài chính: Phạm Văn Đồng
- Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục: Vũ Đình Hòe
- Bộ trưởng không bộ: Cù Huy Cận
- Bộ trưởng không bộ: Nguyễn Văn Xuân
Trong số 15 người, con đường sự nghiệp sau năm 1945 cũng rất khác nhau. Một số trở thành những nhân vật giữ vị trí cao trong Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nhiều thập niên; một số tập trung vào lĩnh vực chuyên môn; một số hy sinh trong chiến tranh; một số rời khỏi đời sống chính trị hoặc sống ở nước ngoài.
1. Hồ Chí Minh: từ Nguyễn Ái Quốc đến người đứng đầu Chính phủ lâm thời
Hồ Chí Minh, tên khai sinh Nguyễn Sinh Cung, sau này thường sử dụng tên Nguyễn Ái Quốc, sinh năm 1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Năm 1911, Bác rời Việt Nam và trải qua nhiều năm hoạt động tại nhiều quốc gia. Trong quá trình đó, Bác tham gia các hoạt động chính trị của người Việt ở Pháp, gia nhập phong trào cộng sản quốc tế và trở thành một trong những nhân vật tham gia thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.
Trong những năm 1930 - 1940, Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại nhiều địa bàn ở châu Á. Năm 1941, Bác trở về Việt Nam và trực tiếp tham gia xây dựng tổ chức Việt Minh, căn cứ địa và hệ thống lực lượng cách mạng. Tháng 8 năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, thời cơ chính trị xuất hiện và lực lượng Việt Minh tiến hành giành chính quyền tại nhiều địa phương.
Ngày 28.8.1945, Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ lâm thời và kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình, Bác thay mặt Chính phủ đọc Tuyên ngôn Độc lập.
Trong những tháng tiếp theo, Chính phủ phải đồng thời xây dựng hệ thống hành chính, tổ chức Tổng tuyển cử, xử lý vấn đề tài chính, cứu đói, chống nạn mù chữ và đối phó với các lực lượng quân sự nước ngoài hiện diện tại Việt Nam. Ngày 6.1.1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I được tổ chức. Sau đó, cơ cấu chính phủ tiếp tục thay đổi qua Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày 1.1.1946 và Chính phủ liên hiệp kháng chiến ngày 2.3.1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến khi qua đời ngày 2.9.1969 tại Hà Nội.
2. Võ Nguyên Giáp: từ nhà giáo, nhà báo đến người tổ chức lực lượng vũ trang
Cụ Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Cụ được đào tạo trong hệ thống giáo dục thuộc địa, từng học tại Trường Quốc học Huế và sau đó học tại Hà Nội. Trước khi trở thành một nhân vật quân sự, cụ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và báo chí.
Trong những năm 1930, cụ Võ Nguyên Giáp tham gia hoạt động chính trị và báo chí. Năm 1940, cụ sang Trung Quốc và gặp Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, hoạt động của cụ gắn trực tiếp với quá trình xây dựng lực lượng cách mạng.
Tháng 12.1944, theo chỉ thị của lãnh đạo Việt Minh, cụ tổ chức Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Lực lượng ban đầu chỉ gồm vài chục người nhưng trở thành một trong những tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau Cách mạng Tháng Tám, cụ Võ Nguyên Giáp được giao Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời. Danh sách chính thức ngày 28.8.1945 xác định cụ là Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Trong những năm 1945–1946, nhiệm vụ của Bộ Nội vụ liên quan trực tiếp đến tổ chức chính quyền ở các địa phương, xây dựng bộ máy hành chính và xử lý những vấn đề an ninh, chính trị. Từ tháng 3.1946, cụ Võ Nguyên Giáp chuyển sang giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Sự nghiệp của cụ sau đó chủ yếu gắn với quân đội. Cụ giữ vai trò chỉ huy cao cấp trong Chiến tranh Đông Dương, đặc biệt tại chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, cụ tiếp tục giữ vị trí lãnh đạo cao cấp của quân đội. Sau năm 1975, cụ đảm nhiệm một số chức vụ nhà nước và quân đội trước khi nghỉ công tác.
Cụ Võ Nguyên Giáp qua đời ngày 4.10.2013 tại Hà Nội.
3. Trần Huy Liệu: từ nhà báo chính trị đến nhà sử học
Trần Huy Liệu sinh ngày 5.11.1901 tại Vân Cát, Vụ Bản, Nam Định, trong một gia đình nhà Nho. Từ khi còn trẻ, ông đã tham gia hoạt động báo chí và chính trị. Năm 1920, ông bắt đầu viết báo; đến thập niên 1920 hoạt động báo chí trở thành một phần quan trọng trong sự nghiệp của ông.
Năm 1927 - 1928, ông tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng và sau đó bị chính quyền thuộc địa bắt giữ. Ông bị kết án và đày ra Côn Đảo. Trong thời gian này, ông tiếp xúc với nhiều tù chính trị và dần chuyển sang hoạt động theo khuynh hướng cộng sản.
Sau khi được trả tự do, Trần Huy Liệu tiếp tục hoạt động báo chí. Trong thời kỳ Mặt trận Bình dân, ông tham gia các hoạt động báo chí công khai. Năm 1939, ông bị bắt và bị đưa đi Sơn La, Nghĩa Lộ. Tháng 3.1945, ông vượt ngục và trở về Hà Nội.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin, Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời. Ông cũng là thành viên phái đoàn của Chính phủ vào Huế cuối tháng 8.1945 để tiếp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xác định ông là người thay mặt Chính phủ tham dự nghi lễ tiếp nhận ấn kiếm tại Ngọ Môn ngày 30.8.1945.
Sau năm 1945, sự nghiệp của Trần Huy Liệu chuyển dần từ chính trị và báo chí sang nghiên cứu lịch sử. Ông tham gia Ban Nghiên cứu Văn, Sử, Địa và sau đó trở thành Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học. Ông viết nhiều công trình về lịch sử Việt Nam, trong đó có các nghiên cứu về Nguyễn Trãi và lịch sử cận đại.
Ông qua đời ngày 28.7.1969 tại Hà Nội. Di sản lớn nhất của ông về sau nằm ở lĩnh vực sử học và nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại.
4. Chu Văn Tấn: từ địa phương Bắc Sơn đến Bộ trưởng Quốc phòng
Chu Văn Tấn sinh tháng 5.1909 tại vùng Võ Nhai, Thái Nguyên, là người dân tộc Nùng. Ông xuất thân từ một gia đình có vị thế tại địa phương và từng làm việc trong hệ thống hành chính cấp cơ sở của chính quyền thuộc địa.
Từ giữa thập niên 1930, ông tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1936, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tháng 9.1940, ông tham gia xây dựng lực lượng vũ trang ở khu vực Bắc Sơn và Việt Bắc.
Trong quá trình phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, Chu Văn Tấn giữ vai trò quan trọng tại khu vực Bắc Sơn và sau đó trong Cứu quốc quân. Kinh nghiệm hoạt động ở vùng núi phía Bắc khiến ông trở thành một trong những chỉ huy quân sự quan trọng của Việt Minh trước năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giao Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời. Theo hồ sơ chính thức, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từ tháng 8.1945 đến ngày 2.3.1946.
Sau đó, sự nghiệp của Chu Văn Tấn tiếp tục gắn với quân đội và tổ chức chính trị. Năm 1948, ông nằm trong số những cán bộ quân đội đầu tiên được phong quân hàm Thiếu tướng. Về sau ông được phong Thượng tướng và giữ nhiều chức vụ trong hệ thống chính trị, trong đó có Phó Chủ tịch Quốc hội.
Những năm cuối đời, hoạt động chính trị của ông giảm dần. Chu Văn Tấn qua đời ngày 22.5.1984.
5. Dương Đức Hiền: đại diện của tầng lớp trí thức và Đảng Dân chủ Việt Nam
Dương Đức Hiền sinh năm 1916. Ông học tại Trường Bưởi và sau đó theo học luật tại Viện Đại học Đông Dương. Năm 1940, ông tốt nghiệp cử nhân luật.
Trong thời gian học tập, ông tham gia phong trào sinh viên và các hoạt động xã hội. Ông cũng cộng tác với nhóm Thanh Nghị, một trong những nhóm trí thức hoạt động công khai trong những năm cuối thời thuộc địa.
Ngày 30.6.1944, Dương Đức Hiền tham gia thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam và trở thành Tổng Bí thư đầu tiên của đảng này. Cuối năm 1944, ông tham gia một đoàn đại biểu Việt Minh sang Trung Quốc để tiếp xúc với chính quyền Tưởng Giới Thạch.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ lâm thời. Chức vụ này phản ánh vai trò của tầng lớp thanh niên, sinh viên và trí thức trong quá trình xây dựng bộ máy chính quyền mới.
Dương Đức Hiền tiếp tục tham gia hoạt động chính trị trong những năm sau đó nhưng không trở thành nhân vật giữ vị trí quyền lực cao trong thời gian dài như một số thành viên khác của Chính phủ năm 1945.
Ông mất năm 1963, khi mới 47 tuổi.
6. Nguyễn Mạnh Hà: một trí thức được đào tạo tại Pháp và Bộ trưởng Kinh tế Quốc gia
Nguyễn Mạnh Hà sinh trong một gia đình Công giáo tại Hưng Yên. Ông được đưa sang Pháp học từ khi còn trẻ và theo học luật cùng khoa học chính trị. Năm 1937, ông tốt nghiệp tại Paris. Sau khi về Việt Nam, ông làm việc trong bộ máy kinh tế và lao động của chính quyền thuộc địa.
Năm 1943, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Kinh tế kiêm Thanh tra Lao động Bắc Kỳ. Đây là một vị trí đáng chú ý bởi ông đã có kinh nghiệm quản lý kinh tế trong chính quyền thuộc địa trước khi tham gia Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Mạnh Hà được mời tham gia Chính phủ lâm thời và giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế Quốc gia. Bộ Kinh tế Quốc gia được thành lập ngày 28.8.1945; những văn bản đầu tiên của bộ liên quan đến tổ chức quản lý kinh tế và tài chính của chính quyền mới đều được ban hành trong thời gian ông phụ trách.
Ông tiếp tục giữ chức Bộ trưởng trong giai đoạn đầu năm 1946. Ông cũng tham gia phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946.
Sau khi trở lại Pháp, cuộc đời Nguyễn Mạnh Hà tách khỏi quỹ đạo chính trị trong nước. Ông sống tại Pháp và sau đó tại Thụy Sĩ. Ông qua đời năm 1992.
Trường hợp Nguyễn Mạnh Hà đặc biệt ở chỗ ông chuyển từ một trí thức và viên chức chuyên môn trong hệ thống thuộc địa sang vị trí bộ trưởng của chính quyền Việt Nam mới thành lập, rồi sau đó lại sống lâu dài ở châu Âu.
7. Nguyễn Văn Tố: học giả Hán học và người đứng đầu Quốc hội khóa I
Nguyễn Văn Tố sinh ngày 5.6.1889 tại Hà Đông. Ông được đào tạo Hán học từ nhỏ, sau đó học chương trình Pháp và làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội. Công việc nghiên cứu tại đây giúp ông tiếp cận nhiều tư liệu về lịch sử, văn học và văn hóa Việt Nam.
Ông sử dụng bút hiệu Ứng Hòe và có nhiều bài khảo cứu về văn hóa, lịch sử và văn học. Ngoài hoạt động học thuật, ông tham gia Hội Trí Tri và Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Văn Tố giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội trong Chính phủ lâm thời. Đây là một trong những vị trí gắn trực tiếp với vấn đề cứu trợ xã hội trong những tháng đầu của chính quyền mới.
Sau Tổng tuyển cử tháng 1.1946, ông trở thành Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I và tham gia Chính phủ Liên hiệp Quốc dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông rời Hà Nội cùng Chính phủ và lên Việt Bắc. Ngày 7.10.1947, trong một cuộc tấn công của quân Pháp vào khu vực chiến khu, ông bị bắt và bị sát hại tại Bắc Kạn.
Sự nghiệp của Nguyễn Văn Tố trải qua ba lĩnh vực chính: nghiên cứu văn hóa, hoạt động xã hội và xây dựng thiết chế nhà nước trong những năm đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
8. Vũ Trọng Khánh: luật sư và người đặt nền móng cho Bộ Tư pháp
Vũ Trọng Khánh sinh ngày 13.3.1912, quê gốc Cự Đà, Thanh Oai, Hà Đông. Ông học tại Lycée Albert Sarraut và sau đó học luật tại Hà Nội. Năm 1936, ông tốt nghiệp cử nhân luật và hành nghề luật sư tại Hải Phòng từ năm 1938.
Trước Cách mạng Tháng Tám, ông từng tham gia một số hoạt động xã hội và chính trị, đồng thời có quan hệ với các nhóm trí thức và thanh niên hoạt động trong thời kỳ Mặt trận Bình dân.
Tháng 7.1945, ông được bổ nhiệm làm Đốc lý Hải Phòng. Sau khi Việt Minh giành chính quyền tại thành phố, ông tham gia quá trình chuyển giao chính quyền.
Ngày 28.8.1945, Vũ Trọng Khánh trở thành Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ lâm thời. Ông giữ chức vụ này đến ngày 28.2.1946.
Trong thời gian ngắn tại Bộ Tư pháp, ông tham gia xây dựng cơ cấu tư pháp của nhà nước mới. Ngày 1.12.1945, ông ký Nghị định số 37 về tổ chức Bộ Tư pháp, quy định phạm vi công việc liên quan đến pháp luật, tòa án, truy tố, thi hành án, luật sư và các lĩnh vực tư pháp khác.
Sau đó, Vũ Trọng Khánh tiếp tục hoạt động trong ngành tư pháp và chính quyền địa phương. Ông từng giữ chức Giám đốc Tư pháp Chiến khu 10, Trưởng Ban Nghiên cứu pháp lý và đảm nhiệm nhiều chức vụ tại Hải Phòng. Sau năm 1955, ông tham gia quản lý hành chính thành phố Hải Phòng và hoạt động trong Hội Luật gia.
Ông nghỉ hưu năm 1977 và qua đời ngày 22.1.1996.
9. Phạm Ngọc Thạch: Thủ lĩnh phong trào Thanh niên tiền phong đến Bộ trưởng Bộ Y tế
Phạm Ngọc Thạch sinh năm 1909. Ông học y tại Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục đào tạo và tốt nghiệp bác sĩ tại Paris năm 1934. Sau khi về Việt Nam, ông hành nghề y tại Sài Gòn đồng thời tham gia hoạt động chính trị.
Trong thời kỳ Mặt trận Bình dân 1936 - 1939, ông tham gia các hoạt động xã hội và phong trào yêu nước. Tháng 3.1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành một trong những người tổ chức Thanh niên Tiền phong tại Nam Bộ.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giao chức Bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ lâm thời. Ông cũng tham gia Ủy ban Nhân dân Nam Bộ. Khi chiến sự tại Nam Bộ bùng nổ từ tháng 9.1945, ông đảm nhiệm nhiều vị trí trong hệ thống chính quyền và kháng chiến ở Nam Bộ.
Từ năm 1948 đến 1950, ông giữ chức Trưởng phái đoàn Chính phủ tại Nam Bộ và Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau đó ông ra Bắc và tiếp tục hoạt động trong ngành y tế.
Từ năm 1958, Phạm Ngọc Thạch trở lại giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế. Ông tập trung vào tổ chức mạng lưới y tế, đào tạo cán bộ và phát triển hệ thống y tế công cộng.
Ngày 7.11.1968, ông qua đời tại chiến trường miền Nam. Sự nghiệp của ông sau năm 1945 chủ yếu gắn với việc xây dựng hệ thống y tế nhà nước.
10. Đào Trọng Kim: kỹ sư công chính trong một chính phủ cách mạng
Đào Trọng Kim sinh năm 1897, thuộc thế hệ kỹ sư Việt Nam được đào tạo trong hệ thống giáo dục kỹ thuật của chính quyền thuộc địa. Ông học Trường Bưởi, sau đó học Trường Công chính Đông Dương và tiếp tục nâng cao chuyên môn về công chính tại Pháp.
Sau khi tốt nghiệp, ông có nhiều năm làm việc trong ngành công chính tại Bắc Kỳ và từng giữ chức trưởng ty tại nhiều địa phương.
Sau cuộc đảo chính Pháp của quân đội Nhật ngày 9.3.1945, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha Công chính Bắc Bộ dưới chính quyền Trần Trọng Kim.
Sau Cách mạng Tháng Tám, kinh nghiệm chuyên môn của Đào Trọng Kim được sử dụng trong bộ máy chính quyền mới. Ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính trong Chính phủ lâm thời từ 28.8.1945 - 2.3.1946
Sự nghiệp của Đào Trọng Kim không phát triển theo hướng chính trị hoặc quân sự như cụ Võ Nguyên Giáp hay Phạm Văn Đồng. Vai trò chủ yếu của ông nằm ở lĩnh vực kỹ thuật và quản lý công trình.
Ông qua đời năm 1984.
11. Lê Văn Hiến: từ hoạt động cách mạng ở Trung Kỳ đến Bộ Tài chính
Lê Văn Hiến sinh ngày 15.9.1904 tại Đà Nẵng, trong một gia đình lao động. Ông được học tại Huế và sau đó làm việc trong ngành bưu điện.
Từ cuối thập niên 1920, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, ông cùng một số đồng chí thành lập tổ chức cách mạng tại Đà Nẵng. Ông nhiều lần bị chính quyền thuộc địa bắt giữ và trải qua nhiều nhà tù.
Sau khi được trả tự do năm 1945, ông tham gia vào chính quyền cách mạng. Trong Chính phủ lâm thời, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động. Sau đó, từ tháng 3.1946, ông chuyển sang Bộ Tài chính.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông giữ vai trò quan trọng trong quản lý tài chính của Chính phủ. Ông tiếp tục phụ trách lĩnh vực tài chính cho đến năm 1958.
Một trong những nguồn tư liệu quan trọng về giai đoạn này là hồi ký Nhật ký một Bộ trưởng, được ông xuất bản năm 1995, ghi lại nhiều hoạt động liên quan đến công tác tài chính, kinh tế và quản lý nhà nước trong thời kỳ kháng chiến.
Lê Văn Hiến qua đời năm 1997.
12. Phạm Văn Đồng: từ nhà hoạt động cách mạng đến người đứng đầu Chính phủ trong hơn ba thập niên
Phạm Văn Đồng sinh ngày 1.3.1906 tại Quảng Ngãi. Năm 1925, ông tham gia phong trào học sinh, sinh viên. Năm 1926, ông sang Quảng Châu và tham gia lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, sau đó gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Năm 1929, ông bị chính quyền thuộc địa bắt và bị kết án tù, sau đó bị đày ra Côn Đảo. Năm 1936, ông được trả tự do và tiếp tục hoạt động. Năm 1940, ông sang Trung Quốc và tham gia hoạt động cùng Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1945, Phạm Văn Đồng tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và được bầu vào cơ quan lãnh đạo của phong trào. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời.
Năm 1946, ông tham gia đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức vụ trong Chính phủ và ngoại giao.
Tháng 9.1955, Phạm Văn Đồng trở thành Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau năm 1976, ông tiếp tục giữ chức Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam thống nhất; từ năm 1981, chức danh được đổi thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông giữ cương vị này đến năm 1987.
Phạm Văn Đồng qua đời ngày 29.4.2000 tại Hà Nội.
Trong số 15 thành viên Chính phủ lâm thời năm 1945, ông thuộc nhóm có sự nghiệp chính trị kéo dài nhất và giữ chức vụ đứng đầu Chính phủ trong nhiều thập niên.
13. Vũ Đình Hòe: luật sư, nhà báo và người xây dựng nền giáo dục mới
Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, xuất thân trong một gia đình có truyền thống học thuật. Ông học luật và hoạt động báo chí, đồng thời tham gia nhóm trí thức Thanh Nghị. Tạp chí Thanh Nghị xuất bản từ năm 1941 và trở thành một diễn đàn quan trọng của giới trí thức đương thời.
Ông cũng tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và Hội Truyền bá Quốc ngữ. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giao chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục.
Trong những tháng đầu tiên của chính quyền mới, Vũ Đình Hòe tham gia tổ chức lại hệ thống giáo dục. Ngày 10.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 45 thành lập Ban Đại học Văn khoa. Sau đó, Vũ Đình Hòe ký các nghị định quy định chương trình và nhân sự của Ban Đại học Văn khoa.
Tháng 3.1946, ông chuyển sang Bộ Tư pháp và giữ chức Bộ trưởng trong nhiều năm. Theo Bộ Tư pháp, ông đảm nhiệm cương vị này từ tháng 3.1946 đến năm 1960.
Sự nghiệp của Vũ Đình Hòe trải qua hai lĩnh vực chính: giáo dục và pháp luật. Ông tham gia xây dựng cơ cấu giáo dục đại học và sau đó đóng vai trò lâu dài trong việc xây dựng hệ thống pháp luật của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ông qua đời ngày 29.1.2011.
14. Cù Huy Cận: nhà thơ của phong trào Thơ mới và một chính khách hoạt động lâu dài trong lĩnh vực văn hóa
Cù Huy Cận, thường được biết đến với tên Huy Cận, sinh ngày 31.5.1919 tại Hà Tĩnh. Ông học tại Huế, sau đó ra Hà Nội học Trường Đại học Nông Lâm. Trong những năm 1930, ông bắt đầu nổi tiếng với tư cách nhà thơ và trở thành một trong những tác giả tiêu biểu của phong trào Thơ mới.
Đầu thập niên 1940, Huy Cận vừa học tập vừa tham gia hoạt động bí mật. Năm 1945, ông dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Giải phóng toàn quốc.
Trong văn bản Tuyên cáo về việc thành lập Chính phủ lâm thời công bố ngày 28.8.1945, Cù Huy Cận chính thức giữ chức danh Bộ trưởng không bộ.
Ngay sau khi nhận chức danh này, ông cùng với Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Trần Huy Liệu và Ủy viên Nguyễn Lương Bằng đã lập tức lên đường vào Huế để nhận ấn kiếm thoái vị của Vua Bảo Đại vào ngày 30.8.1945.
Do yêu cầu cấp bách của tình hình thực tế, Bộ trưởng không bộ Cù Huy Cận được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao đảm nhiệm nhiều trọng trách chuyên biệt thuộc các lĩnh vực khác nhu các hoạt động về Canh nông hay Thanh tra đặc biệt.
Từ năm 1949 đến 1955, ông làm Tổng Thư ký Hội đồng Chính phủ. Sau đó, sự nghiệp của Huy Cận chuyển mạnh sang lĩnh vực văn hóa. Ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa trong nhiều năm và tham gia các tổ chức văn học nghệ thuật.
Ông qua đời ngày 19.2.2005 tại Hà Nội. Sự nghiệp của ông có sự kết hợp giữa văn học, quản lý nhà nước và hoạt động văn hóa trong nhiều thập niên.
15. Nguyễn Văn Xuân: người tổ chức kỹ thuật và quân giới
Nguyễn Văn Xuân, tên khai sinh Nguyễn Ngọc Xuân (1902 - 1981), thuộc nhóm những cán bộ kỹ thuật tham gia xây dựng ngành quân giới của chính quyền cách mạng.
Ông từng học tại Trường Kỹ nghệ Hà Nội và làm việc tại một số cơ sở kỹ thuật dưới chính quyền thuộc địa, trong đó có các xưởng công nghiệp và phòng thí nghiệm. Kinh nghiệm kỹ thuật sau đó được ông sử dụng trong hoạt động xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí.
Năm 1929, ông tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng và bị chính quyền thuộc địa bắt giữ. Sau khi được thả, ông chuyển sang hoạt động với các tổ chức cách mạng và tham gia xây dựng các cơ sở quân giới bí mật.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được đưa vào Chính phủ lâm thời với chức Bộ trưởng không bộ. Trong thời kỳ đầu của chính quyền mới, vai trò của ông chủ yếu liên quan đến tổ chức sản xuất, kỹ thuật và quân giới.
Khác với nhiều thành viên khác trong danh sách, Nguyễn Văn Xuân không phát triển thành một nhân vật chính trị cấp cao trong những thập niên tiếp theo. Sự nghiệp của ông chủ yếu gắn với lĩnh vực kỹ thuật và tổ chức sản xuất phục vụ kháng chiến.
Ông qua đời năm 1981.
16. Một nội các với những con đường sự nghiệp khác nhau
15 thành viên Chính phủ lâm thời năm 1945 không tạo thành một nhóm có lý lịch giống nhau. Xuất thân và thành phần của 15 thành viên được chia làm 3 nhóm chính:
Nhóm các nhà hoạt động chính trị - xã hội chuyên nghiệp. Đây là nhóm những người đã dấn thân vào con đường đấu tranh cứu nước từ trước năm 1945, lãnh đạo phong trào mặt trận hoặc lực lượng vũ trang, không phân biệt đảng phái.
- Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo yêu nước tại Nghệ An; bôn ba tìm đường cứu nước qua nhiều quốc gia và là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Cử nhân Luật, xuất thân là nhà giáo dạy lịch sử tại trường Thăng Long và nhà báo trước khi trở thành người chỉ huy quân sự cách mạng.
- Phạm Văn Đồng - Bộ trưởng Bộ Tài chính: Xuất thân từ gia đình quan lại triều đình Huế (cha là học giả làm quan), tham gia cách mạng từ rất sớm và là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Trần Huy Liệu - Bộ trưởng Bộ Thông tin, Tuyên truyền: Nhà báo, nhà văn, nhà cách mạng kỳ cựu từng bị thực dân Pháp tù đày nhiều năm tại Côn Đảo.
- Lê Văn Hiến - Bộ trưởng Bộ Lao động: Nhà cách mạng quê ở Quảng Nam, từng bị tù đày tại ngục Kon Tum.
- Chu Văn Tấn - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Xuất thân từ nông dân, người dân tộc Nùng ở Thái Nguyên. Ông là thủ lĩnh lực lượng vũ trang cứu quốc quân, được mệnh danh là "Hùm xám Bắc Sơn".
- Nguyễn Mạnh Hà - Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế: Luật sư được đào tạo chính quy tại Pháp, là một trí thức Công giáo yêu nước nổi tiếng.
- Vũ Trọng Khánh - Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Luật sư nổi tiếng, từng giữ chức Thị trưởng Hải Phòng trong Chính phủ Trần Trọng Kim nhưng đã ủng hộ Việt Minh ngay từ đầu.
- Đào Trọng Kim - Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Kỹ sư công chính tài năng, tốt nghiệp tại Pháp
- Phạm Ngọc Thạch - Bộ trưởng Bộ Y tế: Bác sĩ y khoa nổi tiếng tốt nghiệp tại Pháp, thủ lĩnh của phong trào Thanh niên Tiền phong ở Nam Bộ.
- Nguyễn Văn Xuân - Bộ trưởng không bộ: Đại tá quân đội Pháp, một kỹ sư tài năng tốt nghiệp Trường Bách khoa Paris (Ecole Polytechnique).
- Nguyễn Văn Tố - Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội: Học giả lỗi lạc, chuyên gia kỳ cựu của Viện Viễn Đông Bác cổ, đồng thời là Hội trưởng Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ.
- Vũ Đình Hòe - Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục: Luật sư, nhà báo, nhà giáo, chủ trương cải cách giáo dục nước nhà.
- Dương Đức Hiền - Bộ trưởng Bộ Thanh niên: Luật sư, nguyên là thủ lĩnh phong trào sinh viên cứu quốc của Tổng hội Sinh viên Đông Dương.
- Cù Huy Cận - Bộ trưởng không bộ: Kỹ sư canh nông, đồng thời là thi sĩ nổi tiếng (Huy Cận) trong phong trào Thơ Mới.
Một số người có sự nghiệp ngắn hơn do chiến tranh và hoàn cảnh cá nhân. Nguyễn Văn Tố hy sinh năm 1947; Phạm Ngọc Thạch mất năm 1968 khi đang hoạt động tại chiến trường; Dương Đức Hiền mất năm 1963; những trường hợp này khiến sự nghiệp của họ không kéo dài như những thành viên khác.
Cũng có những người chuyển lĩnh vực. Trần Huy Liệu từ báo chí và chính trị chuyển sang nghiên cứu lịch sử; Huy Cận từ thơ ca và hoạt động chính trị chuyển sang quản lý văn hóa; Vũ Đình Hòe từ giáo dục chuyển sang tư pháp.
17. Từ Chính phủ lâm thời đến những thập niên sau năm 1945
Trong suốt các thập niên sau năm 1945, các nhà nghiên cứu lịch sử, các chính trị gia và các thế hệ sau này đều thống nhất đưa ra những kết luận và đánh giá mang tính kinh điển về Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Dù chỉ hoạt động trong thời gian ngắn từ 28.8.1945 đến 2.3.1946, sau đó Chính phủ lâm thời được cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời ngày 1.1.1946, sau đó nữa là Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập ngày 2.3.1946. Vai trò và di sản của Chính phủ lâm thời được nhìn nhận qua nhiều bài học.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết lập một "Nội các thống nhất quốc gia" với đa số thành viên là các nhân sĩ, trí thức ngoài Đảng (như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Đình Hòe...) đã chứng minh Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của một đảng phái, mà là chính phủ của toàn dân tộc. Có thể coi việc thành lập Chính phủ lâm thời là biểu tượng đỉnh cao của khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là kết luận được nhắc đến nhiều nhất trong các công trình lịch sử sau này.
Di sản này trở thành bài học xương máu cho các giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước sau này. Muốn vượt qua nghịch cảnh, phải tìm được "mẫu số chung" là lòng yêu nước và sự đồng thuận của nhân dân.
Các thập niên sau nhìn lại đều vô cùng khâm phục cách dùng người của Chính phủ lâm thời. 15 vị bộ trưởng đầu tiên đều là những bậc đại trí thức, đem hết tài năng, danh vọng cá nhân để cống hiến cho một nền độc lập non trẻ mà không mưu cầu lợi ích riêng. Sự tận tụy của họ đã tạo ra một chuẩn mực đạo đức công vụ cho các thế hệ lãnh đạo sau này noi theo. Đây thật sự là sự lựa chọn nhân sự "vô tiền khoáng hậu" vì quốc gia.
Chính phủ lâm thời đã đặt nền móng pháp lý vững chắc cho nhà nước pháp quyền. Dù là chính phủ "lâm thời", nhưng những gì họ thiết lập lại mang tính vĩnh cửu. Trong chưa đầy nửa năm, Chính phủ lâm thời đã:
- Ký sắc lệnh ấn định Quốc kỳ cờ đỏ sao vàng.
- Khai sinh ra phong trào Bình dân học vụ xóa nạn mù chữ.
- Tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên 6.1.1946 để bầu ra Quốc hội chính thức.
- Chuẩn bị dự thảo cho bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946.
Nếu không có sự nhạy bén pháp lý của Chính phủ lâm thời trong việc chuyển hóa quyền lực cách mạng thành quyền lực hiến định, nhà nước non trẻ đã không thể có đủ tư cách pháp lý để đối thoại và đương đầu với các thế lực ngoại bang.
Giai đoạn sau năm 1945 là lúc Việt Nam rơi vào vòng vây của nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm của quân Tưởng, quân Pháp. Chính phủ lâm thời dưới sự chèo lái khôn khéo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện những quyết sách ngoại giao vô cùng tài tình (nhẫn nhịn, hòa hoãn với quân Tưởng để rảnh tay đối phó thực dân Pháp), đồng thời phát động "Tuần lễ Vàng", lập "Quỹ Độc lập" dựa vào sức dân để cứu đói và duy trì ngân khố quốc gia.
Đến các thập niên sau này, Chính phủ lâm thời năm 1945 không chỉ được nhìn nhận như một cơ quan quản lý hành chính mang tính chuyển tiếp, mà được vinh danh là bệ đỡ lịch sử, người đặt những viên gạch đầu tiên hình thành nên cấu trúc nhà nước Việt Nam hiện đại.
Nguồn khảo cứu
1. Chính phủ Việt Nam, Thành viên Chính phủ qua các thời kỳ - Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945.
2. Việt Nam Dân quốc Công báo, số 1, ngày 29/9/1945.
3. Lịch sử Chính phủ Việt Nam (1945-2005), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
4. Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
5. Bộ Tư pháp, các tư liệu về sự hình thành Chính phủ lâm thời và Bộ Tư pháp năm 1945.
6. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, tư liệu về Nguyễn Văn Tố và Quốc hội khóa I.
7. Bộ Quốc phòng / Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tư liệu về Chính phủ lâm thời, Chu Văn Tấn và Nguyễn Ngọc Xuân.
8. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tư liệu về Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ lâm thời và 15 chữ ký dưới Tuyên ngôn Độc lập.
9. Viện Sử học – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các nghiên cứu về Tổng tuyển cử và Chính phủ năm 1945 - 1946.
10. Nguyễn Văn Tố, tư liệu tiểu sử và hoạt động xã hội - văn hóa, Cổng Thông tin điện tử Quốc hội.
11. Kiều Mai Sơn, Chân dung 15 vị Bộ trưởng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (8.1945), NXB Kim Đồng.
12. Đào Trọng Kim, các tư liệu về Bộ Giao thông Công chính năm 1945 - 1946 và hoạt động tại Quốc hội khóa I.
13. Vũ Đình Hòe, tư liệu của Bộ Tư pháp và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
14. Nguyễn Ngọc Xuân, tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam về Giấy ủy nhiệm số 87 ngày 22/9/1945.
15. Trần Huy Liệu, tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia về hoạt động của ông trong Chính phủ lâm thời và phái đoàn tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại.

