• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Cam Ranh: Căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô nằm ngoài lãnh thổ

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,323
Reaction score
0
Points
36

Cam Ranh: Căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô nằm ngoài lãnh thổ


1. Hiệp ước năm 1978
Quan hệ Liên Xô và Trung Quốc rạn nứt từ cuối thập niên 1950 và leo thang thành xung đột vũ trang tại đảo Trân Bảo trên sông Ussuri năm 1969. Từ đó Bắc Kinh luôn ở trong tâm thế lo ngại bị Moscow bao vây từ nhiều phía.

Đầu năm 1978 quan hệ Việt Nam và Trung Quốc xấu đi nhanh chóng khi Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội ngược đãi cộng đồng người Hoa và cắt phần lớn viện trợ đang triển khai cho Việt Nam.

Tháng 6 năm 1978 Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế của khối xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, đánh dấu bước ngả hẳn về phía Moscow.

Ngày 3 tháng 11 năm 1978 Tổng bí thư Lê Duẩn cùng phái đoàn Việt Nam ký với Liên Xô Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác tại Moscow. Hiệp ước có thời hạn 25 năm và mang tính chất một liên minh chiến lược, đi kèm một nghị định thư không công khai mà theo nhiều nguồn cho phép Liên Xô tiếp cận các cơ sở quân sự tại Cam Ranh và Đà Nẵng đến năm 2004, dù các điều khoản vận hành cụ thể về sau còn được hai bên thương lượng lại nhiều lần.

Điều 6 của hiệp ước quy định rằng nếu một bên bị tấn công hoặc bị đe dọa tấn công, hai bên sẽ lập tức tham vấn lẫn nhau để loại trừ mối đe dọa và áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ hòa bình và an ninh của hai nước, nhưng điều khoản này không đặt ra nghĩa vụ can thiệp quân sự tự động.

Đối với Hà Nội, việc ngả hẳn về phía Liên Xô phản ánh một số toan tính cụ thể vào thời điểm đó. Giới lãnh đạo Việt Nam lo ngại việc Trung Quốc hậu thuẫn Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam đang hình thành một thế bao vây từ hai phía, đồng thời còn mang tâm lý tự tin sau khi vừa đánh bại Mỹ năm 1975.

Nền kinh tế trong nước lúc này kiệt quệ vì chiến tranh và không nhận được sự công nhận hay viện trợ tái thiết nào từ Mỹ và phương Tây, khiến Liên Xô trở thành nguồn hậu thuẫn gần như duy nhất còn lại.

Ngay sau khi hiệp ước được ký, tháng 12 năm 1978 Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn, với sự yểm trợ đáng kể từ vũ khí và viện trợ của Liên Xô.

2. Quy mô căn cứ Cam Ranh dưới thời Liên Xô
Những tàu chiến đầu tiên của Hải quân Liên Xô cập Cam Ranh vào tháng 3 năm 1979. Cơ sở này về sau được tổ chức thành Trạm bảo đảm vật chất kỹ thuật số 922, nơi đồn trú của Phân hạm đội Tác chiến số 17 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương.

Theo các ước tính tình báo phương Tây thời đó, Liên Xô duy trì thường trực khoảng 10 tàu mặt nước, 8 tàu ngầm cùng một tàu hỗ trợ tàu ngầm và 6 tàu phụ trợ tại vịnh, với số nhân sự đồn trú đạt đỉnh khoảng 5.000 người vào cuối thập niên 1980, dù các nguồn khác nhau đưa ra con số không hoàn toàn thống nhất.

Về không quân, theo các báo cáo tình báo phương Tây thời đó, Cam Ranh từng có sự hiện diện của máy bay ném bom tầm xa Tu-16 cùng các phiên bản trinh sát và tuần tra biển Tu-95, Tu-142, bên cạnh một số máy bay tiêm kích MiG-23 làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ.

Liên Xô cũng xây dựng tại đây một trạm nghe lén điện tử nhằm thu thập tín hiệu liên lạc quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông.

Theo tình báo Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, đến năm 1987 quy mô căn cứ đã được mở rộng đáng kể, ước tính gấp khoảng bốn lần so với ban đầu, và các máy bay Liên Xô tại đây từng thực hiện những đợt diễn tập mô phỏng tấn công hướng về căn cứ Subic của Hải quân Mỹ tại Philippines.

3. Mục đích chiến lược của Liên Xô
Vị trí của Cam Ranh cho phép Hải quân Liên Xô mở rộng đáng kể tầm hoạt động về phía Nam, tiếp cận gần hơn các eo biển huyết mạch như Malacca, Sunda và Lombok, những tuyến hàng hải sống còn đối với vận tải dầu mỏ và hàng hóa của Nhật Bản, Tây Âu và cả Trung Quốc.

Trước năm 1975 Mỹ đã nắm giữ chuỗi căn cứ quân sự lớn ở Tây Thái Bình Dương, nổi bật là Subic và Clark tại Philippines. Việc biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân và không quân lớn nhất của Liên Xô bên ngoài lãnh thổ giúp Moscow thiết lập một điểm đối trọng quân sự trực tiếp, đặt các căn cứ của Mỹ trong tầm hoạt động của máy bay ném bom Liên Xô.

Song song đó, việc liên minh quân sự với Việt Nam và hiện diện tại Cam Ranh giúp Liên Xô hoàn thiện thế gọng kìm chiến lược nhắm vào Trung Quốc, phối hợp với áp lực quân sự đã có sẵn dọc biên giới với Trung Quốc và Mông Cổ ở phía Bắc. Trạm nghe lén tại căn cứ còn cho phép Moscow theo dõi liên tục các động thái quân sự của Trung Quốc dọc bờ biển phía Nam.

Đối với Việt Nam, quan hệ này mang tính chất trao đổi thực dụng hơn là viện trợ đơn thuần. Sau khi bị Trung Quốc tấn công năm 1979 và chịu sự cô lập, cấm vận từ phương Tây, Việt Nam lâm vào thế phụ thuộc gần như toàn diện vào viện trợ và bảo trợ quân sự của Liên Xô, và việc cho phép Moscow sử dụng miễn phí Cam Ranh trong 25 năm là điều kiện đi kèm cho sự bảo trợ đó.

4. Cuộc chiến biên giới tháng 2 năm 1979
Ngày 17 tháng 2 năm 1979 Trung Quốc đưa quân tấn công dọc biên giới phía Bắc Việt Nam, viện dẫn lý do bảo vệ đồng minh Khmer Đỏ tại Campuchia và các bất đồng liên quan đến cộng đồng người Hoa.

Vào thời điểm này Liên Xô mới chỉ bắt đầu đưa những tàu chiến đầu tiên đến Cam Ranh, nên phản ứng của Moscow trong cuộc chiến chủ yếu đến từ viện trợ và lực lượng ở nơi khác chứ chưa xuất phát từ một căn cứ đã vận hành đầy đủ tại đây.

Giới nghiên cứu quốc tế, trong đó có sử gia Xiaoming Zhang, đánh giá động cơ của Đặng Tiểu Bình mang tính đa tầng, bao gồm ngăn chặn ảnh hưởng mở rộng của Liên Xô trong khu vực, tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ cho chương trình bốn hiện đại hóa, và chứng minh năng lực chiến đấu của quân đội Trung Quốc sau nhiều năm không tham chiến.

Cuối tháng 1 năm 1979 Đặng Tiểu Bình có chuyến thăm chính thức đầu tiên tới Mỹ, gặp Tổng thống Jimmy Carter tại Washington. Trong các cuộc trao đổi, Đặng Tiểu Bình thông báo cho phía Mỹ về kế hoạch trừng phạt quân sự nhắm vào Việt Nam.

Theo cố vấn an ninh quốc gia Mỹ khi đó là Zbigniew Brzezinski, Carter đã không đưa ra phản đối rõ ràng, và một số sử gia cho rằng phía Trung Quốc xem đây như một dạng chấp thuận không chính thức, dù mức độ Washington thực sự ủng hộ hay chỉ đơn thuần không ngăn cản vẫn còn là điều giới nghiên cứu tranh luận.

Trả lời báo giới tại Washington vào cuối tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình mô tả lập trường của Trung Quốc đối với Việt Nam bằng câu nói sau, theo tài liệu giải mật được Cơ quan Lưu trữ An ninh Quốc gia tại Đại học George Washington công bố
"If you don't teach them some necessary lessons, it just won't do."
nghĩa là nếu không dạy cho họ một số bài học cần thiết thì sẽ không ổn.

Khi Trung Quốc tấn công, Liên Xô không viện dẫn Điều 6 để can thiệp quân sự trực tiếp, một phần vì cả hai đều là cường quốc hạt nhân và một cuộc đối đầu toàn diện giữa Liên Xô với Trung Quốc dọc biên giới phía Bắc mang rủi ro vượt xa giá trị của liên minh với Việt Nam.

Thay vào đó Moscow chọn hình thức yểm trợ gián tiếp nhưng cụ thể, theo ước tính của giới nghiên cứu gồm một chiến dịch không vận quy mô lớn đưa quân Việt Nam từ Campuchia về phòng thủ miền Bắc, khoảng 5.000 đến 8.000 cố vấn quân sự, cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, dàn phóng rocket, tên lửa phòng không và chống tăng vác vai, cùng một số máy bay chiến đấu, dù các con số cụ thể này được ghi nhận khác nhau giữa nguồn Liên Xô, Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây.

Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô cũng được cho là đã điều khoảng 15 tàu áp sát bờ biển Việt Nam để thu và chuyển tiếp thông tin liên lạc chiến trường của Trung Quốc cho phía Việt Nam.

Song song đó Liên Xô điều thêm lực lượng dọc biên giới với Trung Quốc và biên giới Mông Cổ giáp Trung Quốc nhằm cầm chân quân đội Trung Quốc ở phía Bắc, nhưng tránh mọi đụng độ trực tiếp.

Về phần mình, Trung Quốc cũng chủ động giới hạn quy mô và thời gian cuộc chiến, không tiến sâu về phía Hà Nội và tuyên bố hoàn thành mục tiêu trừng phạt rồi rút quân trong khoảng một tháng, một cách tính toán giúp cả hai bên tránh phải đẩy xung đột lên mức đối đầu toàn diện.

Một số nhà sử học cho rằng chính lực lượng quân sự đông đảo của Liên Xô đóng dọc biên giới phía Bắc Trung Quốc, chứ không phải sự hiện diện hải quân tại Việt Nam, mới là yếu tố thực sự kìm hãm quy mô cuộc chiến của Trung Quốc.

Trung Quốc huy động cho chiến dịch này khoảng 200.000 đến 300.000 quân tùy theo cách thống kê của từng nguồn, cùng khoảng 400 xe tăng. Số liệu thương vong hai bên chênh lệch đáng kể giữa các nguồn, giới nghiên cứu phương Tây thường ước tính Trung Quốc chịu khoảng 20.000 đến 30.000 người chết trong khi số liệu do phía Trung Quốc công bố sau này thấp hơn nhiều, khoảng 6.594 người chết và khoảng 31.000 người bị thương, còn số liệu thiệt hại của Việt Nam cũng không thống nhất giữa các nguồn.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger sau này nhận định cuộc chiến là một bước ngoặt phơi bày rõ giới hạn khả năng và ý chí của Liên Xô trong việc bảo vệ đồng minh bằng hành động quân sự trực tiếp, một sự mất uy tín chiến lược mà ông cho rằng có thể đã góp phần thúc đẩy quyết định của Moscow đưa quân vào Afghanistan cuối năm đó nhằm khôi phục hình ảnh của mình.

Cuộc chiến cũng để lại hệ quả chính trị nội bộ tại Việt Nam. Sau khi cựu Đại sứ Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam trong năm 1979 đã khai trừ 20.468 đảng viên bị nghi có liên hệ với phía Trung Quốc hoặc đầu hàng trong chiến sự.

5. Sự kiện Gạc Ma tháng 3 năm 1988
Ngày 14 tháng 3 năm 1988 xảy ra cuộc đụng độ hải quân giữa Trung Quốc và Việt Nam tại đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa. Tàu chiến Trung Quốc bắn chìm hai tàu vận tải của Việt Nam, khiến khoảng 64 binh sĩ hải quân Việt Nam thiệt mạng và 9 người bị bắt, sau đó Trung Quốc tiếp tục chiếm thêm một số bãi đá khác trong khu vực trước cuối năm đó.

Vào thời điểm này Hải quân Liên Xô vẫn đang đồn trú tại Cam Ranh, cách hiện trường vụ việc không xa, và vẫn còn hiệp ước hữu nghị với Việt Nam, nhưng hạm đội Liên Xô không can thiệp. Theo một số nghiên cứu học thuật về sự kiện này, Liên Xô thậm chí từ chối đề nghị của Việt Nam về việc điều một tàu chở nước tiếp tế.

Giới nghiên cứu cho rằng nguyên nhân chính là vào thời điểm đó chính phủ Gorbachev đang ưu tiên hàn gắn quan hệ với Bắc Kinh, và việc can thiệp bênh vực Việt Nam trong một tranh chấp đảo đá có nguy cơ làm chệch hướng tiến trình bình thường hóa quan hệ Xô - Trung mà Moscow đang theo đuổi từ giữa thập niên 1980.

6. Giai đoạn cắt giảm dưới thời Gorbachev

Sau cuộc chiến năm 1979, Bắc Kinh đưa ra ba điều kiện tiên quyết để bình thường hóa quan hệ với Moscow, gồm rút quân khỏi biên giới Xô - Trung và Mông Cổ, rút quân khỏi Afghanistan, và chấm dứt hậu thuẫn cho việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia.

Học thuyết Tư duy mới mà Gorbachev theo đuổi nhằm giảm đối đầu với phương Tây và Trung Quốc khiến Moscow ưu tiên đáp ứng các điều kiện này, trong đó việc gây sức ép để Hà Nội rút dần khỏi Campuchia kéo theo việc thu hẹp sự phụ thuộc quân sự của Việt Nam vào Liên Xô, bao gồm cả sự hiện diện tại Cam Ranh.

Cuối năm 1988 Ngoại trưởng Liên Xô Eduard Shevardnadze lần đầu công khai đề cập khả năng rút quân khỏi Cam Ranh. Đến năm 1989 các loại vũ khí tấn công như máy bay Tu-16 và MiG-23 đã được rút khỏi căn cứ, và số nhân sự đồn trú giảm còn khoảng 2.500 người, chỉ bằng một nửa so với mức đỉnh trước đó.

Tháng 12 năm 1991 Liên Xô chính thức tan rã. Liên bang Nga kế thừa tư cách pháp lý quốc tế của Liên Xô, bao gồm cả quyền và nghĩa vụ liên quan đến căn cứ Cam Ranh, trong bối cảnh ngân sách quốc phòng của Nga khi đó đã suy giảm nghiêm trọng.

7. Khủng hoảng kinh tế Việt Nam

Trong khi Liên Xô từng bước cắt giảm cam kết tại Cam Ranh, tại Việt Nam kinh tế trong nước đến giữa thập niên 1980 cũng rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.

Gần một thập niên duy trì khoảng 180.000 quân chiếm đóng tại Campuchia, cùng lực lượng thường trực lớn dọc biên giới phía Bắc, tiêu tốn một phần đáng kể nguồn lực quốc gia vào lúc đất nước vẫn bị Mỹ và phương Tây cấm vận, không tiếp cận được viện trợ hay tín dụng từ các định chế tài chính quốc tế.

Lạm phát tại Việt Nam lên tới khoảng 774% vào cuối năm 1986, một trong những mức cao nhất thế giới thời điểm đó, đi kèm tình trạng thiếu hụt lương thực và hàng hóa thiết yếu trên diện rộng.

Tháng 12 năm 1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi động chương trình Đổi mới, chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, từng bước mở cửa cho khu vực tư nhân và thương mại quốc tế.

Sự hậu thuẫn của Liên Xô cũng trở nên kém chắc chắn hơn cùng thời điểm, khi Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1986 phát đi tín hiệu rằng viện trợ tiếp theo sẽ gắn với hiệu quả kinh tế thay vì tiếp tục theo cơ chế cấp không như trước.

Việt Nam hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia vào tháng 9 năm 1989, xóa bỏ một trở ngại lớn cho việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.

Tháng 9 năm 1990 Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng bí mật gặp Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng tại Thành Đô, mở đường để hai nước chính thức khôi phục quan hệ ngoại giao vào tháng 11 năm 1991, cùng năm Liên Xô tan rã.

8. Nga rút quân hoàn toàn giai đoạn 1993 - 2002

Năm 1993 Nga ký một thỏa thuận riêng với Việt Nam để tiếp tục duy trì hoạt động tại Cam Ranh, chủ yếu phục vụ mục đích tình báo tín hiệu nhắm vào liên lạc quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông. Vào thời điểm này phần lớn tàu chiến và máy bay đã được rút đi, chỉ còn lại nhân sự kỹ thuật vận hành trạm nghe lén.

Năm 1998 Việt Nam lần đầu đưa ra yêu cầu Nga phải trả tiền thuê hằng năm nếu muốn tiếp tục sử dụng căn cứ, thay vì cơ chế miễn phí đã áp dụng từ thời Liên Xô.

Theo nhà nghiên cứu Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia, đến năm 2001 mức giá Việt Nam đưa ra là khoảng 300 triệu USD mỗi năm.

Tháng 6 năm 2001 chính phủ Việt Nam tuyên bố rằng sau khi hợp đồng thuê hết hạn vào năm 2004, Việt Nam sẽ không ký thỏa thuận cho bất kỳ quốc gia nào sử dụng Cam Ranh vào mục đích quân sự.

Ngày 17 tháng 10 năm 2001 chính phủ Nga tuyên bố sẽ rút hoàn toàn khỏi Cam Ranh trước khi hợp đồng thuê miễn phí hết hạn, với lý do chính được cho là ngân sách quốc phòng eo hẹp dưới thời Tổng thống Vladimir Putin.

Ngày 2 tháng 5 năm 2002 lá cờ Nga được hạ xuống lần cuối tại căn cứ, đánh dấu việc bàn giao toàn bộ Cam Ranh trở lại quyền kiểm soát của Việt Nam, sớm hơn hai năm so với thời hạn hợp đồng ban đầu.

Nguyên tắc không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ hoặc dùng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước thứ ba, và không dựa vào nước này để chống nước kia, đã xuất hiện từ Sách trắng Quốc phòng năm 1998 dưới tên gọi Ba Không, và được nhắc lại trong các Sách trắng năm 2004 và 2009.

Đến Sách trắng Quốc phòng công bố ngày 25 tháng 11 năm 2019, Việt Nam bổ sung thêm nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, chính thức trở thành chính sách Bốn Không.

Chính sách này ra đời sau giai đoạn 1978 đến 1991, khi việc gắn an ninh quốc gia vào cam kết của một siêu cường duy nhất từng khiến Việt Nam chịu tổn thất lúc lợi ích của siêu cường đó thay đổi.
Buddy Up - Văn hóa xã hội
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom