- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,446
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Bạch Long Vĩ - Lần duy nhất Trung Quốc trả lại một hòn đảo đã chiếm đóng cho Việt Nam
Đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, cách Hải Phòng khoảng 110 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 120 km, được một số nghiên cứu mô tả là đảo có thể cư trú lớn nhất trong khu vực Biển Đông.
Năm 1887, Pháp và nhà Thanh ký hiệp ước phân định ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ, theo đó đảo trên thực tế nằm trong phạm vi Pháp thuộc Đông Dương quản lý, dù trong nhiều năm sau đó cả hai bên đều ít quan tâm thực chất đến chủ quyền trên đảo.
Theo một số ghi chép, đảo chỉ có cư dân ổn định từ đầu thế kỷ 20 sau khi tìm được nguồn nước ngọt, với cả ngư dân người Hoa và người Việt tới sinh sống. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân Nhật chiếm đảo sau khi đảo chính Pháp ở Đông Dương năm 1945, và Pháp chỉ khôi phục lại việc quản lý trên đảo sau một giai đoạn hậu chiến, từ khoảng năm 1946.
Năm 1949, lực lượng Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch thua trong nội chiến và rút chạy ra Đài Loan, một bộ phận quân Trung Hoa Dân Quốc rút từ Hải Nam ra chiếm giữ Bạch Long Vĩ và lập chính quyền địa phương riêng, có thời điểm lên tới hơn 500 người.
Đến tháng 8 năm 1954, khi Pháp rút quân theo tinh thần Hiệp định Genève, phần lớn dân cư trên đảo cùng lực lượng Pháp rời sang Nam Việt Nam, nhưng một bộ phận quân Quốc dân đảng vẫn còn đóng lại trên đảo cho đến năm sau.
1. Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chiếm đảo năm 1955
Ngày 28 tháng 7 năm 1955, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đổ bộ lên đảo Bạch Long Vĩ, đánh đuổi lực lượng Quốc dân đảng còn lại trên đảo và thiết lập một đơn vị quản lý hành chính tại đây, đặt dưới huyện Đàm của tỉnh Hải Nam.
Theo một số ghi chép, vào thời điểm đó trên đảo có khoảng 64 hộ với 248 người, phần lớn là công dân Trung Quốc, cùng một vài trẻ em chưa xác định quốc tịch.
Chính quyền Trung Quốc sau đó tổ chức trên đảo các hoạt động nông nghiệp, ngân hàng, hợp tác xã cung tiêu, hợp tác xã sản xuất ngư nghiệp và trường học, cho thấy đây không phải một sự hiện diện tạm thời mà là một hình thức quản lý hành chính có tổ chức.
2. Việt Nam tiếp quản đảo năm 1957 và vấn đề tàu thuyền
Khi cuộc chiến tại Việt Nam leo thang trong thập niên 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cần tăng thời gian cảnh báo sớm cho hệ thống phòng không bảo vệ Hải Phòng và Hà Nội, và Bạch Long Vĩ là vị trí lý tưởng để đặt trạm ra đa.
Theo một nghiên cứu nước ngoài về hòn đảo, năm 1957 Hồ Chí Minh đã đề nghị phía Trung Quốc, thông qua Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tịch Mao Trạch Đông, trao lại đảo cho Việt Nam.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức tiếp quản đảo vào ngày 16 tháng 1 năm 1957. Cùng nguồn trên còn mô tả thêm một nghi thức bàn giao trên đảo vào tháng 3 năm 1957, do một tướng lĩnh Trung Quốc phụ trách khu vực Hải Nam đại diện, nhưng chi tiết này chưa được nguồn nào khác xác nhận.
Vào giai đoạn này, Hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới thành lập từ tháng 5 năm 1955, trang bị còn thô sơ, và trên thực tế phía Trung Quốc đã hỗ trợ phương tiện vận tải để chở lực lượng Việt Nam ra đảo.
Theo mô tả từ nguồn trên, quân đội Trung Quốc rút đi nhưng dân thường người Hoa vẫn ở lại đảo, còn cơ sở của chính quyền và các tổ chức Trung Quốc như cửa hàng, trường học, trụ sở được bàn giao lại cho Việt Nam, và viên sĩ quan Trung Quốc phụ trách việc bàn giao sau này kể lại rằng khi nghe một số ngư dân người Hoa trên đảo phản ứng vì phải trở thành người Việt Nam, ông cảm thấy dường như bản thân đã phạm sai lầm.
3. Trả ơn hay toan tính chiến lược?
Một cách lý giải phổ biến gắn việc trao trả đảo với việc Việt Nam từng đưa quân sang giúp Trung Quốc trong Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1949.
Theo đề nghị của phía cách mạng Trung Quốc và chỉ đạo của Hồ Chí Minh, một lực lượng quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đánh lực lượng Quốc dân đảng tại vùng biên khu Ung Châu, Long Châu, Khâm Châu thuộc Quảng Tây, riêng thành phần các đơn vị cụ thể tham gia được các nguồn ghi chép chưa hoàn toàn thống nhất với nhau.
Chiến dịch diễn ra trên hai mặt trận, tiêu diệt hơn một trung đoàn quân Quốc dân đảng, và khi kết thúc, phía Việt Nam còn giao lại cho Trung Quốc hơn 500 khẩu súng thu được. Quan hệ đồng chí hình thành từ chiến dịch này thường được nhắc đến như một nền tảng niềm tin giữa hai đảng.
Tuy nhiên, giới nghiên cứu quốc tế, trong đó có công trình của sử gia Na Uy Stein Tønnesson về tranh chấp Biển Đông và quan hệ Việt Trung, không xem việc trao trả Bạch Long Vĩ đơn thuần là hành động trả ơn cho một chiến dịch đơn lẻ diễn ra tám năm trước đó.
Trung Quốc khi ấy vừa kết thúc chiến tranh Triều Tiên và không muốn trực tiếp đối đầu quân sự với Mỹ, nên việc để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng ra kiểm soát đảo và xây trạm ra đa là cách tránh một sự hiện diện quân sự trực tiếp của Trung Quốc ngay sát vùng chiến sự đang leo thang.
Theo cùng nghiên cứu nước ngoài nói trên, từ năm 1953 Chu Ân Lai cũng đã xóa hai trong số mười một đoạn của đường yêu sách mà Trung Hoa Dân Quốc công bố năm 1947 tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, như một cử chỉ thiện chí với Việt Nam.
Như vậy, tinh thần đồng minh hình thành qua Thập Vạn Đại Sơn có thể đã góp phần tạo thuận lợi chính trị cho quyết định năm 1957, nhưng động cơ trực tiếp và mang tính quyết định hơn nằm ở toan tính chiến lược của Trung Quốc trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh tại Đông Nam Á.
4. Mốc chủ quyền và một sự kiện có một không hai
Trong lịch sử hiện đại, Bạch Long Vĩ là trường hợp duy nhất lực lượng quân sự Trung Quốc từng kiểm soát thực tế một hòn đảo trên biển của Việt Nam rồi sau đó rút đi, bàn giao lại toàn bộ cho Việt Nam quản lý liên tục cho đến nay.
Các sự kiện sau này liên quan đến quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988 diễn ra trong bối cảnh xung đột quân sự trực tiếp, và Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các thực thể này cho đến hiện tại.
Việc nắm giữ Bạch Long Vĩ liên tục từ năm 1957 sau đó trở thành cơ sở quan trọng để Việt Nam đưa đảo vào đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, dẫn tới Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25 tháng 12 năm 2000, theo đó đường phân định được xác định sao cho Việt Nam được khoảng 53,23% diện tích Vịnh Bắc Bộ còn Trung Quốc được khoảng 46,77%, đây là tỷ lệ phân chia vùng biển theo hiệp định song phương chứ không phải một tuyên bố về chủ quyền trên toàn vịnh.
Đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, cách Hải Phòng khoảng 110 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 120 km, được một số nghiên cứu mô tả là đảo có thể cư trú lớn nhất trong khu vực Biển Đông.
Năm 1887, Pháp và nhà Thanh ký hiệp ước phân định ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ, theo đó đảo trên thực tế nằm trong phạm vi Pháp thuộc Đông Dương quản lý, dù trong nhiều năm sau đó cả hai bên đều ít quan tâm thực chất đến chủ quyền trên đảo.
Theo một số ghi chép, đảo chỉ có cư dân ổn định từ đầu thế kỷ 20 sau khi tìm được nguồn nước ngọt, với cả ngư dân người Hoa và người Việt tới sinh sống. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân Nhật chiếm đảo sau khi đảo chính Pháp ở Đông Dương năm 1945, và Pháp chỉ khôi phục lại việc quản lý trên đảo sau một giai đoạn hậu chiến, từ khoảng năm 1946.
Năm 1949, lực lượng Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch thua trong nội chiến và rút chạy ra Đài Loan, một bộ phận quân Trung Hoa Dân Quốc rút từ Hải Nam ra chiếm giữ Bạch Long Vĩ và lập chính quyền địa phương riêng, có thời điểm lên tới hơn 500 người.
Đến tháng 8 năm 1954, khi Pháp rút quân theo tinh thần Hiệp định Genève, phần lớn dân cư trên đảo cùng lực lượng Pháp rời sang Nam Việt Nam, nhưng một bộ phận quân Quốc dân đảng vẫn còn đóng lại trên đảo cho đến năm sau.
1. Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chiếm đảo năm 1955
Ngày 28 tháng 7 năm 1955, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đổ bộ lên đảo Bạch Long Vĩ, đánh đuổi lực lượng Quốc dân đảng còn lại trên đảo và thiết lập một đơn vị quản lý hành chính tại đây, đặt dưới huyện Đàm của tỉnh Hải Nam.
Theo một số ghi chép, vào thời điểm đó trên đảo có khoảng 64 hộ với 248 người, phần lớn là công dân Trung Quốc, cùng một vài trẻ em chưa xác định quốc tịch.
Chính quyền Trung Quốc sau đó tổ chức trên đảo các hoạt động nông nghiệp, ngân hàng, hợp tác xã cung tiêu, hợp tác xã sản xuất ngư nghiệp và trường học, cho thấy đây không phải một sự hiện diện tạm thời mà là một hình thức quản lý hành chính có tổ chức.
2. Việt Nam tiếp quản đảo năm 1957 và vấn đề tàu thuyền
Khi cuộc chiến tại Việt Nam leo thang trong thập niên 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cần tăng thời gian cảnh báo sớm cho hệ thống phòng không bảo vệ Hải Phòng và Hà Nội, và Bạch Long Vĩ là vị trí lý tưởng để đặt trạm ra đa.
Theo một nghiên cứu nước ngoài về hòn đảo, năm 1957 Hồ Chí Minh đã đề nghị phía Trung Quốc, thông qua Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tịch Mao Trạch Đông, trao lại đảo cho Việt Nam.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức tiếp quản đảo vào ngày 16 tháng 1 năm 1957. Cùng nguồn trên còn mô tả thêm một nghi thức bàn giao trên đảo vào tháng 3 năm 1957, do một tướng lĩnh Trung Quốc phụ trách khu vực Hải Nam đại diện, nhưng chi tiết này chưa được nguồn nào khác xác nhận.
Vào giai đoạn này, Hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới thành lập từ tháng 5 năm 1955, trang bị còn thô sơ, và trên thực tế phía Trung Quốc đã hỗ trợ phương tiện vận tải để chở lực lượng Việt Nam ra đảo.
Theo mô tả từ nguồn trên, quân đội Trung Quốc rút đi nhưng dân thường người Hoa vẫn ở lại đảo, còn cơ sở của chính quyền và các tổ chức Trung Quốc như cửa hàng, trường học, trụ sở được bàn giao lại cho Việt Nam, và viên sĩ quan Trung Quốc phụ trách việc bàn giao sau này kể lại rằng khi nghe một số ngư dân người Hoa trên đảo phản ứng vì phải trở thành người Việt Nam, ông cảm thấy dường như bản thân đã phạm sai lầm.
3. Trả ơn hay toan tính chiến lược?
Một cách lý giải phổ biến gắn việc trao trả đảo với việc Việt Nam từng đưa quân sang giúp Trung Quốc trong Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1949.
Theo đề nghị của phía cách mạng Trung Quốc và chỉ đạo của Hồ Chí Minh, một lực lượng quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đánh lực lượng Quốc dân đảng tại vùng biên khu Ung Châu, Long Châu, Khâm Châu thuộc Quảng Tây, riêng thành phần các đơn vị cụ thể tham gia được các nguồn ghi chép chưa hoàn toàn thống nhất với nhau.
Chiến dịch diễn ra trên hai mặt trận, tiêu diệt hơn một trung đoàn quân Quốc dân đảng, và khi kết thúc, phía Việt Nam còn giao lại cho Trung Quốc hơn 500 khẩu súng thu được. Quan hệ đồng chí hình thành từ chiến dịch này thường được nhắc đến như một nền tảng niềm tin giữa hai đảng.
Tuy nhiên, giới nghiên cứu quốc tế, trong đó có công trình của sử gia Na Uy Stein Tønnesson về tranh chấp Biển Đông và quan hệ Việt Trung, không xem việc trao trả Bạch Long Vĩ đơn thuần là hành động trả ơn cho một chiến dịch đơn lẻ diễn ra tám năm trước đó.
Trung Quốc khi ấy vừa kết thúc chiến tranh Triều Tiên và không muốn trực tiếp đối đầu quân sự với Mỹ, nên việc để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng ra kiểm soát đảo và xây trạm ra đa là cách tránh một sự hiện diện quân sự trực tiếp của Trung Quốc ngay sát vùng chiến sự đang leo thang.
Theo cùng nghiên cứu nước ngoài nói trên, từ năm 1953 Chu Ân Lai cũng đã xóa hai trong số mười một đoạn của đường yêu sách mà Trung Hoa Dân Quốc công bố năm 1947 tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, như một cử chỉ thiện chí với Việt Nam.
Như vậy, tinh thần đồng minh hình thành qua Thập Vạn Đại Sơn có thể đã góp phần tạo thuận lợi chính trị cho quyết định năm 1957, nhưng động cơ trực tiếp và mang tính quyết định hơn nằm ở toan tính chiến lược của Trung Quốc trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh tại Đông Nam Á.
4. Mốc chủ quyền và một sự kiện có một không hai
Trong lịch sử hiện đại, Bạch Long Vĩ là trường hợp duy nhất lực lượng quân sự Trung Quốc từng kiểm soát thực tế một hòn đảo trên biển của Việt Nam rồi sau đó rút đi, bàn giao lại toàn bộ cho Việt Nam quản lý liên tục cho đến nay.
Các sự kiện sau này liên quan đến quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988 diễn ra trong bối cảnh xung đột quân sự trực tiếp, và Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ các thực thể này cho đến hiện tại.
Việc nắm giữ Bạch Long Vĩ liên tục từ năm 1957 sau đó trở thành cơ sở quan trọng để Việt Nam đưa đảo vào đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, dẫn tới Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25 tháng 12 năm 2000, theo đó đường phân định được xác định sao cho Việt Nam được khoảng 53,23% diện tích Vịnh Bắc Bộ còn Trung Quốc được khoảng 46,77%, đây là tỷ lệ phân chia vùng biển theo hiệp định song phương chứ không phải một tuyên bố về chủ quyền trên toàn vịnh.

