- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,679
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Chiến dịch thần tốc tháng 3.1975: Ba hai giờ quyết định số phận Đà Nẵng
Quyết định rút bỏ Huế của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 3.1975 được coi là một trong những sai lầm chiến lược lớn nhất, dẫn đến sự sụp đổ dây chuyền của Quân khu 1 và toàn bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tôi đồ rằng sự tích về "Điệp viên Thiệu huyền thoại" khả năng ra đời từ sự kiện này.
Trước Đà Nẵng, số phận của Huế đã được định đoạt với quyết định đầy mâu thuẫn, thay đổi liên tục trong vài ngày của "Điệp viên Thiệu", gây ra sự hỗn loạn khủng khiếp cho cả binh lính lẫn dân thường.
Ngày 13.3.1975, tại cuộc họp ở Cam Ranh, Thiệu quyết định tái cấu trúc lại sơ đồ phòng thủ. Do Tây Nguyên đã thất thủ, Thiệu ra lệnh bỏ vùng địa đầu Trị - Thiên, rút Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, vốn là lực lượng tinh nhuệ nhất tại đây, về bảo vệ Sài Gòn. Huế được lệnh chỉ giữ lại nếu điều kiện cho phép, tạo ra tâm lý hoang mang tột độ cho binh lính vùng giới tuyến.
Ngày 20.3.1975, trước áp lực dư luận và lo ngại sự sụp đổ dây chuyền, Thiệu quay ngoắt 180 độ. Thiệu lên đài phát thanh tuyên bố "phải tử thủ Huế bằng mọi giá" và gửi mật lệnh cho Trung tướng Ngô Quang Trưởng phải bảo vệ cố đô.
Ngày 24.3.1975, khi thấy các tuyến đường bộ của Quốc lộ 1 vào Đà Nẵng đã bị Quân giải phóng cắt đứt, nguy cơ bị bao vây tiêu diệt, Thiệu lại hạ lệnh bỏ Huế, rút toàn bộ lực lượng về co cụm tại Đà Nẵng bằng đường biển qua cửa Thuận An và bến phà Tư Hiền.
Do đường bộ bị khóa chặt, hàng chục vạn lính và dân tị nạn tràn ra bờ biển Thuận An và cửa biển Tư Hiền để chờ tàu di tản. Thủy triều, sự hỗn loạn giành giật tàu, cộng với hỏa lực pháo binh Quân giải phóng bắn chặn đã biến cuộc rút lui thành một thảm kịch, đẩy Sư đoàn 1 Bộ binh và các lực lượng phòng thủ Huế vào chỗ tan rã hoàn toàn.
Quyết định sai lầm này đã biến cuộc rút lui chiến thuật thành một cuộc tháo chạy hoảng loạn, trực tiếp dồn gánh nặng và "cơn lốc" hỗn loạn đổ về Đà Nẵng chỉ vài ngày sau đó.
1. Sự co cụm chiến lược tại Đà Nẵng
Sau khi mất Thừa Thiên Huế ở phía Bắc và Quảng Ngãi ở phía Nam, hệ thống phòng thủ của Quân khu 1 bị cắt rời. Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng Tham mưu trưởng ARVN - đã ra lệnh cho Trung tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn 1 - rút toàn bộ các lực lượng còn lại về co cụm tại Đà Nẵng nhằm thiết lập một "pháo đài cố thủ" cuối cùng tại miền Trung.
Trong một thời gian rất ngắn, thành phố trở thành căn cứ quân sự lớn nhất của lực lượng này ở miền Trung và là vị trí then chốt của kế hoạch co cụm chiến lược. Lực lượng tập trung tại Đà Nẵng vào thời điểm trước chiến dịch khoảng 75.000 quân, gồm :
- Sư đoàn 1 Bộ binh vốn tổn thất nặng nề sau khi rút từ Huế.
- Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, là lực lượng tổng dự bị chiến lược, rút từ Trị - Thiên.
- Sư đoàn 3 Bộ binh và lực lượng biệt động quân, bảo an, cảnh sát rút từ Quảng Nam, Quảng Ngãi.
- Sư đoàn 1 Không quân đóng sẵn tại sân bay Đà Nẵng. Riêng lực lượng không quân có 279 máy bay, trong đó 96 máy bay chiến đấu.
Hệ thống phòng thủ còn có các lực lượng hải quân, cảnh sát, dân vệ và bộ máy hành chính.
Về tổ chức, Đà Nẵng lúc này một căn cứ liên hợp hải - lục - không quân với hệ thống phòng thủ được bố trí thành hai tuyến. Tuyến ngoài dựa vào các đơn vị chủ lực như Sư đoàn Thủy quân lục chiến và Sư đoàn 3 Bộ binh, cùng một số đơn vị biệt động và bảo an; tuyến trong gồm những lực lượng còn lại của các sư đoàn bộ binh, biệt động quân và lực lượng địa phương. Cách bố trí này nhằm tạo một khu vực phòng thủ nhiều lớp, trong đó các vị trí ngoại vi có nhiệm vụ ngăn chặn lực lượng tiến công trước khi Quân giải phóng tiếp cận trung tâm thành phố.
Đà Nẵng căn cứ có sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, quân cảng Sơn Trà và hệ thống pháo binh, thiết giáp cùng kho tàng quân sự rất lớn. Vì vậy nếu có đủ thời gian củng cố, Đà Nẵng sẽ là một cụm phòng thủ có khả năng dựa vào cả đường bộ, đường biển và đường không để duy trì lực lượng.
Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và các cố vấn Mỹ lúc đó phán đoán: Để tấn công một căn cứ liên hợp khổng lồ như Đà Nẵng, Quân giải phóng phải mất ít nhất 1 tháng để chuẩn bị hậu cần, kéo pháo và tập kết quân lực.
Tuy nhiên, kịch bản này đã không xảy ra.
2. “Chỉ 3 ngày thôi!" và ba mươi hai giờ giải phóng Đà Nẵng
Thắng lợi của Quân giải phóng ở Huế ngày 25.3.1975 làm thay đổi nhanh chóng tình hình. Khi Huế đã được giải phóng và các tuyến phía nam của Đà Nẵng bị uy hiếp, vấn đề đặt ra với Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam không còn là chuẩn bị một chiến dịch thông thường mà phải tận dụng ngay sự rối loạn đang xuất hiện trong hệ thống phòng thủ của địch. Đồng thời, giải quyết nút thắt lớn nhất của trận Đà Nẵng không phải là tiêu diệt sinh lực địch, mà là ngăn không cho địch rút lui.
Bộ Tổng tư lệnh nhận định nếu để gần 75.000 quân tại Đà Nẵng, gồm nhiều đơn vị sừng sỏ như Thủy quân lục chiến, Sư đoàn 3... di tản thuận lợi bằng đường biển về cố thủ dải đất từ Nha Trang vào đến Sài Gòn, thì hệ thống phòng ngự quanh Sài Gòn sẽ dày đặc hơn gấp bội. Khi đó, cái giá phải trả để giải phóng Sài Gòn sẽ cực kỳ đắt.
Ngày 24.3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công Đà Nẵng. Phương châm được xác định là kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng. Các lực lượng Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 được yêu cầu nhanh chóng chuyển từ trạng thái tác chiến ở những địa bàn vừa giải phóng sang tổ chức tiến công Đà Nẵng.
Ngày 25.3, Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng - Đà được kiện toàn với Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và Thượng tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy. bác Lê Trọng Tấn khi đó là Phó Tổng Tham mưu trưởng, đã trải qua nhiều chiến dịch lớn và từng chỉ huy Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, bác Chu Huy Mân là một trong những cán bộ chỉ huy chủ chốt của chiến trường Khu 5.
Theo hồi ký "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tài liệu lịch sử, khi được cử làm Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung tướng Lê Trọng Tấn ban đầu nghiên cứu tình hình và xin 7 ngày, sau đó rút xuống đề nghị 5 ngày để chuẩn bị chuẩn chu cho lực lượng tác chiến.
Nhận thấy thời cơ chiến lược trôi qua rất nhanh và quân địch đang trong tình trạng hoảng loạn, hoang mang tột độ sau thất bại ở Huế, cụ Giáp đã bác bỏ đề xuất này. Cụ kiên quyết chỉ thị: “Chỉ 3 ngày thôi!”. Cụ thậm chí đã thẳng thắn nói với bác Tấn :““Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh.”
Sau 3 ngày chuẩn bị, chiến dịch giải phóng Đà Nẵng đã diễn ra thần tốc từ 27 đến 29.3.1975, đập tan căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai của Quân lực VNCH tại miền Nam, không cho địch kịp co cụm hay rút chạy bằng đường biển.
Ngày 27.3.1975, Quân giải phóng nổ súng mở màn chiến dịch. Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu Quân khu 5 nhanh chóng tiến công từ hướng nam, bỏ qua những mục tiêu dọc đường nếu không cần thiết, tiến thẳng về Đà Nẵng, đồng thời yêu cầu Quân đoàn 2 tăng cường lực lượng từ hướng tây bắc xuống.
Lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 - Sư đoàn 325 - từ Huế hành quân thần tốc tiến xuống phía Nam, áp sát và đánh chiếm các chốt chặn ngoại vi, kiểm soát các lối tiếp cận chân đèo Hải Vân.
Các trung đoàn chủ lực của Sư đoàn 2 - Quân khu 5 - phối hợp với bộ đội địa phương Quảng Nam liên tục tiến công, bức rút hệ thống đồn bốt bảo an, dân vệ, cắt đứt hoàn toàn Đường số 1 ở phía Nam, chặn đường rút lui trên bộ của quân đoàn 1 VNCH về hướng Chu Lai - Quảng Ngãi. Tình hình nội đô Đà Nẵng thay đổi nhanh chóng khi khu vực sân bay và quân cảng bắt đầu rơi vào cảnh hỗn loạn đỉnh điểm.
Ngày 28.3, khoảng 5:00 sáng, pháo binh chiến dịch đồng loạt dội bão lửa vào các mục tiêu quan trọng trong thành phố như sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, Cảng Sơn Trà và căn cứ Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH. Đòn hỏa lực nhanh chóng bẻ gãy hoàn toàn khả năng kháng cự và làm tê liệt hoàn toàn khả năng di tản bằng đường hàng không của địch.
Từ 9:00 đến 12:00 trưa, bộ binh và xe tăng Quân giải phóng từ các hướng đập tan toàn bộ các tuyến phòng thủ vòng ngoài.
Ở hướng Nam, Trung đoàn 38 đánh tan cụm quân án ngữ ở bắc cầu Bà Rén. Trung đoàn 96 giải phóng quận lỵ Duy Xuyên và thị trấn Nam Phước. lực lượng VNCH hoảng loạn tháo chạy về trung tâm thành phố.
Quân đoàn 2 ở hướng bắc sử dụng Sư đoàn 325 tiến công tiêu diệt căn cứ địch ở đèo Hải Vân, nhanh chóng làm chủ trục đường quốc lộ và áp sát bờ sông liên hợp phía bắc.
Sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2, và Sư đoàn 2 thuộc Quân khu 5 theo hướng tây và tây nam phối hợp tiêu diệt các cụm phòng ngự vòng ngoài của quân VNCH tại Phú Hương, Đồng Lâm, Ái Nghĩa, quận lỵ Đại Lộc, toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài của Đà Nẵng bị phá vỡ.
Vào buổi chiều, quân VNCH cho máy bay ném bom phá sập cầu Bà Rén và cầu Câu Lâu hòng ngăn Quân giải phóng truy kích. Tuy nhiên, nhân dân địa phương đã ngay lập tức dùng hàng trăm ghe thuyền đưa bộ đội và vũ khí vượt sông tiếp tục tiến quân.
Tới chiều tối, hệ thống chỉ huy của địch bị tê liệt. Lực lượng bảo vệ vòng ngoài do Sư đoàn 3 VNCH đảm trách đã tan rã hoàn toàn. Anh Trưởng cùng bộ sậu bí mật rút khỏi bộ chỉ huy, bỏ lại hàng vạn binh lính vô chủ trong thành phố.
Đêm 28.3, Đà Nẵng về cơ bản đã bị chia cắt khỏi các tuyến tiếp viện trên bộ và các lực lượng VNCH bên ngoài thành phố bị đẩy vào thế không còn đủ không gian để tổ chức một tuyến phòng thủ mới ở xa trung tâm. Bộ Tư lệnh Chiến dịch phát lệnh Tổng công kích vào thành phố ngay trong đêm mà không cần chờ đến sáng hôm sau. Các cánh quân chủ lực đột kích bằng xe tăng, xe bọc thép và xe tải chở bộ binh của Quân giải phóng đã tiến sát đến các ô cửa ngõ nội đô như chân đèo Hải Vân ở phía Bắc, Hòa Khánh ở phía Tây, Vĩnh Điện ở phía Na. Các lực lượng biệt động và tự vệ nội thành chuẩn bị sẵn băng cờ, khẩu hiệu để phối hợp nổi dậy.
Ngày 29.3.1975, Quân giải phóng theo phương châm tiến công hành tiến - vừa đi vừa đánh, bỏ qua các chốt chặn nhỏ để đánh thẳng vào cơ quan đầu não quân VNCH.
Vào 6:30 sáng, hỏa lực pháo binh được tập trung với 30 khẩu pháo lớn của Quân đoàn 2 và Quân khu 5. Các mục tiêu bị pháo kích gồm khu vực Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, quân cảng Sơn Trà và sân bay Nước Mặn. Ngay sau hỏa lực pháo binh, trên tất cả các hướng bắc, tây, nam và đông nam các mũi bộ binh và xe tăng đồng loạt tiến vào trung tâm thành phố, đánh vào trung tâm căn cứ liên hợp.
Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 - đột kích hướng bắc vượt qua đèo Hải Vân, dùng xuồng và ghe áp sát chiếm Cảng Sơn Trà và bán đảo Sơn Trà. Lực lượng xe tăng và bộ binh cơ giới của Sư đoàn 304 và Sư đoàn 2 tiếp tục tiến đánh và thọc sâu hướng tây và nam.
Đến khoảng 12:00 trưa, Quân giải phóng đã cắm lá cờ chiến thắng lên nóc Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH và làm chủ hoàn toàn Sân bay Đà Nẵng.
Tới 15:00 chiều, các ổ đề kháng cuối cùng của quân VNCH tại bán đảo Sơn Trà và căn cứ Non Nước bị dập tắt, Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Hơn 10 vạn quân VNCH bị tan rã và bắt sống, đập tan ý đồ co cụm chiến lược của địch tại miền Trung, mở toang cánh cửa tiến về phía Nam. Kết thúc chiến dịch sau ba ngày mở màn.
4. Kế hoạch di tản bằng đường biển bất thành
Kế hoạch di tản bằng đường biển của anhTrưởng tại Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3.1975 được xem là một trong những cuộc rút chạy hỗn loạn và bi thảm nhất trong lịch sử Quân lực VNCH.
Sau khi mất Tây Nguyên và Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng trở thành chiếc "túi" co cụm chiến lược cuối cùng của Quân đoàn 1 Ngụy do Trung tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Dù trước đó vào ngày 27.3, anh Trưởng vẫn mạnh miệng trên đài phát thanh sẽ "tử thủ tại Đà Nẵng, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng", nhưng trên thực tế, lệnh chuẩn bị di tản đường biển đã được âm thầm triển khai do áp lực quá lớn từ Quân giải phóng.
Kế hoạch này hoàn toàn bị phá sản và thất bại thảm hại do có sự đóng góp không nhỏ của "điệp viên Thiệu", ngài tổng thống của chúng ta liên tục đưa ra những mệnh lệnh tiền hậu bất nhất: lúc thì bắt "tử thủ" Huế và Đà Nẵng, lúc lại lệnh "rút lui chiến thuật" để bảo toàn lực lượng về giữ vùng đất quanh Sài Gòn. Sự bất nhất từ cấp cao nhất đã khiến Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 rơi vào thế bị động hoàn toàn.
Tiếp đó từ 20.3 đến ngày 26.3.1975, đỉnh điểm là sau khi Huế bị giải phóng vào ngày 26.3, hơn 10 vạn binh lính chủ lực từ các sư đoàn bại trận ở Quảng Trị, Huế và các tỉnh lân cận ùn ứ đổ về Đà Nẵng cùng với hàng trăm ngàn dân thường di tản. Thành phố biến thành một "chảo lửa" hỗn loạn hoàn toàn vượt ngoài tầm kiểm soát của quân đội. Tình trạng vô tổ chức diễn ra ngay tại bến cảng, binh lính rã ngũ, tranh giành, dẫm đạp lên nhau, thậm chí nổ súng bắn nhau để tranh suất lên tàu hải quân di tản, góp phần làm hệ thống chỉ huy của Quân đoàn 1 hoàn toàn bị tê liệt trước khi Quân giải phóng tiến vào trung tâm.
Note: 10 vạn này là loạn quân, còn gần 7.5 vạn quân ở đầu bài viết là lực lượng quân đội chính quy tại chỗ và tàn binh được tổ chức lại của quân lực VNCH nằm trong kế hoạch "tử thủ" Đà Nẵng của anh Trưởng.
Rút kinh nghiệm từ các cuộc rút lui trước đó của quân VNCH, Bộ chỉ huy Chiến dịch do bác Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh đã chủ trương tung hỏa lực chặn đánh, không cho địch co cụm và rút chạy ra biển. Ngay từ rạng sáng ngày 28.3, pháo binh chiến dịch tầm xa của Quân giải phóng đã dồn dập bắn phá dữ dội vào Cảng Sơn Trà, các bến tàu và luồng lạch ra biển. Hỏa lực chuẩn xác này khiến các tàu chiến, tàu vận tải lớn của Hải quân VNCH không thể neo đậu sát bờ để đón quân, buộc phải neo đậu ở ngoài xa.
Chiều tối 28.3, nhận thấy tình hình không thể cứu vãn, anh Trưởng cùng một số sĩ quan thân cận đã bí mật rời bỏ Bộ Tư lệnh.
Trong hồi ký "Đôi dòng ghi nhớ" của Phạm Bá Hoa - nguyên Đại tá, Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận Quân lực VNCH - do bến cảng đã bị hỏa lực khống chế và tràn ngập trong hỗn loạn, anh Trưởng phải tự bơi ra biển Đông, khi đó Đại tá Nguyễn Thành Trí - Tư lệnh phó Sư đoàn Thủy quân lục chiến - trực tiếp có mặt và giúp anh Trưởng mặc áo phao để bơi ra chiếc tàu nhỏ, sau đó được vớt lên tàu HQ-404. Lên tàu, anh Trưởng ngất lịm vì kiệt sức và đói.
Kế hoạch di tản bằng đường biển của anh Trưởng đổ vỡ hoàn toàn vào ngày 29.3.1975. Chỉ có một phần rất nhỏ binh lính chạy thoát ra khơi, phần lớn trong số hơn 10 vạn quân còn lại tại Đà Nẵng đã bị Quân giải phóng tiêu diệt hoặc bắt sống hoàn toàn, Quân đoàn 1 Quân lực VNCH chính thức xóa phiên hiệu.
Sau khi bơi ra biển và được vớt lên chiến hạm HQ-404 ngoài khơi Đà Nẵng vào sáng sớm 29.3 .1975, anh Trưởng nhận được thư tay của "điệp viên Thiệu" dưới hình thức một bức "Mật điện".
Bức Mật điện được gửi hơi lòng vòng, chắc do hỗn loạn và lý do bảo mật. "Điệp viên Thiệu" gửi sang tàu HQ-5, sau đó Thiếu tá hải quân Hồ Văn Kỳ Tường - Hạm phó tàu HQ-5 trực tiếp cầm bức mật điện này, dùng xuồng nhỏ di chuyển sang tàu HQ-404 để trao tận tay cho anh Trưởng.
"Điệp viên Thiệu" ra lệnh anh Trưởng phải lập tức rời tàu HQ-404 để chuyển sang tàu HQ-5 hoặc các chiến hạm lớn khác. Lý do đưa ra là vì tàu HQ-404 khi đó quá chật chội, không có máy lạnh, điều kiện vệ sinh tồi tệ, không phù hợp cho một vị Tư lệnh Quân đoàn nghỉ ngơi và điều hành.
Khi nhận được mật điện, anh Trưởng lúc đó đang mệt lả kiệt sức, thều thào nhắn lại :“Báo cáo với Sài Gòn là tôi xin được ở đây với anh em Thủy quân Lục chiến chứ không đi đâu cả.” - Thiệu vui vẻ đồng ý.
5. Phản ứng của Mỹ tại Tòa Lãnh sự Đà Nẵng
Trước tốc độ tiến quân quá nhanh và sức ép nghẹt thở của Quân giải phóng, phản ứng của phía Mỹ tại Tòa Lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng - do Tổng Lãnh sự Albert Francis đứng đầu - đã chuyển nhanh từ trạng thái chủ quan, lúng túng sang hoảng loạn và tháo chạy trong hỗn loạn.
Theo các tài liệu lịch sử và hồi ký của nhân viên CIA - Frank Snepp trong cuốn Decent Interval - đã ghi nhận: Trước ngày 25.3, Đại sứ Mỹ Graham Martin tại Sài Gòn và Tòa Lãnh sự tại Đà Nẵng vẫn hy vọng quân đội VNCH có thể thiết lập một "pháo đài" tử thủ tại Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi Huế, Tam Kỳ, và Quảng Ngãi liên tiếp thất thủ, hàng vạn lính rã ngũ tràn về, người Mỹ mới bừng tỉnh và nhận ra Đà Nẵng đã trở thành một "chiếc bẫy" không thể cứu vãn. Kế hoạch di tản bằng hàng không dân dụng lập tức được thiết lập trong vội vã.
Sáng ngày 28.3.1975, khi tình hình thành phố bắt đầu mất kiểm soát, Albert Francis ra sân bay Đà Nẵng để điều phối và tổ chức các chuyến bay di tản bằng máy bay Boeing 727 của hãng World Airways cho các nhân viên, công dân Mỹ và những người liên quan. Khung cảnh tại đường băng biến thành ác mộng khi hàng ngàn binh lính VNCH rã ngũ và thân nhân dẫm đạp lên nhau, nổ súng ép buộc để giành đường lên máy bay.
Trong sự hỗn loạn đỉnh điểm, một bức ảnh lịch sử nổi tiếng đã ghi lại khoảnh khắc Albert Francis dùng nỗ lực tuyệt vọng vung cú đấm vào một người đàn ông đang cố chen lấn để leo qua cửa máy bay, nhằm đóng cửa cho máy bay cất cánh. Sau khi chiếc máy bay này* cất cánh, Albert Francis không đi theo máy bay đó mà quay trở lại thành phố để tiếp tục làm nhiệm vụ di tản cho những người còn lại.
Đêm 28.3, khi pháo binh Quân giải phóng dồn dập dội lửa vào các căn cứ và sân bay Đà Nẵng, Tòa Lãnh sự Mỹ hoàn toàn tê liệt. Nhân viên Mỹ vội vã dùng máy cắt và lò đốt để tiêu hủy hàng núi tài liệu mật, tiền mặt, và con dấu của Lãnh sự quán ngay trong đêm để không rơi vào tay Quân giải phóng.
Do sân bay đã bị hỏa lực khống chế hoàn toàn, kế hoạch tiếp tục di tản bằng đường hàng không sụp đổ. Rạng sáng ngày 29.3, Albert Francis cùng nhóm nhân viên Mỹ cuối cùng buộc phải bỏ lại mọi tài liệu, tài sản, cải trang và dùng xuồng máy nhỏ chạy ra bến cảng nhảy lên tàu viễn dương Pioneer Contender của Mỹ đang chờ ngoài khơi.
Số phận của chiếc máy bay* "Cú Đấm" vào ngày 29.3.1975 cũng là một trong những trang tư liệu ly kỳ, ám ảnh và chấn động nhất lịch sử hàng không thế giới. Đây là chiếc Boeing 727-100 của hãng World Airways .
Dù Đại sứ quán Mỹ đã ra lệnh đình chỉ tất cả các chuyến bay sơ tán vì quá nguy hiểm, Ed Daly, khi đó là chủ tịch hãng World Airways, đã tự ý dùng tiền túi và bất chấp lệnh cấm để điều 2 chiếc Boeing 727 từ Sài Gòn bay ra Đà Nẵng. Chiếc máy bay "Cú Đấm" đáp xuống đường băng Đà Nẵng đã tạo nên một kịch bản hoàn toàn nằm ngoài mọi dự liệu.
Chiếc Boeing 727-100 này có sức chứa tiêu chuẩn khoảng 120 hành khách. Khi máy bay vừa hạ cánh và vẫn đang lăn bánh trên đường băng, hàng ngàn binh lính VNCH rã ngũ đã tràn ra hỗn loạn, dẫm đạp lên nhau để tìm cách leo lên. Họ tràn vào khoang khách, nhồi nhét trong khoang chứa hành lý, thậm chí trèo cả vào bên trong buồng chứa càng máy bay. Khi máy bay cất cánh, trong khoang có khoảng 268 người chưa kể những người trốn dưới gầm và khoang hàng.
Máy bay phải tăng tốc cất cánh ngay trên đường lăn thay vì đường băng chính. Do lính chen chúc bấu víu, chiếc cầu thang tích hợp ở phía đuôi của chiếc Boeing 727 bị kẹt cứng ở tư thế hạ xuống và quệt xuống mặt đường trong suốt quá trình cất cánh.
Một số binh lính tức giận vì không lên được máy bay đã ném lựu đạn về phía phi cơ. Vụ nổ làm hỏng một phần cánh trái và khiến các hệ thống điều khiển lái bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do có người kẹt bên trong buồng chứa bánh xe, phi công không thể thu hệ thống càng đáp vào trong bụng máy bay trong suốt hành trình bay về Sài Gòn.
Chuyến bay kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ bay về Sài Gòn là một cơn ác mộng đầy bi kịch. Do càng máy bay không thể thu vào, không khí lạnh tràn ngập vào các khoang hở, nhiều người bám ở buồng chứa càng máy bay đã rơi xuống biển từ độ cao hàng ngàn mét, một số bị kẹt, ngạt thở và đông cứng vì nhiệt độ hạ thấp và thiếu oxy trên cao. Thậm chí khi máy bay hạ cánh, còn phát hiện có thi thể lính VNCH bị ép chặt và kẹt lại trong bộ phận hạ cánh.
Tuy vậy, bất chấp cánh máy bay bị hư hại nặng nề, hệ thống điều khiển trục trặc, cầu thang đuôi buông thõng và không thu được càng đáp, phi hành đoàn người Mỹ đã thực hiện một phép màu hàng không khi đưa chiếc Boeing 727 hạ cánh an toàn xuống Sân bay Tân Sơn Nhất vào chiều 29.3.1975.
Toàn bộ khung cảnh hỗn loạn, những vết máu trên càng máy bay, và sự rệu rã của những người sống sót bước ra khỏi khoang hành lý sau đó đã được các hãng thông tấn quốc tế như CBS News ghi hình và phát sóng, trở thành biểu tượng cho sự sụp đổ không thể cứu vãn của quân đội Sài Gòn tại miền Trung.
Chiếc máy bay này sau đó đã được sửa chữa khẩn cấp và đưa về Mỹ, còn chuyến bay của nó mãi mãi đi vào lịch sử hàng không với tư cách là "Chuyến bay cuối cùng rời khỏi Đà Nẵng". Hình như còn lá thư tay của ông nào gửi ông ED khen ngợi chiếc máy bay sau phi vụ này thì phải.
6. Vì sao Đà Nẵng sụp đổ nhanh chóng?
Tổng kết chiến thắng của Chiến dịch Quảng Nam - Đà Nẵng, đặc biệt tại Đà Nẵng chỉ diễn ra trong 3 ngày đêm chuẩn bị và chưa đầy 32 giờ tiến công của Quân giải phóng, đã mang lại một kết quả quân sự vượt mục tiêu chiến lược, làm thay đổi hoàn toàn cục diện chiến tranh. Đây được coi là đòn đánh sụp đổ lớn thứ hai của quân đội Sài Gòn sau thất bại ở Tây Nguyên.
Quân giải phóng đã xóa sổ hoàn toàn lá chắn quân sự mạnh nhất của địch ở miền Trung, xóa phiên hiệu Quân đoàn 1 Quân lực VNCH, bắt sống, làm tan rã và gọi hàng toàn bộ lực lượng địch trú đóng tại đây, thống kê ước tính hơn 100 ngàn quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Trong đó bao gồm các đơn vị sừng sỏ nhất như: Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn 1 và Sư đoàn 3 Bộ binh, Sư đoàn 1 Không quân cùng nhiều liên đoàn biệt động quân, bảo an, cảnh sát.
Do tốc độ tiến quân của Quân giải phóng quá nhanh với phương châm đánh hành tiến, quân địch không kịp phá hủy kho tàng, toàn bộ căn cứ hậu cần liên hợp lớn thứ hai miền Nam rơi vào tay Quân giải phóng, ước tính thu giữ khối lượng vũ khí và cơ sở vật tư quân nhu khổng lồ.
- Thu giữ hơn 130 máy bay các loại còn nguyên vẹn hoặc hư hỏng nhẹ tại sân bay Đà Nẵng và Nước Mặn.
- Thu giữ gần 180 xe tăng, xe bọc thép, chủ yếu là xe tăng M48, M41 và xe bọc thép V100, M113, cùng hơn 430 khẩu pháo tầm xa cỡ lớn loại 105mm, 155mm, và 175mm - vua chiến trường.
- Thu giữ hơn một nghìn xe vận tải, hàng vạn tấn đạn dược, thuốc men, lương thực và nhiên liệu trong các kho bãi khổng lồ. Số vũ khí này ngay lập tức được Quân giải phóng dùng để tái trang bị, bổ sung hỏa lực cho các cánh quân tiến về phía Nam.
Giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và các vùng phụ cận, giúp Quân giải phóng kiểm soát hoàn toàn các căn cứ quân sự liên hợp phòng thủ kiên cố nhất của VNCH như sân bay Đà Nẵng, cảng nước sâu Sơn Trà và bán đảo Sơn Trà.
Đà Nẵng sụp đổ nhanh chóng là do sự kết hợp của đòn tiến công thần tốc, táo bạo từ Quân giải phóng, sự tan rã tinh thần tột độ của binh lính VNCH, cùng những mệnh lệnh bế tắc từ cấp cao chính quyền Sài Gòn.
Thế bao vây Đà Nẵng đã được hình thành trước khi trận đánh vào trung tâm bắt đầu. Khi chiến dịch mở màn, các lực lượng Quân đoàn 2 và Quân khu 5 đã có những đơn vị ở phía bắc, phía tây và phía nam tiệm cận Đà Nẵng. Bộ Tổng Tư lệnh không yêu cầu các lực lượng phải lần lượt giải quyết toàn bộ hệ thống cứ điểm trên đường tiến quân. Những mục tiêu không cần thiết được bỏ qua hoặc để lực lượng phía sau xử lý, trong khi lực lượng chủ lực tiếp tục tiến về mục tiêu chiến dịch. Điều này làm giảm thời gian giữa việc phá vỡ phòng tuyến ngoài và tiến công trung tâm.
Chiến dịch thể hiện sự phối hợp xuất sắc của hiệp đồng binh chủng, gồm lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 và Trung đoàn xe tăng 574, cùng các đơn vị binh chủng hợp thành đã tham gia các trận đánh trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Khi xe tăng hoạt động cùng bộ binh, pháo binh tập trung hỏa lực hống chế hoàn toàn sân bay và vịnh Đà Nẵng trước khi các mũi xung kích tiến vào, công binh bảo đảm đường cơ động, cùng các hướng tiến công nhịp nhàng phối hợp để cắt đứt khả năng cơ động của lực lượng phòng thủ VNCH.
Và một trong những nhân tố chính là sự thay đổi quá nhanh bên trong hệ thống phòng thủ Đà Nẵng của Quân lực VNCH, với hơn 10 vạn tàn quân từ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế cùng dòng người di tản đổ dồn về Đà Nẵng, biến nơi đây thành một chiếc "túi càn khôn" chật chội, hỗn loạn mất kiểm soát. Trước đó, thất bại ở Tây Nguyên và Huế khiến binh sĩ VNCH mất hoàn toàn ý chí phản kháng, xảy ra tình trạng rã ngũ, tranh giành tháo chạy trước khi giao tranh.
Lệnh "tử thủ" rồi lại "rút lui" liên tục từ "Điệp viên Thiệu" góp công lớn làm tê liệt hệ thống chỉ huy của Quân đoàn 1, rồi anh Trưởng và các tướng lĩnh cấp cao sau đó bỏ mặc binh lính để tìm đường tháo thân vào tối 28.3 đã đẩy toàn bộ hệ thống phòng thủ vào cảnh rắn mất đầu.
Thắng lợi vang dội và nhanh chóng tại Đà Nẵng đã minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.
Ngay sau chiến thắng này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhận định: Thời cơ chiến lược lớn đã chín muồi. Từ đó, đưa ra quyết định lịch sử: Thay đổi kế hoạch, dốc toàn lực thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong tháng 4.1975, thay vì phải kéo dài sang năm 1976 như dự kiến ban đầu.
Sau chiến thắng Đà Nẵng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát đi bức điện mật kinh điển "Thần tốc, thần tốc hơn nữa...".
Nguồn khảo cứu
1. Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.
2. Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân.
3. Đại thắng mùa Xuân 1975 - Nguyên nhân và bài học, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân.
4. Lịch sử Đảng bộ Quân khu 5, Quân khu 5, NXB Quân đội Nhân dân.
5. “Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng Xuân 1975”, chuyên mục Hồ sơ - Sự kiện, Báo Quân đội Nhân dân.
6. “Chiến dịch Đà Nẵng - phát triển đòn tiến công chiến lược trong hành tiến”, Báo Nhân Dân.
7. “Đòn tiến công Huế-Đà Nẵng - Những quyết định chính xác”, Báo Điện tử Chính phủ.
8. “Chiến dịch Đà Nẵng 26-29.3.1975”, Thông tin tư liệu - Việt Nam và Thế giới, Thông tấn xã Việt Nam.
Quyết định rút bỏ Huế của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 3.1975 được coi là một trong những sai lầm chiến lược lớn nhất, dẫn đến sự sụp đổ dây chuyền của Quân khu 1 và toàn bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tôi đồ rằng sự tích về "Điệp viên Thiệu huyền thoại" khả năng ra đời từ sự kiện này.
Trước Đà Nẵng, số phận của Huế đã được định đoạt với quyết định đầy mâu thuẫn, thay đổi liên tục trong vài ngày của "Điệp viên Thiệu", gây ra sự hỗn loạn khủng khiếp cho cả binh lính lẫn dân thường.
Ngày 13.3.1975, tại cuộc họp ở Cam Ranh, Thiệu quyết định tái cấu trúc lại sơ đồ phòng thủ. Do Tây Nguyên đã thất thủ, Thiệu ra lệnh bỏ vùng địa đầu Trị - Thiên, rút Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, vốn là lực lượng tinh nhuệ nhất tại đây, về bảo vệ Sài Gòn. Huế được lệnh chỉ giữ lại nếu điều kiện cho phép, tạo ra tâm lý hoang mang tột độ cho binh lính vùng giới tuyến.
Ngày 20.3.1975, trước áp lực dư luận và lo ngại sự sụp đổ dây chuyền, Thiệu quay ngoắt 180 độ. Thiệu lên đài phát thanh tuyên bố "phải tử thủ Huế bằng mọi giá" và gửi mật lệnh cho Trung tướng Ngô Quang Trưởng phải bảo vệ cố đô.
Ngày 24.3.1975, khi thấy các tuyến đường bộ của Quốc lộ 1 vào Đà Nẵng đã bị Quân giải phóng cắt đứt, nguy cơ bị bao vây tiêu diệt, Thiệu lại hạ lệnh bỏ Huế, rút toàn bộ lực lượng về co cụm tại Đà Nẵng bằng đường biển qua cửa Thuận An và bến phà Tư Hiền.
Do đường bộ bị khóa chặt, hàng chục vạn lính và dân tị nạn tràn ra bờ biển Thuận An và cửa biển Tư Hiền để chờ tàu di tản. Thủy triều, sự hỗn loạn giành giật tàu, cộng với hỏa lực pháo binh Quân giải phóng bắn chặn đã biến cuộc rút lui thành một thảm kịch, đẩy Sư đoàn 1 Bộ binh và các lực lượng phòng thủ Huế vào chỗ tan rã hoàn toàn.
Quyết định sai lầm này đã biến cuộc rút lui chiến thuật thành một cuộc tháo chạy hoảng loạn, trực tiếp dồn gánh nặng và "cơn lốc" hỗn loạn đổ về Đà Nẵng chỉ vài ngày sau đó.
1. Sự co cụm chiến lược tại Đà Nẵng
Sau khi mất Thừa Thiên Huế ở phía Bắc và Quảng Ngãi ở phía Nam, hệ thống phòng thủ của Quân khu 1 bị cắt rời. Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng Tham mưu trưởng ARVN - đã ra lệnh cho Trung tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn 1 - rút toàn bộ các lực lượng còn lại về co cụm tại Đà Nẵng nhằm thiết lập một "pháo đài cố thủ" cuối cùng tại miền Trung.
Trong một thời gian rất ngắn, thành phố trở thành căn cứ quân sự lớn nhất của lực lượng này ở miền Trung và là vị trí then chốt của kế hoạch co cụm chiến lược. Lực lượng tập trung tại Đà Nẵng vào thời điểm trước chiến dịch khoảng 75.000 quân, gồm :
- Sư đoàn 1 Bộ binh vốn tổn thất nặng nề sau khi rút từ Huế.
- Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, là lực lượng tổng dự bị chiến lược, rút từ Trị - Thiên.
- Sư đoàn 3 Bộ binh và lực lượng biệt động quân, bảo an, cảnh sát rút từ Quảng Nam, Quảng Ngãi.
- Sư đoàn 1 Không quân đóng sẵn tại sân bay Đà Nẵng. Riêng lực lượng không quân có 279 máy bay, trong đó 96 máy bay chiến đấu.
Hệ thống phòng thủ còn có các lực lượng hải quân, cảnh sát, dân vệ và bộ máy hành chính.
Về tổ chức, Đà Nẵng lúc này một căn cứ liên hợp hải - lục - không quân với hệ thống phòng thủ được bố trí thành hai tuyến. Tuyến ngoài dựa vào các đơn vị chủ lực như Sư đoàn Thủy quân lục chiến và Sư đoàn 3 Bộ binh, cùng một số đơn vị biệt động và bảo an; tuyến trong gồm những lực lượng còn lại của các sư đoàn bộ binh, biệt động quân và lực lượng địa phương. Cách bố trí này nhằm tạo một khu vực phòng thủ nhiều lớp, trong đó các vị trí ngoại vi có nhiệm vụ ngăn chặn lực lượng tiến công trước khi Quân giải phóng tiếp cận trung tâm thành phố.
Đà Nẵng căn cứ có sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, quân cảng Sơn Trà và hệ thống pháo binh, thiết giáp cùng kho tàng quân sự rất lớn. Vì vậy nếu có đủ thời gian củng cố, Đà Nẵng sẽ là một cụm phòng thủ có khả năng dựa vào cả đường bộ, đường biển và đường không để duy trì lực lượng.
Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và các cố vấn Mỹ lúc đó phán đoán: Để tấn công một căn cứ liên hợp khổng lồ như Đà Nẵng, Quân giải phóng phải mất ít nhất 1 tháng để chuẩn bị hậu cần, kéo pháo và tập kết quân lực.
Tuy nhiên, kịch bản này đã không xảy ra.
2. “Chỉ 3 ngày thôi!" và ba mươi hai giờ giải phóng Đà Nẵng
Thắng lợi của Quân giải phóng ở Huế ngày 25.3.1975 làm thay đổi nhanh chóng tình hình. Khi Huế đã được giải phóng và các tuyến phía nam của Đà Nẵng bị uy hiếp, vấn đề đặt ra với Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam không còn là chuẩn bị một chiến dịch thông thường mà phải tận dụng ngay sự rối loạn đang xuất hiện trong hệ thống phòng thủ của địch. Đồng thời, giải quyết nút thắt lớn nhất của trận Đà Nẵng không phải là tiêu diệt sinh lực địch, mà là ngăn không cho địch rút lui.
Bộ Tổng tư lệnh nhận định nếu để gần 75.000 quân tại Đà Nẵng, gồm nhiều đơn vị sừng sỏ như Thủy quân lục chiến, Sư đoàn 3... di tản thuận lợi bằng đường biển về cố thủ dải đất từ Nha Trang vào đến Sài Gòn, thì hệ thống phòng ngự quanh Sài Gòn sẽ dày đặc hơn gấp bội. Khi đó, cái giá phải trả để giải phóng Sài Gòn sẽ cực kỳ đắt.
Ngày 24.3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công Đà Nẵng. Phương châm được xác định là kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng. Các lực lượng Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 được yêu cầu nhanh chóng chuyển từ trạng thái tác chiến ở những địa bàn vừa giải phóng sang tổ chức tiến công Đà Nẵng.
Ngày 25.3, Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng - Đà được kiện toàn với Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và Thượng tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy. bác Lê Trọng Tấn khi đó là Phó Tổng Tham mưu trưởng, đã trải qua nhiều chiến dịch lớn và từng chỉ huy Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, bác Chu Huy Mân là một trong những cán bộ chỉ huy chủ chốt của chiến trường Khu 5.
Theo hồi ký "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tài liệu lịch sử, khi được cử làm Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung tướng Lê Trọng Tấn ban đầu nghiên cứu tình hình và xin 7 ngày, sau đó rút xuống đề nghị 5 ngày để chuẩn bị chuẩn chu cho lực lượng tác chiến.
Nhận thấy thời cơ chiến lược trôi qua rất nhanh và quân địch đang trong tình trạng hoảng loạn, hoang mang tột độ sau thất bại ở Huế, cụ Giáp đã bác bỏ đề xuất này. Cụ kiên quyết chỉ thị: “Chỉ 3 ngày thôi!”. Cụ thậm chí đã thẳng thắn nói với bác Tấn :““Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh.”
Sau 3 ngày chuẩn bị, chiến dịch giải phóng Đà Nẵng đã diễn ra thần tốc từ 27 đến 29.3.1975, đập tan căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai của Quân lực VNCH tại miền Nam, không cho địch kịp co cụm hay rút chạy bằng đường biển.
Ngày 27.3.1975, Quân giải phóng nổ súng mở màn chiến dịch. Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu Quân khu 5 nhanh chóng tiến công từ hướng nam, bỏ qua những mục tiêu dọc đường nếu không cần thiết, tiến thẳng về Đà Nẵng, đồng thời yêu cầu Quân đoàn 2 tăng cường lực lượng từ hướng tây bắc xuống.
Lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 - Sư đoàn 325 - từ Huế hành quân thần tốc tiến xuống phía Nam, áp sát và đánh chiếm các chốt chặn ngoại vi, kiểm soát các lối tiếp cận chân đèo Hải Vân.
Các trung đoàn chủ lực của Sư đoàn 2 - Quân khu 5 - phối hợp với bộ đội địa phương Quảng Nam liên tục tiến công, bức rút hệ thống đồn bốt bảo an, dân vệ, cắt đứt hoàn toàn Đường số 1 ở phía Nam, chặn đường rút lui trên bộ của quân đoàn 1 VNCH về hướng Chu Lai - Quảng Ngãi. Tình hình nội đô Đà Nẵng thay đổi nhanh chóng khi khu vực sân bay và quân cảng bắt đầu rơi vào cảnh hỗn loạn đỉnh điểm.
Ngày 28.3, khoảng 5:00 sáng, pháo binh chiến dịch đồng loạt dội bão lửa vào các mục tiêu quan trọng trong thành phố như sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, Cảng Sơn Trà và căn cứ Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH. Đòn hỏa lực nhanh chóng bẻ gãy hoàn toàn khả năng kháng cự và làm tê liệt hoàn toàn khả năng di tản bằng đường hàng không của địch.
Từ 9:00 đến 12:00 trưa, bộ binh và xe tăng Quân giải phóng từ các hướng đập tan toàn bộ các tuyến phòng thủ vòng ngoài.
Ở hướng Nam, Trung đoàn 38 đánh tan cụm quân án ngữ ở bắc cầu Bà Rén. Trung đoàn 96 giải phóng quận lỵ Duy Xuyên và thị trấn Nam Phước. lực lượng VNCH hoảng loạn tháo chạy về trung tâm thành phố.
Quân đoàn 2 ở hướng bắc sử dụng Sư đoàn 325 tiến công tiêu diệt căn cứ địch ở đèo Hải Vân, nhanh chóng làm chủ trục đường quốc lộ và áp sát bờ sông liên hợp phía bắc.
Sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2, và Sư đoàn 2 thuộc Quân khu 5 theo hướng tây và tây nam phối hợp tiêu diệt các cụm phòng ngự vòng ngoài của quân VNCH tại Phú Hương, Đồng Lâm, Ái Nghĩa, quận lỵ Đại Lộc, toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài của Đà Nẵng bị phá vỡ.
Vào buổi chiều, quân VNCH cho máy bay ném bom phá sập cầu Bà Rén và cầu Câu Lâu hòng ngăn Quân giải phóng truy kích. Tuy nhiên, nhân dân địa phương đã ngay lập tức dùng hàng trăm ghe thuyền đưa bộ đội và vũ khí vượt sông tiếp tục tiến quân.
Tới chiều tối, hệ thống chỉ huy của địch bị tê liệt. Lực lượng bảo vệ vòng ngoài do Sư đoàn 3 VNCH đảm trách đã tan rã hoàn toàn. Anh Trưởng cùng bộ sậu bí mật rút khỏi bộ chỉ huy, bỏ lại hàng vạn binh lính vô chủ trong thành phố.
Đêm 28.3, Đà Nẵng về cơ bản đã bị chia cắt khỏi các tuyến tiếp viện trên bộ và các lực lượng VNCH bên ngoài thành phố bị đẩy vào thế không còn đủ không gian để tổ chức một tuyến phòng thủ mới ở xa trung tâm. Bộ Tư lệnh Chiến dịch phát lệnh Tổng công kích vào thành phố ngay trong đêm mà không cần chờ đến sáng hôm sau. Các cánh quân chủ lực đột kích bằng xe tăng, xe bọc thép và xe tải chở bộ binh của Quân giải phóng đã tiến sát đến các ô cửa ngõ nội đô như chân đèo Hải Vân ở phía Bắc, Hòa Khánh ở phía Tây, Vĩnh Điện ở phía Na. Các lực lượng biệt động và tự vệ nội thành chuẩn bị sẵn băng cờ, khẩu hiệu để phối hợp nổi dậy.
Ngày 29.3.1975, Quân giải phóng theo phương châm tiến công hành tiến - vừa đi vừa đánh, bỏ qua các chốt chặn nhỏ để đánh thẳng vào cơ quan đầu não quân VNCH.
Vào 6:30 sáng, hỏa lực pháo binh được tập trung với 30 khẩu pháo lớn của Quân đoàn 2 và Quân khu 5. Các mục tiêu bị pháo kích gồm khu vực Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, quân cảng Sơn Trà và sân bay Nước Mặn. Ngay sau hỏa lực pháo binh, trên tất cả các hướng bắc, tây, nam và đông nam các mũi bộ binh và xe tăng đồng loạt tiến vào trung tâm thành phố, đánh vào trung tâm căn cứ liên hợp.
Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 - đột kích hướng bắc vượt qua đèo Hải Vân, dùng xuồng và ghe áp sát chiếm Cảng Sơn Trà và bán đảo Sơn Trà. Lực lượng xe tăng và bộ binh cơ giới của Sư đoàn 304 và Sư đoàn 2 tiếp tục tiến đánh và thọc sâu hướng tây và nam.
Đến khoảng 12:00 trưa, Quân giải phóng đã cắm lá cờ chiến thắng lên nóc Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 VNCH và làm chủ hoàn toàn Sân bay Đà Nẵng.
Tới 15:00 chiều, các ổ đề kháng cuối cùng của quân VNCH tại bán đảo Sơn Trà và căn cứ Non Nước bị dập tắt, Đà Nẵng hoàn toàn giải phóng. Hơn 10 vạn quân VNCH bị tan rã và bắt sống, đập tan ý đồ co cụm chiến lược của địch tại miền Trung, mở toang cánh cửa tiến về phía Nam. Kết thúc chiến dịch sau ba ngày mở màn.
4. Kế hoạch di tản bằng đường biển bất thành
Kế hoạch di tản bằng đường biển của anhTrưởng tại Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3.1975 được xem là một trong những cuộc rút chạy hỗn loạn và bi thảm nhất trong lịch sử Quân lực VNCH.
Sau khi mất Tây Nguyên và Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng trở thành chiếc "túi" co cụm chiến lược cuối cùng của Quân đoàn 1 Ngụy do Trung tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Dù trước đó vào ngày 27.3, anh Trưởng vẫn mạnh miệng trên đài phát thanh sẽ "tử thủ tại Đà Nẵng, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng", nhưng trên thực tế, lệnh chuẩn bị di tản đường biển đã được âm thầm triển khai do áp lực quá lớn từ Quân giải phóng.
Kế hoạch này hoàn toàn bị phá sản và thất bại thảm hại do có sự đóng góp không nhỏ của "điệp viên Thiệu", ngài tổng thống của chúng ta liên tục đưa ra những mệnh lệnh tiền hậu bất nhất: lúc thì bắt "tử thủ" Huế và Đà Nẵng, lúc lại lệnh "rút lui chiến thuật" để bảo toàn lực lượng về giữ vùng đất quanh Sài Gòn. Sự bất nhất từ cấp cao nhất đã khiến Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 rơi vào thế bị động hoàn toàn.
Tiếp đó từ 20.3 đến ngày 26.3.1975, đỉnh điểm là sau khi Huế bị giải phóng vào ngày 26.3, hơn 10 vạn binh lính chủ lực từ các sư đoàn bại trận ở Quảng Trị, Huế và các tỉnh lân cận ùn ứ đổ về Đà Nẵng cùng với hàng trăm ngàn dân thường di tản. Thành phố biến thành một "chảo lửa" hỗn loạn hoàn toàn vượt ngoài tầm kiểm soát của quân đội. Tình trạng vô tổ chức diễn ra ngay tại bến cảng, binh lính rã ngũ, tranh giành, dẫm đạp lên nhau, thậm chí nổ súng bắn nhau để tranh suất lên tàu hải quân di tản, góp phần làm hệ thống chỉ huy của Quân đoàn 1 hoàn toàn bị tê liệt trước khi Quân giải phóng tiến vào trung tâm.
Note: 10 vạn này là loạn quân, còn gần 7.5 vạn quân ở đầu bài viết là lực lượng quân đội chính quy tại chỗ và tàn binh được tổ chức lại của quân lực VNCH nằm trong kế hoạch "tử thủ" Đà Nẵng của anh Trưởng.
Rút kinh nghiệm từ các cuộc rút lui trước đó của quân VNCH, Bộ chỉ huy Chiến dịch do bác Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh đã chủ trương tung hỏa lực chặn đánh, không cho địch co cụm và rút chạy ra biển. Ngay từ rạng sáng ngày 28.3, pháo binh chiến dịch tầm xa của Quân giải phóng đã dồn dập bắn phá dữ dội vào Cảng Sơn Trà, các bến tàu và luồng lạch ra biển. Hỏa lực chuẩn xác này khiến các tàu chiến, tàu vận tải lớn của Hải quân VNCH không thể neo đậu sát bờ để đón quân, buộc phải neo đậu ở ngoài xa.
Chiều tối 28.3, nhận thấy tình hình không thể cứu vãn, anh Trưởng cùng một số sĩ quan thân cận đã bí mật rời bỏ Bộ Tư lệnh.
Trong hồi ký "Đôi dòng ghi nhớ" của Phạm Bá Hoa - nguyên Đại tá, Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận Quân lực VNCH - do bến cảng đã bị hỏa lực khống chế và tràn ngập trong hỗn loạn, anh Trưởng phải tự bơi ra biển Đông, khi đó Đại tá Nguyễn Thành Trí - Tư lệnh phó Sư đoàn Thủy quân lục chiến - trực tiếp có mặt và giúp anh Trưởng mặc áo phao để bơi ra chiếc tàu nhỏ, sau đó được vớt lên tàu HQ-404. Lên tàu, anh Trưởng ngất lịm vì kiệt sức và đói.
Kế hoạch di tản bằng đường biển của anh Trưởng đổ vỡ hoàn toàn vào ngày 29.3.1975. Chỉ có một phần rất nhỏ binh lính chạy thoát ra khơi, phần lớn trong số hơn 10 vạn quân còn lại tại Đà Nẵng đã bị Quân giải phóng tiêu diệt hoặc bắt sống hoàn toàn, Quân đoàn 1 Quân lực VNCH chính thức xóa phiên hiệu.
Sau khi bơi ra biển và được vớt lên chiến hạm HQ-404 ngoài khơi Đà Nẵng vào sáng sớm 29.3 .1975, anh Trưởng nhận được thư tay của "điệp viên Thiệu" dưới hình thức một bức "Mật điện".
Bức Mật điện được gửi hơi lòng vòng, chắc do hỗn loạn và lý do bảo mật. "Điệp viên Thiệu" gửi sang tàu HQ-5, sau đó Thiếu tá hải quân Hồ Văn Kỳ Tường - Hạm phó tàu HQ-5 trực tiếp cầm bức mật điện này, dùng xuồng nhỏ di chuyển sang tàu HQ-404 để trao tận tay cho anh Trưởng.
"Điệp viên Thiệu" ra lệnh anh Trưởng phải lập tức rời tàu HQ-404 để chuyển sang tàu HQ-5 hoặc các chiến hạm lớn khác. Lý do đưa ra là vì tàu HQ-404 khi đó quá chật chội, không có máy lạnh, điều kiện vệ sinh tồi tệ, không phù hợp cho một vị Tư lệnh Quân đoàn nghỉ ngơi và điều hành.
Khi nhận được mật điện, anh Trưởng lúc đó đang mệt lả kiệt sức, thều thào nhắn lại :“Báo cáo với Sài Gòn là tôi xin được ở đây với anh em Thủy quân Lục chiến chứ không đi đâu cả.” - Thiệu vui vẻ đồng ý.
5. Phản ứng của Mỹ tại Tòa Lãnh sự Đà Nẵng
Trước tốc độ tiến quân quá nhanh và sức ép nghẹt thở của Quân giải phóng, phản ứng của phía Mỹ tại Tòa Lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng - do Tổng Lãnh sự Albert Francis đứng đầu - đã chuyển nhanh từ trạng thái chủ quan, lúng túng sang hoảng loạn và tháo chạy trong hỗn loạn.
Theo các tài liệu lịch sử và hồi ký của nhân viên CIA - Frank Snepp trong cuốn Decent Interval - đã ghi nhận: Trước ngày 25.3, Đại sứ Mỹ Graham Martin tại Sài Gòn và Tòa Lãnh sự tại Đà Nẵng vẫn hy vọng quân đội VNCH có thể thiết lập một "pháo đài" tử thủ tại Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi Huế, Tam Kỳ, và Quảng Ngãi liên tiếp thất thủ, hàng vạn lính rã ngũ tràn về, người Mỹ mới bừng tỉnh và nhận ra Đà Nẵng đã trở thành một "chiếc bẫy" không thể cứu vãn. Kế hoạch di tản bằng hàng không dân dụng lập tức được thiết lập trong vội vã.
Sáng ngày 28.3.1975, khi tình hình thành phố bắt đầu mất kiểm soát, Albert Francis ra sân bay Đà Nẵng để điều phối và tổ chức các chuyến bay di tản bằng máy bay Boeing 727 của hãng World Airways cho các nhân viên, công dân Mỹ và những người liên quan. Khung cảnh tại đường băng biến thành ác mộng khi hàng ngàn binh lính VNCH rã ngũ và thân nhân dẫm đạp lên nhau, nổ súng ép buộc để giành đường lên máy bay.
Trong sự hỗn loạn đỉnh điểm, một bức ảnh lịch sử nổi tiếng đã ghi lại khoảnh khắc Albert Francis dùng nỗ lực tuyệt vọng vung cú đấm vào một người đàn ông đang cố chen lấn để leo qua cửa máy bay, nhằm đóng cửa cho máy bay cất cánh. Sau khi chiếc máy bay này* cất cánh, Albert Francis không đi theo máy bay đó mà quay trở lại thành phố để tiếp tục làm nhiệm vụ di tản cho những người còn lại.
Đêm 28.3, khi pháo binh Quân giải phóng dồn dập dội lửa vào các căn cứ và sân bay Đà Nẵng, Tòa Lãnh sự Mỹ hoàn toàn tê liệt. Nhân viên Mỹ vội vã dùng máy cắt và lò đốt để tiêu hủy hàng núi tài liệu mật, tiền mặt, và con dấu của Lãnh sự quán ngay trong đêm để không rơi vào tay Quân giải phóng.
Do sân bay đã bị hỏa lực khống chế hoàn toàn, kế hoạch tiếp tục di tản bằng đường hàng không sụp đổ. Rạng sáng ngày 29.3, Albert Francis cùng nhóm nhân viên Mỹ cuối cùng buộc phải bỏ lại mọi tài liệu, tài sản, cải trang và dùng xuồng máy nhỏ chạy ra bến cảng nhảy lên tàu viễn dương Pioneer Contender của Mỹ đang chờ ngoài khơi.
Số phận của chiếc máy bay* "Cú Đấm" vào ngày 29.3.1975 cũng là một trong những trang tư liệu ly kỳ, ám ảnh và chấn động nhất lịch sử hàng không thế giới. Đây là chiếc Boeing 727-100 của hãng World Airways .
Dù Đại sứ quán Mỹ đã ra lệnh đình chỉ tất cả các chuyến bay sơ tán vì quá nguy hiểm, Ed Daly, khi đó là chủ tịch hãng World Airways, đã tự ý dùng tiền túi và bất chấp lệnh cấm để điều 2 chiếc Boeing 727 từ Sài Gòn bay ra Đà Nẵng. Chiếc máy bay "Cú Đấm" đáp xuống đường băng Đà Nẵng đã tạo nên một kịch bản hoàn toàn nằm ngoài mọi dự liệu.
Chiếc Boeing 727-100 này có sức chứa tiêu chuẩn khoảng 120 hành khách. Khi máy bay vừa hạ cánh và vẫn đang lăn bánh trên đường băng, hàng ngàn binh lính VNCH rã ngũ đã tràn ra hỗn loạn, dẫm đạp lên nhau để tìm cách leo lên. Họ tràn vào khoang khách, nhồi nhét trong khoang chứa hành lý, thậm chí trèo cả vào bên trong buồng chứa càng máy bay. Khi máy bay cất cánh, trong khoang có khoảng 268 người chưa kể những người trốn dưới gầm và khoang hàng.
Máy bay phải tăng tốc cất cánh ngay trên đường lăn thay vì đường băng chính. Do lính chen chúc bấu víu, chiếc cầu thang tích hợp ở phía đuôi của chiếc Boeing 727 bị kẹt cứng ở tư thế hạ xuống và quệt xuống mặt đường trong suốt quá trình cất cánh.
Một số binh lính tức giận vì không lên được máy bay đã ném lựu đạn về phía phi cơ. Vụ nổ làm hỏng một phần cánh trái và khiến các hệ thống điều khiển lái bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do có người kẹt bên trong buồng chứa bánh xe, phi công không thể thu hệ thống càng đáp vào trong bụng máy bay trong suốt hành trình bay về Sài Gòn.
Chuyến bay kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ bay về Sài Gòn là một cơn ác mộng đầy bi kịch. Do càng máy bay không thể thu vào, không khí lạnh tràn ngập vào các khoang hở, nhiều người bám ở buồng chứa càng máy bay đã rơi xuống biển từ độ cao hàng ngàn mét, một số bị kẹt, ngạt thở và đông cứng vì nhiệt độ hạ thấp và thiếu oxy trên cao. Thậm chí khi máy bay hạ cánh, còn phát hiện có thi thể lính VNCH bị ép chặt và kẹt lại trong bộ phận hạ cánh.
Tuy vậy, bất chấp cánh máy bay bị hư hại nặng nề, hệ thống điều khiển trục trặc, cầu thang đuôi buông thõng và không thu được càng đáp, phi hành đoàn người Mỹ đã thực hiện một phép màu hàng không khi đưa chiếc Boeing 727 hạ cánh an toàn xuống Sân bay Tân Sơn Nhất vào chiều 29.3.1975.
Toàn bộ khung cảnh hỗn loạn, những vết máu trên càng máy bay, và sự rệu rã của những người sống sót bước ra khỏi khoang hành lý sau đó đã được các hãng thông tấn quốc tế như CBS News ghi hình và phát sóng, trở thành biểu tượng cho sự sụp đổ không thể cứu vãn của quân đội Sài Gòn tại miền Trung.
Chiếc máy bay này sau đó đã được sửa chữa khẩn cấp và đưa về Mỹ, còn chuyến bay của nó mãi mãi đi vào lịch sử hàng không với tư cách là "Chuyến bay cuối cùng rời khỏi Đà Nẵng". Hình như còn lá thư tay của ông nào gửi ông ED khen ngợi chiếc máy bay sau phi vụ này thì phải.
6. Vì sao Đà Nẵng sụp đổ nhanh chóng?
Tổng kết chiến thắng của Chiến dịch Quảng Nam - Đà Nẵng, đặc biệt tại Đà Nẵng chỉ diễn ra trong 3 ngày đêm chuẩn bị và chưa đầy 32 giờ tiến công của Quân giải phóng, đã mang lại một kết quả quân sự vượt mục tiêu chiến lược, làm thay đổi hoàn toàn cục diện chiến tranh. Đây được coi là đòn đánh sụp đổ lớn thứ hai của quân đội Sài Gòn sau thất bại ở Tây Nguyên.
Quân giải phóng đã xóa sổ hoàn toàn lá chắn quân sự mạnh nhất của địch ở miền Trung, xóa phiên hiệu Quân đoàn 1 Quân lực VNCH, bắt sống, làm tan rã và gọi hàng toàn bộ lực lượng địch trú đóng tại đây, thống kê ước tính hơn 100 ngàn quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Trong đó bao gồm các đơn vị sừng sỏ nhất như: Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Sư đoàn 1 và Sư đoàn 3 Bộ binh, Sư đoàn 1 Không quân cùng nhiều liên đoàn biệt động quân, bảo an, cảnh sát.
Do tốc độ tiến quân của Quân giải phóng quá nhanh với phương châm đánh hành tiến, quân địch không kịp phá hủy kho tàng, toàn bộ căn cứ hậu cần liên hợp lớn thứ hai miền Nam rơi vào tay Quân giải phóng, ước tính thu giữ khối lượng vũ khí và cơ sở vật tư quân nhu khổng lồ.
- Thu giữ hơn 130 máy bay các loại còn nguyên vẹn hoặc hư hỏng nhẹ tại sân bay Đà Nẵng và Nước Mặn.
- Thu giữ gần 180 xe tăng, xe bọc thép, chủ yếu là xe tăng M48, M41 và xe bọc thép V100, M113, cùng hơn 430 khẩu pháo tầm xa cỡ lớn loại 105mm, 155mm, và 175mm - vua chiến trường.
- Thu giữ hơn một nghìn xe vận tải, hàng vạn tấn đạn dược, thuốc men, lương thực và nhiên liệu trong các kho bãi khổng lồ. Số vũ khí này ngay lập tức được Quân giải phóng dùng để tái trang bị, bổ sung hỏa lực cho các cánh quân tiến về phía Nam.
Giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và các vùng phụ cận, giúp Quân giải phóng kiểm soát hoàn toàn các căn cứ quân sự liên hợp phòng thủ kiên cố nhất của VNCH như sân bay Đà Nẵng, cảng nước sâu Sơn Trà và bán đảo Sơn Trà.
Đà Nẵng sụp đổ nhanh chóng là do sự kết hợp của đòn tiến công thần tốc, táo bạo từ Quân giải phóng, sự tan rã tinh thần tột độ của binh lính VNCH, cùng những mệnh lệnh bế tắc từ cấp cao chính quyền Sài Gòn.
Thế bao vây Đà Nẵng đã được hình thành trước khi trận đánh vào trung tâm bắt đầu. Khi chiến dịch mở màn, các lực lượng Quân đoàn 2 và Quân khu 5 đã có những đơn vị ở phía bắc, phía tây và phía nam tiệm cận Đà Nẵng. Bộ Tổng Tư lệnh không yêu cầu các lực lượng phải lần lượt giải quyết toàn bộ hệ thống cứ điểm trên đường tiến quân. Những mục tiêu không cần thiết được bỏ qua hoặc để lực lượng phía sau xử lý, trong khi lực lượng chủ lực tiếp tục tiến về mục tiêu chiến dịch. Điều này làm giảm thời gian giữa việc phá vỡ phòng tuyến ngoài và tiến công trung tâm.
Chiến dịch thể hiện sự phối hợp xuất sắc của hiệp đồng binh chủng, gồm lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 và Trung đoàn xe tăng 574, cùng các đơn vị binh chủng hợp thành đã tham gia các trận đánh trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Khi xe tăng hoạt động cùng bộ binh, pháo binh tập trung hỏa lực hống chế hoàn toàn sân bay và vịnh Đà Nẵng trước khi các mũi xung kích tiến vào, công binh bảo đảm đường cơ động, cùng các hướng tiến công nhịp nhàng phối hợp để cắt đứt khả năng cơ động của lực lượng phòng thủ VNCH.
Và một trong những nhân tố chính là sự thay đổi quá nhanh bên trong hệ thống phòng thủ Đà Nẵng của Quân lực VNCH, với hơn 10 vạn tàn quân từ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế cùng dòng người di tản đổ dồn về Đà Nẵng, biến nơi đây thành một chiếc "túi càn khôn" chật chội, hỗn loạn mất kiểm soát. Trước đó, thất bại ở Tây Nguyên và Huế khiến binh sĩ VNCH mất hoàn toàn ý chí phản kháng, xảy ra tình trạng rã ngũ, tranh giành tháo chạy trước khi giao tranh.
Lệnh "tử thủ" rồi lại "rút lui" liên tục từ "Điệp viên Thiệu" góp công lớn làm tê liệt hệ thống chỉ huy của Quân đoàn 1, rồi anh Trưởng và các tướng lĩnh cấp cao sau đó bỏ mặc binh lính để tìm đường tháo thân vào tối 28.3 đã đẩy toàn bộ hệ thống phòng thủ vào cảnh rắn mất đầu.
Thắng lợi vang dội và nhanh chóng tại Đà Nẵng đã minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn.
Ngay sau chiến thắng này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhận định: Thời cơ chiến lược lớn đã chín muồi. Từ đó, đưa ra quyết định lịch sử: Thay đổi kế hoạch, dốc toàn lực thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong tháng 4.1975, thay vì phải kéo dài sang năm 1976 như dự kiến ban đầu.
Sau chiến thắng Đà Nẵng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát đi bức điện mật kinh điển "Thần tốc, thần tốc hơn nữa...".
Nguồn khảo cứu
1. Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.
2. Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân.
3. Đại thắng mùa Xuân 1975 - Nguyên nhân và bài học, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân.
4. Lịch sử Đảng bộ Quân khu 5, Quân khu 5, NXB Quân đội Nhân dân.
5. “Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng Xuân 1975”, chuyên mục Hồ sơ - Sự kiện, Báo Quân đội Nhân dân.
6. “Chiến dịch Đà Nẵng - phát triển đòn tiến công chiến lược trong hành tiến”, Báo Nhân Dân.
7. “Đòn tiến công Huế-Đà Nẵng - Những quyết định chính xác”, Báo Điện tử Chính phủ.
8. “Chiến dịch Đà Nẵng 26-29.3.1975”, Thông tin tư liệu - Việt Nam và Thế giới, Thông tấn xã Việt Nam.
Last edited:

