• KIDS GARAGE SALE | WHEN: Sat & Sun, Aug 29-30, 8:30 AM - 3:00 PM | WHERE: Ponita Cafe, 198B Nguyen Van Huong, Thao Dien

Các trận đánh đảo tiền tiêu dải duyên hải 1950 - 1955

Tài liệu 
  • Thread starter Thread starter BuddyUp
  • Start date Start date
  • Replies 0
  • Views 29

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,612
Reaction score
0
Points
36
Các trận đánh đảo tiền tiêu dải duyên hải 1950 - 1955

Trong suốt năm 1949, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo lần lượt mất các trung tâm lớn trên lục địa vào tay Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Đến tháng 12 năm 1949, bộ máy chính quyền đã cơ bản hoàn thành việc chuyển sang Đài Loan, nhưng Trung Hoa Dân Quốc vẫn duy trì quyền kiểm soát một chuỗi đảo nhỏ nằm sát bờ biển Hoa lục, kéo dài từ quần đảo Châu Sơn ở Chiết Giang phía bắc tới đảo Hải Nam ở phía nam, trong đó có Kim Môn ngoài khơi Hạ Môn và Mã Tổ ngoài khơi Phúc Châu.

Tháng 10 năm 1949, Quân Giải phóng đã tổ chức đổ bộ lên đảo Kim Môn nhưng bị đánh bại nặng nề trong trận Cổ Ninh Đầu, diễn ra từ ngày 25 đến 27 tháng 10.

Đây là thất bại đổ bộ quy mô lớn nhất của Quân Giải phóng trong giai đoạn nội chiến, và cùng với hàng loạt trở ngại về năng lực hải quân, đã khiến Bắc Kinh chưa thể tiến hành một cuộc tấn công Đài Loan trong thời gian gần.

Sau trận Cổ Ninh Đầu, Quân Giải phóng chuyển hướng sang các mục tiêu dễ đạt được hơn ở phía nam, nơi lực lượng Quốc Dân Đảng phòng thủ mỏng, thiếu yểm trợ hải quân và không quân thường trực từ Đài Loan. Chuỗi đảo tiền tiêu dọc duyên hải, dù diện tích nhỏ, mang giá trị chiến lược lớn đối với cả hai bên, vừa là bàn đạp cho các cuộc tập kích vào lục địa, vừa là lá chắn ngăn hải quân đối phương tiếp cận mục tiêu chính.

1. Quân giải phóng kiểm soát các đảo miền Nam năm 1950

Ngày 23 tháng 2 năm 1950, Sư đoàn 121 thuộc Quân đoàn 41 của Quân Giải phóng tấn công đảo Nam Áo ngoài khơi Quảng Đông. Sau tám giờ giao tranh, toàn bộ lực lượng trú phòng Quốc Dân Đảng trên đảo bị tiêu diệt hoặc bắt giữ.

Chiến dịch lớn nhất trong năm 1950 là cuộc đổ bộ lên đảo Hải Nam, diễn ra từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5. Binh đoàn 15 thuộc Dã chiến quân thứ 4 của Quân Giải phóng, dưới quyền chỉ huy của Đặng Hoa và chính ủy Lại Truyền Châu, huy động hơn 2.130 thuyền mộc cùng hơn 6.000 thủy thủ dân sự để vượt eo biển Quỳnh Châu từ bán đảo Lôi Châu.

Đợt đổ bộ chính diễn ra vào ngày 16 tháng 4, phối hợp với lực lượng du kích Cộng sản tại chỗ là Tung đội Quỳnh Nhai do Phùng Bạch Câu chỉ huy. Quân Giải phóng làm chủ Hải Khẩu rồi Tam Á trong những ngày cuối tháng 4 và tuyên bố toàn thắng vào ngày 1 tháng 5. Lực lượng Quốc Dân Đảng phòng thủ đảo dưới quyền Tiết Nhạc, với hệ thống công sự mang tên Phòng tuyến Bá Lăng, tổn thất khoảng 33.000 người, gồm cả số bị tiêu diệt và bị bắt.

Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Sư đoàn 91 thuộc Quân đoàn 31 và Sư đoàn 94 thuộc Quân đoàn 32 của Quân Giải phóng tấn công đảo Đông Sơn ở Phúc Kiến, nơi hơn 5.000 quân Quốc Dân Đảng thuộc Quân đoàn 17 đang đồn trú sau khi rút khỏi chiến dịch Chương Châu-Hạ Môn. Sau mười giờ giao tranh với sự hỗ trợ của ba tiểu đoàn pháo binh, lực lượng trú phòng tan vỡ, chịu khoảng 2.044 người thiệt mạng.

Đứng trước nguy cơ mất ưu thế trên không tại khu vực Châu Sơn-Ninh Ba trong bối cảnh Quân Giải phóng đang tăng cường năng lực phòng không và tiếp nhận trang bị mới từ Liên Xô, Tưởng Giới Thạch ra lệnh rút quân khỏi quần đảo Châu Sơn vào tháng 5. Cuộc di tản hoàn tất vào ngày 16 tháng 5 và được chính quyền Trung Hoa Dân Quốc công bố vào ngày hôm sau. Đây là cuộc rút lui có tổ chức, không qua giao tranh trực tiếp, nhưng đồng nghĩa với việc Trung Hoa Dân Quốc từ bỏ vị trí tiền tiêu gần Thượng Hải nhất.

Từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8 năm 1950, hai bên giao tranh để tranh giành quần đảo Vạn Sơn ngoài cửa sông Châu Giang. Sau khi mất Hải Nam, Hạm đội 3 của Quốc Dân Đảng dưới quyền Tề Hồng Chương rút về đây, đặt bản doanh trên chiến hạm Thái Hòa, nhằm duy trì phong tỏa cửa sông Châu Giang và tuyến hàng hải tới Hồng Kông, Ma Cao. Lực lượng phòng thủ duyên hải Quảng Đông của Quân Giải phóng do Hồng Học Trí chỉ huy đã đánh chiếm quần đảo sau hơn hai tháng giao tranh trên biển, kết thúc mối đe dọa đối với tuyến hàng hải chiến lược này.

Ngày 25 tháng 6 năm 1950, Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hai ngày sau, Tổng thống Truman ra lệnh điều Hạm đội 7 Hoa Kỳ vào eo biển Đài Loan, trực tiếp phong tỏa khả năng mở chiến dịch đổ bộ lớn của Quân Giải phóng trong khu vực. Trung Quốc sau đó tham chiến tại Triều Tiên từ tháng 10 năm 1950, càng khiến Bắc Kinh không thể dồn lực cho các mục tiêu ở eo biển Đài Loan trong nhiều năm tiếp theo, qua đó giúp quần đảo Đại Trần và một số vị trí còn lại của Trung Hoa Dân Quốc trụ vững.

2. Giai đoạn giằng co và các cuộc tập kích nhỏ 1951 - 1952

Từ năm 1951, khi chiến tuyến trên bán đảo Triều Tiên dần đi vào thế giằng co, Quân Giải phóng không còn dồn lực cho các chiến dịch đổ bộ quy mô lớn nhằm vào chuỗi đảo tiền tiêu. Trung Hoa Dân Quốc tận dụng giai đoạn này để chuyển sang chiến thuật tập kích quy mô nhỏ vào các đảo phòng thủ mỏng, vừa nhằm thu thập tình báo và tù binh, vừa nhằm duy trì áp lực quân sự lên duyên hải Hoa lục mà không phải cam kết một cuộc đổ bộ lớn.

Từ ngày 20 tháng 9 đến ngày 20 tháng 10 năm 1952, hai bên giao tranh tại quần đảo Nam Bành ngoài khơi Sán Đầu, Quảng Đông. Lực lượng Quốc Dân Đảng bất ngờ chiếm quần đảo trong tháng 9, rồi Quân Giải phóng tổ chức phản kích và đánh bật đối phương khỏi toàn bộ quần đảo vào cuối tháng 10.

3. Trận Đông Sơn năm 1953

Rạng sáng ngày 16 tháng 7 năm 1953, tướng Hồ Liễn chỉ huy hơn 10.000 quân Quốc Dân Đảng, trong đó có một sư đoàn dù được huấn luyện theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ, đổ bộ lên đảo Đông Sơn bằng 13 tàu hải quân và hơn 30 thuyền máy, với mục tiêu chiếm lại đảo từ tay Quân Giải phóng. Đây là cuộc phản công quy mô lớn nhất của Trung Hoa Dân Quốc nhằm vào lục địa kể từ khi rút sang Đài Loan.

Lực lượng trú phòng của Quân Giải phóng trên đảo ban đầu chỉ gồm các đơn vị phòng thủ nhỏ nhưng vẫn cầm cự được nhờ hệ thống công sự kiên cố. Sau ba giờ giao tranh đầu tiên, tuyến phòng thủ thứ nhất bị chọc thủng và quân Quốc Dân Đảng chiếm được cảng lớn nhất trên đảo, song lực lượng trú phòng còn lại vẫn tiếp tục kháng cự tại các vị trí cô lập. Sư đoàn dù, vốn được tung vào với nhiệm vụ then chốt là cắt đứt cầu nối giữa đảo với đất liền, không hoàn thành được mục tiêu này và bị thiệt hại nặng trước lực lượng phòng thủ trong công sự.

Viện binh của Quân Giải phóng từ Quân đoàn 28, 31 và 41 tiếp cận đảo qua cây cầu vẫn còn nguyên vẹn. Nhận thấy lực lượng của mình không còn ưu thế về số lượng, Hồ Liễn quyết định rút quân để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn.

Chiến dịch kết thúc vào ngày 18 tháng 7 năm 1953. Thi thể quân Quốc Dân Đảng được phía Quân Giải phóng thu được trên đảo và dọc bờ biển lên tới 2.664 người, cùng 715 người bị bắt sống; phần lớn số bị thương đã được phía Quốc Dân Đảng di tản kịp thời. Quân Giải phóng tổn thất khoảng 1.250 người.

Trận Đông Sơn 1953 là cuộc đổ bộ quy mô cấp sư đoàn cuối cùng mà Trung Hoa Dân Quốc thực hiện nhằm vào lục địa. Từ đó, các hoạt động quân sự của Trung Hoa Dân Quốc nhằm vào Hoa lục được thu hẹp xuống quy mô thâm nhập và quấy rối nhỏ.

4. Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất

Tháng 8 năm 1954, Trung Hoa Dân Quốc tăng cường đáng kể lực lượng đồn trú tại Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 11 tháng 8 năm 1954, Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố Đài Loan "nhất định phải được giải phóng", mở đầu một đợt gia tăng áp lực quân sự-chính trị nhằm vào các đảo tiền tiêu của Trung Hoa Dân Quốc.

Ngày 3 tháng 9 năm 1954, pháo binh Quân Giải phóng bắt đầu nã đạn vào đảo Kim Môn, mở đầu giai đoạn được giới ngoại giao phương Tây gọi là Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Hai sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ thuộc Đoàn Cố vấn Viện trợ Quân sự, trung tá Alfred Medendorp và trung tá Frank Lynn, thiệt mạng ngay trong đợt pháo kích đầu tiên khi đang có mặt tại cầu tàu Thủy Đầu trên đảo Kim Môn. Đợt pháo kích sau đó còn mở rộng sang đảo Mã Tổ.

Trước áp lực quân sự gia tăng, Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc ký Hiệp ước Phòng thủ chung Mỹ-Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 2 tháng 12 năm 1954, qua đó Washington cam kết hỗ trợ phòng thủ Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Hiệp ước để mơ hồ về mặt chiến lược đối với các đảo tiền tiêu sát Hoa lục như Kim Môn, Mã Tổ hay Đại Trần, không đưa chúng vào phạm vi cam kết rõ ràng.

5. Trận Nhất Giang Sơn

Quần đảo Nhất Giang Sơn, gồm hai đảo nhỏ với tổng diện tích khoảng 1,2 cây số vuông, nằm ở phía bắc quần đảo Đại Trần ngoài khơi Đài Châu, Chiết Giang, đóng vai trò lá chắn tiền tiêu bảo vệ Đại Trần. Đảo do hơn 1.000 quân Trung Hoa Dân Quốc trấn giữ dưới quyền chỉ huy của Vương Sinh Minh, người từng được Tưởng Giới Thạch trực tiếp trao thêm huân chương trước khi nhận nhiệm vụ này.

Ngày 18 tháng 1 năm 1955, sau khi không quân Quân Giải phóng dội bom các vị trí pháo binh và thông tin của Trung Hoa Dân Quốc tại Nhất Giang Sơn và Đại Trần suốt từ 8 giờ đến 13 giờ, hơn 5.000 quân Quân Giải phóng dưới sự chỉ huy chung của tướng Trương Ái Bình đổ bộ lên hai đảo, được yểm trợ bởi 137 tàu chiến và 184 máy bay thuộc 22 phi đội. Do hỏa lực áp đảo của đối phương, không quân và hải quân Trung Hoa Dân Quốc gần như không thể can thiệp.

Quân phòng thủ lui vào hệ thống hầm ngầm và công sự kiên cố trên đảo, kháng cự trong suốt hai ngày. Vương Sinh Minh liên lạc lần cuối với căn cứ tại Đại Trần qua bộ đàm, báo cáo quân địch chỉ còn cách vị trí của ông khoảng 45 mét, rồi tự sát bằng lựu đạn ngay sau đó tại hầm chỉ huy trên đồi 121. Toàn bộ đảo rơi vào tay Quân Giải phóng vào ngày 20 tháng 1 năm 1955. Phía Trung Hoa Dân Quốc ghi nhận 712 binh sĩ và 12 nữ quân y tử trận; nguồn tin từ phía Quân Giải phóng cho biết tiêu diệt 567 người và bắt sống 519 người.

6. Cuộc di tản quần đảo Đại Trần

Mất Nhất Giang Sơn đồng nghĩa với việc Đại Trần không còn lá chắn phía bắc và nằm trong tầm uy hiếp trực tiếp của pháo binh, không quân Quân Giải phóng. Tổng thống Eisenhower chấp thuận để Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ hỗ trợ di tản nhưng từ chối cam kết chiến đấu bảo vệ Đại Trần, buộc Tưởng Giới Thạch phải đồng ý rút quân vào ngày 5 tháng 2 năm 1955.

Từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 2 năm 1955, Hạm đội 7 triển khai 132 tàu và 400 máy bay để di tản 14.500 dân thường, 10.000 quân nhân Trung Hoa Dân Quốc và khoảng 4.000 du kích cùng hơn 40.000 tấn vật tư quân sự khỏi quần đảo Đại Trần và các đảo Bích Sơn, Ngư Sơn lân cận, đưa toàn bộ về cảng Cơ Long ở Đài Loan. Đây là cuộc di tản có tổ chức và không gặp sự kháng cự từ phía Quân Giải phóng. Trước khi rút lui, Tưởng Kinh Quốc, con trai Tưởng Giới Thạch, là người hạ lá cờ Trung Hoa Dân Quốc cuối cùng tại Đại Trần.

Ngày 29 tháng 1 năm 1955, trong khi cuộc di tản đang được chuẩn bị, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết Formosa, trao quyền cho Tổng thống Eisenhower sử dụng lực lượng quân sự để bảo vệ Đài Loan và Bành Hồ khi cần thiết, trong khi vấn đề Kim Môn và Mã Tổ vẫn được để mơ hồ về mặt chiến lược.

Khủng hoảng dần hạ nhiệt sau khi Thủ tướng Chu Ân Lai, tại Hội nghị Bandung tháng 4 năm 1955, tuyên bố Trung Quốc sẵn sàng đàm phán với Hoa Kỳ về việc giảm căng thẳng tại khu vực Đài Loan.

Đến ngày 1 tháng 5 năm 1955, Quân Giải phóng ngừng pháo kích Kim Môn và Mã Tổ, khép lại giai đoạn khủng hoảng kéo dài từ tháng 9 năm 1954, đồng thời cũng khép lại năm năm giao tranh liên tục quanh chuỗi đảo tiền tiêu dọc duyên hải Hoa lục kể từ sau chiến dịch Hải Nam năm 1950.
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom