- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,297
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Ai thực sự kiểm soát dầu mở tại Iraq và Libya sau chiến tranh?
1. Iraq sau cuộc chiến năm 2003
Sau khi chế độ Saddam Hussein sụp đổ năm 2003, Iraq không trao toàn bộ các mỏ dầu lớn cho các công ty Mỹ hay Anh. Từ năm 2008, nước này tổ chức các vòng đấu thầu quốc tế công khai và áp dụng mô hình hợp đồng dịch vụ kỹ thuật. Theo mô hình này, các công ty nước ngoài chỉ đóng vai trò nhà thầu kỹ thuật, được trả một khoản phí cố định cho mỗi thùng dầu khai thác thêm, còn toàn bộ sản lượng dầu thô vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà nước Iraq.
Trong vòng đấu thầu đầu tiên năm 2009, mức phí này dao động khá rộng tùy theo mỏ, từ khoảng 1,9 đô la mỗi thùng tại mỏ Rumaila và West Qurna, đến gần 4 đô la mỗi thùng tại mỏ Bai Hassan. Một số mỏ khác nhận mức phí thấp hơn, như mỏ Halfaya với khoảng 1,4 đô la mỗi thùng.
Cơ chế này khiến phần giá trị tăng thêm khi giá dầu thế giới lên cao gần như không chảy vào tay các tập đoàn nước ngoài, vì khoản phí đã được cố định từ trước theo hợp đồng.
Cơ quan đại diện cho nhà nước Iraq trong các hợp đồng này là Basra Oil Company, tên gọi mới của South Oil Company sau khi đổi tên. Do bản chất hợp đồng dịch vụ kỹ thuật, toàn bộ sản lượng dầu khai thác được, về mặt pháp lý, vẫn thuộc về nhà nước Iraq bất kể công ty nào đứng ra điều hành kỹ thuật mỏ.
Mỏ Rumaila, mỏ lớn nhất của Iraq với sản lượng chiếm khoảng một phần ba tổng sản lượng cả nước, được vận hành bởi Rumaila Operating Organization. Trong tổ chức vận hành này, BP của Anh nắm 47,6%, PetroChina của Trung Quốc nắm 46,4%, phần còn lại thuộc về Basra Oil Company.
Từ tháng 6 năm 2022, vai trò nhà thầu chính trong hợp đồng dịch vụ kỹ thuật được chuyển sang Basra Energy Company Limited, một công ty riêng do BP và PetroChina đồng sở hữu; còn Rumaila Operating Organization tiếp tục là đơn vị trực tiếp điều hành mỏ.
Tại mỏ West Qurna 1, một trong những mỏ dầu lớn nhất thế giới với trữ lượng có thể khai thác trên 20 tỷ thùng, tập đoàn Mỹ ExxonMobil đã hoàn tất việc rút lui vào đầu năm 2024, bán lại 22,7% cổ phần cho Basra Oil Company. PetroChina trở thành nhà thầu chính với cổ phần lớn nhất, gần một phần ba, trong khi công ty Pertamina của Indonesia nắm 20% cổ phần còn lại từ phần thoái vốn của ExxonMobil.
Tại mỏ West Qurna 2, mỏ lớn thứ hai của Iraq với sản lượng hơn 460 nghìn thùng mỗi ngày, tình hình đã thay đổi đáng kể trong thời gian gần đây. Tập đoàn Nga Lukoil, đơn vị nắm 75% cổ phần và vận hành mỏ này từ năm 2010, đã tuyên bố trường hợp bất khả thi đối với hợp đồng sau khi Mỹ và Anh áp lệnh trừng phạt vào tháng 10 năm 2025.
Đầu tháng 1 năm 2026, chính phủ Iraq quyết định chuyển giao quyền quản lý vận hành mỏ này cho Basra Oil Company, và đến tháng 2 năm 2026, tập đoàn Mỹ Chevron đã ký thỏa thuận sơ bộ giành quyền đàm phán độc quyền để tiếp nhận hợp đồng từ Lukoil.
Ngoài hai tập đoàn nói trên, BP còn tham gia một hợp đồng khác nhằm tái phát triển các mỏ dầu tại khu vực Kirkuk ở miền Bắc Iraq, được chính phủ Iraq phê chuẩn lần cuối vào năm 2025.
Tập đoàn Pháp TotalEnergies giữ vai trò điều hành với 45% cổ phần trong dự án khí đốt và dầu mỏ tổng hợp mang tên Gas Growth Integrated Project, dự án trị giá khoảng 10 tỷ đô la được ký từ năm 2021, có QatarEnergy của Qatar nắm 25% và Basra Oil Company nắm 30% còn lại.
Như vậy, việc các công ty Mỹ rút khỏi một số mỏ ở miền Nam Iraq không phải là xu hướng một chiều, khi Chevron đang trở lại đàm phán giành quyền vận hành West Qurna 2.
Về phía cầu, Trung Quốc hiện là khách hàng mua dầu thô lớn nhất của Iraq, nhập khẩu khoảng 35% sản lượng xuất khẩu của nước này. Các tập đoàn Trung Quốc, dẫn đầu là Sinopec với cổ phần tại các mỏ Ahdab, Halfaya, Rumaila và West Qurna 1, nắm giữ trực tiếp khoảng 24 tỷ thùng trữ lượng và sản xuất khoảng 3 triệu thùng dầu mỗi ngày tại Iraq theo số liệu của S&P Global Commodity Insights.
Trung Quốc không tham gia về mặt quân sự vào cuộc chiến năm 2003, nhưng theo các số liệu nói trên, lại đang là bên thu được lợi ích thương mại lớn nhất từ ngành dầu mỏ Iraq trong giai đoạn hậu chiến.
2. Cách các nhà phân tích năng lượng lý giải mục đích can thiệp
Một số nhà phân tích năng lượng lý giải hiện trạng nói trên bằng cách phân biệt giữa mục tiêu chiến lược của một cuộc can thiệp quân sự và lợi ích thương mại trực tiếp sau đó.
Theo cách lý giải này, mục đích chính của các nước phương Tây khi can thiệp vào khu vực, nhìn từ góc độ năng lượng, không phải là đưa dầu về nước mình mà là duy trì sự ổn định của dòng chảy dầu mỏ toàn cầu, tránh để nguồn cung bị gián đoạn hoặc bị một thế lực thù địch chi phối.
Khi thị trường mở cửa đấu thầu tự do sau can thiệp, các doanh nghiệp phương Tây phải cạnh tranh ngang hàng với các đối thủ từ Trung Quốc, Nga hay những nước khác, và không có gì bảo đảm họ sẽ thắng thầu.
Một lý do khác được giới phân tích trong ngành dầu khí nêu ra để giải thích vì sao các tập đoàn quốc doanh Trung Quốc thường thắng thầu trong mô hình phí cố định trên mỗi thùng dầu là vì các tập đoàn phương Tây phải chịu sức ép lợi nhuận từ cổ đông, trong khi các công ty quốc doanh Trung Quốc có thể chấp nhận mức phí thấp hơn để đổi lấy khả năng tiếp cận lâu dài với nguồn dầu thô.
3. Libya sau cuộc can thiệp năm 2011
Bức tranh tại Libya có nét tương đồng với Iraq, dù phức tạp hơn do tình trạng phân rã quyền lực kéo dài giữa các chính quyền đối lập ở miền Đông và miền Tây nước này sau khi chế độ Muammar Gaddafi sụp đổ năm 2011.
Toàn bộ tài nguyên dầu mỏ của Libya, về mặt pháp lý và sản lượng lớn nhất, thuộc về National Oil Corporation, tập đoàn quốc doanh được thành lập từ năm 1970, cùng các công ty con của tập đoàn này.
- Hai công ty con lớn nhất của National Oil Corporation về sản lượng là Waha Oil Company và Arabian Gulf Oil Company, tính chung các công ty con này chiếm phần lớn sản lượng dầu của cả nước.
- Waha Oil Company là công ty vận hành 100% thuộc National Oil Corporation, được giao điều hành kỹ thuật khu nhượng địa Waha tại bồn địa Sirte.
Cơ cấu quyền khai thác trong khu nhượng địa Waha, tức quyền sở hữu dòng dầu thô khai thác được, được chia theo tỷ lệ khác với cơ cấu công ty vận hành.
Hiện tại National Oil Corporation nắm 59,16%, TotalEnergies của Pháp nắm 20,42% và ConocoPhillips của Mỹ nắm 20,42% còn lại. Cơ cấu này đã trải qua nhiều thay đổi: Marathon Oil bán 16,33% quyền khai thác cho TotalEnergies vào tháng 3 năm 2018, sau đó TotalEnergies và ConocoPhillips cùng mua lại 8,16% của Hess Corporation vào tháng 11 năm 2022. Tháng 1 năm 2026, TotalEnergies ký gia hạn khu nhượng địa Waha đến cuối năm 2050 với các điều khoản tài khóa mới, với sản lượng hiện tại khoảng 370.000 thùng dầu mỗi ngày.
Bên cạnh khối doanh nghiệp quốc doanh, Libya từ lâu đã có sự tham gia của các tập đoàn châu Âu thông qua các hợp đồng chia sẻ sản lượng được gọi là EPSA, viết tắt của Exploration and Production Sharing Agreement. Mỏ Sharara, mỏ dầu lớn nhất của Libya, được vận hành bởi liên doanh Akakus Oil Operations giữa National Oil Corporation và bốn tập đoàn châu Âu là Repsol của Tây Ban Nha, TotalEnergies của Pháp, OMV của Áo và Equinor của Na Uy.
Hoạt động thăm dò của các tập đoàn nước ngoài tại Libya gần như bị đình lại từ năm 2014 do bất ổn chính trị và xung đột vũ trang kéo dài. Đến cuối năm 2024, Eni, BP, Repsol và OMV mới lần lượt quay lại hoạt động khoan thăm dò sau một thập niên tạm dừng.
Ngày 11 tháng 2 năm 2026, National Oil Corporation công bố kết quả vòng đấu thầu thăm dò và khai thác dầu khí đầu tiên của Libya trong gần hai mươi năm, kể từ vòng đấu thầu trước đó vào năm 2007.
Trong số 22 khối được chào thầu, chỉ có 5 khối được trao.
- Chevron của Mỹ trúng thầu độc lập tại Onshore S4 bồn địa Sirte.
- Liên doanh Eni của Ý với QatarEnergy giành Offshore O1,
- Trong khi Offshore O7 thuộc về liên doanh Repsol của Tây Ban Nha với Türkiye Petrolleri của Thổ Nhĩ Kỳ và tập đoàn MOL của Hungary.
- Liên doanh Repsol với Türkiye Petrolleri tiếp tục giành thêm Onshore C3, còn Onshore M1 tại bồn địa Murzuq thuộc về Aiteo của Nigeria.
Mười bảy khối còn lại không trao được do không đủ hồ sơ dự thầu đáp ứng yêu cầu, phản ánh sự thận trọng còn kéo dài của giới đầu tư dù Libya đã cải thiện điều khoản tài khóa.
Các hợp đồng chia sản phẩm cụ thể giữa National Oil Corporation và từng liên doanh trúng thầu tiếp tục được ký kết trong những tháng sau đó, bao gồm cả tháng 6 năm 2026. National Oil Corporation đặt mục tiêu nâng sản lượng khai thác của Libya từ khoảng 1,4 triệu thùng mỗi ngày hiện tại lên 2 triệu thùng mỗi ngày trong những năm tới.
1. Iraq sau cuộc chiến năm 2003
Sau khi chế độ Saddam Hussein sụp đổ năm 2003, Iraq không trao toàn bộ các mỏ dầu lớn cho các công ty Mỹ hay Anh. Từ năm 2008, nước này tổ chức các vòng đấu thầu quốc tế công khai và áp dụng mô hình hợp đồng dịch vụ kỹ thuật. Theo mô hình này, các công ty nước ngoài chỉ đóng vai trò nhà thầu kỹ thuật, được trả một khoản phí cố định cho mỗi thùng dầu khai thác thêm, còn toàn bộ sản lượng dầu thô vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà nước Iraq.
Trong vòng đấu thầu đầu tiên năm 2009, mức phí này dao động khá rộng tùy theo mỏ, từ khoảng 1,9 đô la mỗi thùng tại mỏ Rumaila và West Qurna, đến gần 4 đô la mỗi thùng tại mỏ Bai Hassan. Một số mỏ khác nhận mức phí thấp hơn, như mỏ Halfaya với khoảng 1,4 đô la mỗi thùng.
Cơ chế này khiến phần giá trị tăng thêm khi giá dầu thế giới lên cao gần như không chảy vào tay các tập đoàn nước ngoài, vì khoản phí đã được cố định từ trước theo hợp đồng.
Cơ quan đại diện cho nhà nước Iraq trong các hợp đồng này là Basra Oil Company, tên gọi mới của South Oil Company sau khi đổi tên. Do bản chất hợp đồng dịch vụ kỹ thuật, toàn bộ sản lượng dầu khai thác được, về mặt pháp lý, vẫn thuộc về nhà nước Iraq bất kể công ty nào đứng ra điều hành kỹ thuật mỏ.
Mỏ Rumaila, mỏ lớn nhất của Iraq với sản lượng chiếm khoảng một phần ba tổng sản lượng cả nước, được vận hành bởi Rumaila Operating Organization. Trong tổ chức vận hành này, BP của Anh nắm 47,6%, PetroChina của Trung Quốc nắm 46,4%, phần còn lại thuộc về Basra Oil Company.
Từ tháng 6 năm 2022, vai trò nhà thầu chính trong hợp đồng dịch vụ kỹ thuật được chuyển sang Basra Energy Company Limited, một công ty riêng do BP và PetroChina đồng sở hữu; còn Rumaila Operating Organization tiếp tục là đơn vị trực tiếp điều hành mỏ.
Tại mỏ West Qurna 1, một trong những mỏ dầu lớn nhất thế giới với trữ lượng có thể khai thác trên 20 tỷ thùng, tập đoàn Mỹ ExxonMobil đã hoàn tất việc rút lui vào đầu năm 2024, bán lại 22,7% cổ phần cho Basra Oil Company. PetroChina trở thành nhà thầu chính với cổ phần lớn nhất, gần một phần ba, trong khi công ty Pertamina của Indonesia nắm 20% cổ phần còn lại từ phần thoái vốn của ExxonMobil.
Tại mỏ West Qurna 2, mỏ lớn thứ hai của Iraq với sản lượng hơn 460 nghìn thùng mỗi ngày, tình hình đã thay đổi đáng kể trong thời gian gần đây. Tập đoàn Nga Lukoil, đơn vị nắm 75% cổ phần và vận hành mỏ này từ năm 2010, đã tuyên bố trường hợp bất khả thi đối với hợp đồng sau khi Mỹ và Anh áp lệnh trừng phạt vào tháng 10 năm 2025.
Đầu tháng 1 năm 2026, chính phủ Iraq quyết định chuyển giao quyền quản lý vận hành mỏ này cho Basra Oil Company, và đến tháng 2 năm 2026, tập đoàn Mỹ Chevron đã ký thỏa thuận sơ bộ giành quyền đàm phán độc quyền để tiếp nhận hợp đồng từ Lukoil.
Ngoài hai tập đoàn nói trên, BP còn tham gia một hợp đồng khác nhằm tái phát triển các mỏ dầu tại khu vực Kirkuk ở miền Bắc Iraq, được chính phủ Iraq phê chuẩn lần cuối vào năm 2025.
Tập đoàn Pháp TotalEnergies giữ vai trò điều hành với 45% cổ phần trong dự án khí đốt và dầu mỏ tổng hợp mang tên Gas Growth Integrated Project, dự án trị giá khoảng 10 tỷ đô la được ký từ năm 2021, có QatarEnergy của Qatar nắm 25% và Basra Oil Company nắm 30% còn lại.
Như vậy, việc các công ty Mỹ rút khỏi một số mỏ ở miền Nam Iraq không phải là xu hướng một chiều, khi Chevron đang trở lại đàm phán giành quyền vận hành West Qurna 2.
Về phía cầu, Trung Quốc hiện là khách hàng mua dầu thô lớn nhất của Iraq, nhập khẩu khoảng 35% sản lượng xuất khẩu của nước này. Các tập đoàn Trung Quốc, dẫn đầu là Sinopec với cổ phần tại các mỏ Ahdab, Halfaya, Rumaila và West Qurna 1, nắm giữ trực tiếp khoảng 24 tỷ thùng trữ lượng và sản xuất khoảng 3 triệu thùng dầu mỗi ngày tại Iraq theo số liệu của S&P Global Commodity Insights.
Trung Quốc không tham gia về mặt quân sự vào cuộc chiến năm 2003, nhưng theo các số liệu nói trên, lại đang là bên thu được lợi ích thương mại lớn nhất từ ngành dầu mỏ Iraq trong giai đoạn hậu chiến.
2. Cách các nhà phân tích năng lượng lý giải mục đích can thiệp
Một số nhà phân tích năng lượng lý giải hiện trạng nói trên bằng cách phân biệt giữa mục tiêu chiến lược của một cuộc can thiệp quân sự và lợi ích thương mại trực tiếp sau đó.
Theo cách lý giải này, mục đích chính của các nước phương Tây khi can thiệp vào khu vực, nhìn từ góc độ năng lượng, không phải là đưa dầu về nước mình mà là duy trì sự ổn định của dòng chảy dầu mỏ toàn cầu, tránh để nguồn cung bị gián đoạn hoặc bị một thế lực thù địch chi phối.
Khi thị trường mở cửa đấu thầu tự do sau can thiệp, các doanh nghiệp phương Tây phải cạnh tranh ngang hàng với các đối thủ từ Trung Quốc, Nga hay những nước khác, và không có gì bảo đảm họ sẽ thắng thầu.
Một lý do khác được giới phân tích trong ngành dầu khí nêu ra để giải thích vì sao các tập đoàn quốc doanh Trung Quốc thường thắng thầu trong mô hình phí cố định trên mỗi thùng dầu là vì các tập đoàn phương Tây phải chịu sức ép lợi nhuận từ cổ đông, trong khi các công ty quốc doanh Trung Quốc có thể chấp nhận mức phí thấp hơn để đổi lấy khả năng tiếp cận lâu dài với nguồn dầu thô.
3. Libya sau cuộc can thiệp năm 2011
Bức tranh tại Libya có nét tương đồng với Iraq, dù phức tạp hơn do tình trạng phân rã quyền lực kéo dài giữa các chính quyền đối lập ở miền Đông và miền Tây nước này sau khi chế độ Muammar Gaddafi sụp đổ năm 2011.
Toàn bộ tài nguyên dầu mỏ của Libya, về mặt pháp lý và sản lượng lớn nhất, thuộc về National Oil Corporation, tập đoàn quốc doanh được thành lập từ năm 1970, cùng các công ty con của tập đoàn này.
- Hai công ty con lớn nhất của National Oil Corporation về sản lượng là Waha Oil Company và Arabian Gulf Oil Company, tính chung các công ty con này chiếm phần lớn sản lượng dầu của cả nước.
- Waha Oil Company là công ty vận hành 100% thuộc National Oil Corporation, được giao điều hành kỹ thuật khu nhượng địa Waha tại bồn địa Sirte.
Cơ cấu quyền khai thác trong khu nhượng địa Waha, tức quyền sở hữu dòng dầu thô khai thác được, được chia theo tỷ lệ khác với cơ cấu công ty vận hành.
Hiện tại National Oil Corporation nắm 59,16%, TotalEnergies của Pháp nắm 20,42% và ConocoPhillips của Mỹ nắm 20,42% còn lại. Cơ cấu này đã trải qua nhiều thay đổi: Marathon Oil bán 16,33% quyền khai thác cho TotalEnergies vào tháng 3 năm 2018, sau đó TotalEnergies và ConocoPhillips cùng mua lại 8,16% của Hess Corporation vào tháng 11 năm 2022. Tháng 1 năm 2026, TotalEnergies ký gia hạn khu nhượng địa Waha đến cuối năm 2050 với các điều khoản tài khóa mới, với sản lượng hiện tại khoảng 370.000 thùng dầu mỗi ngày.
Bên cạnh khối doanh nghiệp quốc doanh, Libya từ lâu đã có sự tham gia của các tập đoàn châu Âu thông qua các hợp đồng chia sẻ sản lượng được gọi là EPSA, viết tắt của Exploration and Production Sharing Agreement. Mỏ Sharara, mỏ dầu lớn nhất của Libya, được vận hành bởi liên doanh Akakus Oil Operations giữa National Oil Corporation và bốn tập đoàn châu Âu là Repsol của Tây Ban Nha, TotalEnergies của Pháp, OMV của Áo và Equinor của Na Uy.
Hoạt động thăm dò của các tập đoàn nước ngoài tại Libya gần như bị đình lại từ năm 2014 do bất ổn chính trị và xung đột vũ trang kéo dài. Đến cuối năm 2024, Eni, BP, Repsol và OMV mới lần lượt quay lại hoạt động khoan thăm dò sau một thập niên tạm dừng.
Ngày 11 tháng 2 năm 2026, National Oil Corporation công bố kết quả vòng đấu thầu thăm dò và khai thác dầu khí đầu tiên của Libya trong gần hai mươi năm, kể từ vòng đấu thầu trước đó vào năm 2007.
Trong số 22 khối được chào thầu, chỉ có 5 khối được trao.
- Chevron của Mỹ trúng thầu độc lập tại Onshore S4 bồn địa Sirte.
- Liên doanh Eni của Ý với QatarEnergy giành Offshore O1,
- Trong khi Offshore O7 thuộc về liên doanh Repsol của Tây Ban Nha với Türkiye Petrolleri của Thổ Nhĩ Kỳ và tập đoàn MOL của Hungary.
- Liên doanh Repsol với Türkiye Petrolleri tiếp tục giành thêm Onshore C3, còn Onshore M1 tại bồn địa Murzuq thuộc về Aiteo của Nigeria.
Mười bảy khối còn lại không trao được do không đủ hồ sơ dự thầu đáp ứng yêu cầu, phản ánh sự thận trọng còn kéo dài của giới đầu tư dù Libya đã cải thiện điều khoản tài khóa.
Các hợp đồng chia sản phẩm cụ thể giữa National Oil Corporation và từng liên doanh trúng thầu tiếp tục được ký kết trong những tháng sau đó, bao gồm cả tháng 6 năm 2026. National Oil Corporation đặt mục tiêu nâng sản lượng khai thác của Libya từ khoảng 1,4 triệu thùng mỗi ngày hiện tại lên 2 triệu thùng mỗi ngày trong những năm tới.

