- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,239
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Chuyện ít người biết về chế độ sinh hoạt của chuyên gia Đức ở thành phố Vinh những năm 1974 - 1980
Có một số bạn viết hỏi riêng mình về chế độ sinh hoạt dành cho chuyên gia Đức trong thời kỳ tái thiết thành phố Vinh từ năm 1974 đến năm 1980 như thế nào. Vì mình là người trực tiếp làm phiên dịch cho đoàn chuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức trong những năm đó nên xin kể lại những gì mình biết và chứng kiến, để mọi người hiểu rõ hơn một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt của thành phố Vinh.
Giai đoạn 1974 – 1980 là thời kỳ đặc biệt khi 215 chuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức sang hỗ trợ tái thiết thành phố Vinh sau khi bị bom Mỹ san phẳng. Đó cũng là thời kỳ Việt Nam còn vô cùng khó khăn, vừa trải qua chiến tranh, bước vào cơ chế bao cấp với muôn vàn thiếu thốn. Trong hoàn cảnh ấy, việc bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho đoàn chuyên gia Đức không chỉ là một công việc hậu cần đơn thuần mà còn là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện tình hữu nghị giữa hai nước.
Sinh hoạt phí của đoàn chuyên gia được thực hiện theo các hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức. Phía Đông Đức chi trả lương gốc, bảo hiểm và một phần phụ cấp bằng tiền Mác Đông Đức để chuyển về tài khoản của họ ở quê nhà. Còn phía Việt Nam chịu trách nhiệm toàn bộ về chi phí ăn ở, phương tiện đi lại trong nước, bảo vệ an ninh và cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết trong suốt thời gian họ công tác tại Vinh.
Nói đến đời sống của chuyên gia Đức thời đó thì điều mà nhiều người dân Vinh còn nhớ nhất chính là chế độ cung ứng thực phẩm. Cần phải hiểu rằng giai đoạn 1974 - 1980 là thời kỳ kinh tế Việt Nam nói chung và thành phố Vinh nói riêng bước vào giai đoạn bao cấp cực kỳ khó khăn sau chiến tranh phá hoại. Việc cung ứng thực phẩm cho đoàn chuyên gia Đông Đức tại Vinh không chỉ là bài toán hậu cần mà còn là nhiệm vụ chính trị tối mật và khẩn thiết được Chính phủ giao trực tiếp cho Bộ Nội thương, Tỉnh ủy và UB hành chính tỉnh Nghệ An phối hợp thực hiện.
Trong khi người dân thành phố Vinh phải dùng tem phiếu loại thường để xếp hàng mua từng lạng thịt, từng cuốn sổ gạo và bữa cơm thường xuyên phải ăn độn ngô, bo bo hay sắn khô thì các chuyên gia Đức được hưởng chế độ tem phiếu đặc biệt dành riêng cho chuyên gia nước ngoài. Thời đó thường gọi là tiêu chuẩn E hoặc tương đương phiếu A đặc biệt.
Mức độ biệt đãi cụ thể về định lượng và chủng loại nhu yếu phẩm cho các chuyên gia Đức thời điểm đó khá đặc biệt. Định lượng thịt và cá được cung ứng từ 5kg đến 7kg thịt mỗi tháng, gấp khoảng 15 đến 20 lần tiêu chuẩn của người dân địa phương. Thịt phải là loại thịt lợn hoặc thịt bò nạc tươi ngon nhất được lấy từ các lò mổ tuyển chọn vào buổi sáng sớm, tuyệt đối không lẫn nhiều xương hay mỡ vụn.
Về sữa và bơ, mỗi chuyên gia được cấp phát sữa đặc, thường là sữa hộp Liên Xô hoặc sữa Ông Thọ xuất khẩu, cùng với bơ theo định lượng khoảng từ 2 đến 3 hộp sữa mỗi tuần. Cần nhớ rằng vào thời kỳ đó, sữa là mặt hàng rất hiếm, thường chỉ người ốm nặng hoặc trẻ em suy dinh dưỡng nặng mới được phân phối.
Tiêu chuẩn trứng gà dao động từ 20 đến 30 quả mỗi tháng cho một người. Đó là con số mà nhiều gia đình thời bấy giờ khó có thể hình dung được.
Đặc biệt hơn nữa là các mặt hàng được xem như xa xỉ phẩm trong thời kỳ bao cấp như bia, thuốc lá và cà phê. Đây là những thứ mà nhiều người dân Vinh thời đó hầu như không có cơ hội sử dụng thường xuyên, nhưng lại được cung cấp đều đặn cho chuyên gia Đức để phù hợp với tập quán sinh hoạt và văn hóa của họ.
Về bia, phía Việt Nam ưu tiên điều chuyển các loại bia chai từ Nhà máy bia Hà Nội như bia Trúc Bạch hoặc bia Hữu Nghị. Mỗi chuyên gia được phân phối khoảng từ một đến hai két bia mỗi tháng để giải nhiệt giữa những tháng hè gió Lào nóng bỏng của xứ Nghệ.
Về thuốc lá, thay vì các loại thuốc lá sợi hay những nhãn hiệu phổ thông như Thăng Long hoặc Tam Đảo, các chuyên gia thường được cung cấp những loại thuốc lá chất lượng cao hơn như Du Lịch hoặc Điện Biên bao bạc.
Về cà phê và chè, họ được cấp dưới dạng bột hoặc hạt thô, thường lấy từ các nông trường vùng Phủ Quỳ của Nghệ An hoặc từ Tây Nguyên để tự pha chế theo thói quen mỗi sáng.
Để bảo đảm nguồn cung này không bị gián đoạn hoặc suy giảm chất lượng, một quy trình vận hành riêng đã được thiết lập. Các mặt hàng phục vụ chuyên gia không bán tại chợ hay các cửa hàng mậu dịch quốc doanh thông thường mà được vận chuyển thẳng tới khu chuyên gia.
Tại khu ở Giao tế 2 của thành phố Vinh, nơi người dân thường gọi là “Khu chuyên gia Đức”, có nhà bếp phục vụ riêng. Nhà nước bố trí đội ngũ đầu bếp và nhân viên phục vụ người Việt đã qua đào tạo tại Hà Nội. Trong đó có bác Bẩu, người Hoa, và bà Nga. Vì người Đức không quen ăn cơm gạo tẻ hằng ngày nên nhà bếp phải sử dụng bột mì hảo hạng nhập từ Liên Xô hoặc các nước Đông Âu để nướng bánh mì tươi mỗi sáng, nấu súp khoai tây, làm bít tết hoặc các món thịt hầm theo đúng khẩu vị quê hương của họ. Chỉ thỉnh thoảng một tháng đôi lần nấu cơm Việt Nam để họ ăn để biết.
Toàn bộ rau củ quả như bắp cải, su hào, cà chua... đều được thu mua trực tiếp từ các hợp tác xã ngoại thành Vinh theo tiêu chuẩn an toàn cao nhất thời bấy giờ. Rau được rửa bằng nước sạch và kiểm tra kỹ trước khi đưa vào chế biến nhằm hạn chế nguy cơ ngộ độc hoặc dịch bệnh.
Phía đoàn chuyên gia cũng có đầu bếp người Đức và bác sĩ riêng thường xuyên kiểm tra chất lượng thực phẩm được cung cấp cho đoàn.
Về điều kiện vật chất, Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh Nghệ An sau này là Nghệ Tĩnh đã cố gắng tạo điều kiện sống tốt nhất có thể trong hoàn cảnh thời đó. Các chuyên gia sống tại khách sạn Giao tế 2. Phòng ở được trang bị giường, tủ, bàn làm việc và quạt điện đầy đủ. Ngày nay nghe có vẻ bình thường nhưng vào thời kỳ bao cấp đó, những tiện nghi như vậy thực sự là tài sản đáng mơ ước đối với nhiều gia đình ở Vinh.
Điện và nước sạch cũng được ưu tiên cung cấp ổn định nhất có thể cho khu vực này. Trong khi nhiều nơi trong thành phố thường xuyên phải chịu cảnh cắt điện luân phiên thì khu chuyên gia luôn được cố gắng bảo đảm điều kiện sinh hoạt để không ảnh hưởng tới công việc.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào những chế độ ưu tiên ấy mà nghĩ rằng cuộc sống của các chuyên gia Đức ở Vinh là dễ dàng thì không đúng. Mặc dù được hưởng những điều kiện tốt nhất mà địa phương có thể dành cho họ, cuộc sống tại Vinh những năm 1974 - 1980 vẫn vô cùng khắc nghiệt đối với người nước ngoài. Họ phải đối mặt với khí hậu gió Lào nóng như rang, điều kiện sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn, rất ít dịch vụ giải trí và đặc biệt là nguy cơ dịch bệnh, nhất là sốt rét.
Điều mình nhớ nhất sau nhiều năm không phải là những suất ăn hay tiêu chuẩn tem phiếu, mà là cách những người bạn Đức ấy đã chấp nhận sống nhiều năm liền giữa một thành phố còn ngổn ngang đổ nát sau chiến tranh. Họ không chỉ đến để thiết kế hay xây dựng công trình. Họ thực sự đã cùng người dân Vinh chia sẻ một phần cuộc sống rất khó khăn của thời kỳ ấy.
Sự chung sống, đồng cam cộng khổ của các chuyên gia Đông Đức suốt nhiều năm liền giữa đống đổ nát của thành Vinh đã tạo nên một sợi dây tình cảm vô cùng sâu sắc. Người dân Vinh thời đó luôn trân trọng gọi họ là những người bạn “Đức anh em” đầy nghĩa tình.
Có lẽ sự ưu ái và biệt đãi dành cho đoàn chuyên gia khi ấy là minh chứng rõ nhất cho câu nói mà rất nhiều người từng nhắc đến trong thời bao cấp: “Nhịn ăn nhường bạn”. Dù người dân thành Vinh phải thắt lưng buộc bụng, ăn cơm độn nhưng sự chăm sóc chu đáo ấy đã giúp các chuyên gia Đông Đức có đủ sức khỏe và tâm huyết để ở lại bám trụ, thiết kế và xây dựng nên một thành phố Vinh hiện đại, khang trang từ đống đổ nát của chiến tranh.
Có một số bạn viết hỏi riêng mình về chế độ sinh hoạt dành cho chuyên gia Đức trong thời kỳ tái thiết thành phố Vinh từ năm 1974 đến năm 1980 như thế nào. Vì mình là người trực tiếp làm phiên dịch cho đoàn chuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức trong những năm đó nên xin kể lại những gì mình biết và chứng kiến, để mọi người hiểu rõ hơn một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt của thành phố Vinh.
Giai đoạn 1974 – 1980 là thời kỳ đặc biệt khi 215 chuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức sang hỗ trợ tái thiết thành phố Vinh sau khi bị bom Mỹ san phẳng. Đó cũng là thời kỳ Việt Nam còn vô cùng khó khăn, vừa trải qua chiến tranh, bước vào cơ chế bao cấp với muôn vàn thiếu thốn. Trong hoàn cảnh ấy, việc bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho đoàn chuyên gia Đức không chỉ là một công việc hậu cần đơn thuần mà còn là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện tình hữu nghị giữa hai nước.
Sinh hoạt phí của đoàn chuyên gia được thực hiện theo các hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức. Phía Đông Đức chi trả lương gốc, bảo hiểm và một phần phụ cấp bằng tiền Mác Đông Đức để chuyển về tài khoản của họ ở quê nhà. Còn phía Việt Nam chịu trách nhiệm toàn bộ về chi phí ăn ở, phương tiện đi lại trong nước, bảo vệ an ninh và cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết trong suốt thời gian họ công tác tại Vinh.
Nói đến đời sống của chuyên gia Đức thời đó thì điều mà nhiều người dân Vinh còn nhớ nhất chính là chế độ cung ứng thực phẩm. Cần phải hiểu rằng giai đoạn 1974 - 1980 là thời kỳ kinh tế Việt Nam nói chung và thành phố Vinh nói riêng bước vào giai đoạn bao cấp cực kỳ khó khăn sau chiến tranh phá hoại. Việc cung ứng thực phẩm cho đoàn chuyên gia Đông Đức tại Vinh không chỉ là bài toán hậu cần mà còn là nhiệm vụ chính trị tối mật và khẩn thiết được Chính phủ giao trực tiếp cho Bộ Nội thương, Tỉnh ủy và UB hành chính tỉnh Nghệ An phối hợp thực hiện.
Trong khi người dân thành phố Vinh phải dùng tem phiếu loại thường để xếp hàng mua từng lạng thịt, từng cuốn sổ gạo và bữa cơm thường xuyên phải ăn độn ngô, bo bo hay sắn khô thì các chuyên gia Đức được hưởng chế độ tem phiếu đặc biệt dành riêng cho chuyên gia nước ngoài. Thời đó thường gọi là tiêu chuẩn E hoặc tương đương phiếu A đặc biệt.
Mức độ biệt đãi cụ thể về định lượng và chủng loại nhu yếu phẩm cho các chuyên gia Đức thời điểm đó khá đặc biệt. Định lượng thịt và cá được cung ứng từ 5kg đến 7kg thịt mỗi tháng, gấp khoảng 15 đến 20 lần tiêu chuẩn của người dân địa phương. Thịt phải là loại thịt lợn hoặc thịt bò nạc tươi ngon nhất được lấy từ các lò mổ tuyển chọn vào buổi sáng sớm, tuyệt đối không lẫn nhiều xương hay mỡ vụn.
Về sữa và bơ, mỗi chuyên gia được cấp phát sữa đặc, thường là sữa hộp Liên Xô hoặc sữa Ông Thọ xuất khẩu, cùng với bơ theo định lượng khoảng từ 2 đến 3 hộp sữa mỗi tuần. Cần nhớ rằng vào thời kỳ đó, sữa là mặt hàng rất hiếm, thường chỉ người ốm nặng hoặc trẻ em suy dinh dưỡng nặng mới được phân phối.
Tiêu chuẩn trứng gà dao động từ 20 đến 30 quả mỗi tháng cho một người. Đó là con số mà nhiều gia đình thời bấy giờ khó có thể hình dung được.
Đặc biệt hơn nữa là các mặt hàng được xem như xa xỉ phẩm trong thời kỳ bao cấp như bia, thuốc lá và cà phê. Đây là những thứ mà nhiều người dân Vinh thời đó hầu như không có cơ hội sử dụng thường xuyên, nhưng lại được cung cấp đều đặn cho chuyên gia Đức để phù hợp với tập quán sinh hoạt và văn hóa của họ.
Về bia, phía Việt Nam ưu tiên điều chuyển các loại bia chai từ Nhà máy bia Hà Nội như bia Trúc Bạch hoặc bia Hữu Nghị. Mỗi chuyên gia được phân phối khoảng từ một đến hai két bia mỗi tháng để giải nhiệt giữa những tháng hè gió Lào nóng bỏng của xứ Nghệ.
Về thuốc lá, thay vì các loại thuốc lá sợi hay những nhãn hiệu phổ thông như Thăng Long hoặc Tam Đảo, các chuyên gia thường được cung cấp những loại thuốc lá chất lượng cao hơn như Du Lịch hoặc Điện Biên bao bạc.
Về cà phê và chè, họ được cấp dưới dạng bột hoặc hạt thô, thường lấy từ các nông trường vùng Phủ Quỳ của Nghệ An hoặc từ Tây Nguyên để tự pha chế theo thói quen mỗi sáng.
Để bảo đảm nguồn cung này không bị gián đoạn hoặc suy giảm chất lượng, một quy trình vận hành riêng đã được thiết lập. Các mặt hàng phục vụ chuyên gia không bán tại chợ hay các cửa hàng mậu dịch quốc doanh thông thường mà được vận chuyển thẳng tới khu chuyên gia.
Tại khu ở Giao tế 2 của thành phố Vinh, nơi người dân thường gọi là “Khu chuyên gia Đức”, có nhà bếp phục vụ riêng. Nhà nước bố trí đội ngũ đầu bếp và nhân viên phục vụ người Việt đã qua đào tạo tại Hà Nội. Trong đó có bác Bẩu, người Hoa, và bà Nga. Vì người Đức không quen ăn cơm gạo tẻ hằng ngày nên nhà bếp phải sử dụng bột mì hảo hạng nhập từ Liên Xô hoặc các nước Đông Âu để nướng bánh mì tươi mỗi sáng, nấu súp khoai tây, làm bít tết hoặc các món thịt hầm theo đúng khẩu vị quê hương của họ. Chỉ thỉnh thoảng một tháng đôi lần nấu cơm Việt Nam để họ ăn để biết.
Toàn bộ rau củ quả như bắp cải, su hào, cà chua... đều được thu mua trực tiếp từ các hợp tác xã ngoại thành Vinh theo tiêu chuẩn an toàn cao nhất thời bấy giờ. Rau được rửa bằng nước sạch và kiểm tra kỹ trước khi đưa vào chế biến nhằm hạn chế nguy cơ ngộ độc hoặc dịch bệnh.
Phía đoàn chuyên gia cũng có đầu bếp người Đức và bác sĩ riêng thường xuyên kiểm tra chất lượng thực phẩm được cung cấp cho đoàn.
Về điều kiện vật chất, Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh Nghệ An sau này là Nghệ Tĩnh đã cố gắng tạo điều kiện sống tốt nhất có thể trong hoàn cảnh thời đó. Các chuyên gia sống tại khách sạn Giao tế 2. Phòng ở được trang bị giường, tủ, bàn làm việc và quạt điện đầy đủ. Ngày nay nghe có vẻ bình thường nhưng vào thời kỳ bao cấp đó, những tiện nghi như vậy thực sự là tài sản đáng mơ ước đối với nhiều gia đình ở Vinh.
Điện và nước sạch cũng được ưu tiên cung cấp ổn định nhất có thể cho khu vực này. Trong khi nhiều nơi trong thành phố thường xuyên phải chịu cảnh cắt điện luân phiên thì khu chuyên gia luôn được cố gắng bảo đảm điều kiện sinh hoạt để không ảnh hưởng tới công việc.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào những chế độ ưu tiên ấy mà nghĩ rằng cuộc sống của các chuyên gia Đức ở Vinh là dễ dàng thì không đúng. Mặc dù được hưởng những điều kiện tốt nhất mà địa phương có thể dành cho họ, cuộc sống tại Vinh những năm 1974 - 1980 vẫn vô cùng khắc nghiệt đối với người nước ngoài. Họ phải đối mặt với khí hậu gió Lào nóng như rang, điều kiện sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn, rất ít dịch vụ giải trí và đặc biệt là nguy cơ dịch bệnh, nhất là sốt rét.
Điều mình nhớ nhất sau nhiều năm không phải là những suất ăn hay tiêu chuẩn tem phiếu, mà là cách những người bạn Đức ấy đã chấp nhận sống nhiều năm liền giữa một thành phố còn ngổn ngang đổ nát sau chiến tranh. Họ không chỉ đến để thiết kế hay xây dựng công trình. Họ thực sự đã cùng người dân Vinh chia sẻ một phần cuộc sống rất khó khăn của thời kỳ ấy.
Sự chung sống, đồng cam cộng khổ của các chuyên gia Đông Đức suốt nhiều năm liền giữa đống đổ nát của thành Vinh đã tạo nên một sợi dây tình cảm vô cùng sâu sắc. Người dân Vinh thời đó luôn trân trọng gọi họ là những người bạn “Đức anh em” đầy nghĩa tình.
Có lẽ sự ưu ái và biệt đãi dành cho đoàn chuyên gia khi ấy là minh chứng rõ nhất cho câu nói mà rất nhiều người từng nhắc đến trong thời bao cấp: “Nhịn ăn nhường bạn”. Dù người dân thành Vinh phải thắt lưng buộc bụng, ăn cơm độn nhưng sự chăm sóc chu đáo ấy đã giúp các chuyên gia Đông Đức có đủ sức khỏe và tâm huyết để ở lại bám trụ, thiết kế và xây dựng nên một thành phố Vinh hiện đại, khang trang từ đống đổ nát của chiến tranh.

