• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Cuộc chiến bí mật chống Hà Nội

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
3,876
Reaction score
0
Points
36
CUỘC CHIẾN BÍ MẬT CHỐNG HÀ NỘI
CHƯƠNG MỘT / P1
NẾU HỌ LÀM ĐƯỢC THÌ CHÚNG TA CŨNG LÀM ĐƯỢC

Vào buổi sáng chủ nhật, ngày 28 tháng Giêng năm 1961, tổng thống vừa tuyên thệ nhận chức John F. Kenedy chủ toạ cuộc họp đầu tiên của Hội đồng an ninh quốc gia để thảo luận về tình hình Việt Nam. Tin tức rất xấu, và do chính một người có hiểu biết sâu về Việt Nam đồng thời là một chuyên gia chống chiến tranh du kích do cộng sản phát động báo cáo.

Edward Geary Lansdale là một chuẩn tướng không quân khác thường. Vốn là cựu binh của Văn phòng tình báo chiến lược (OSS) trong chiến tranh thế giới thứ hai và một người chỉ huy giàu kinh nghiệm các hoạt động bí mật của Cục tình báo Trung ương (CIA), Lansdale đã trở thành huyền thoại về vai trò của ông trong chiến dịch chống nổi loạn rất thành công ở Philippines đầu những năm 50. Lansdale đã giúp Ramon Magsaysay đánh bại cuộc nổi loạn cộng sản Huk.

Với những kinh nghiệm còn nóng hổi, ông được tổng thống Dwight D. Eisenhower cử sang Việt Nam khi chế độ thuộc địa Pháp sụp đổ, đánh dấu bằng sự đầu hàng tại Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiệm vụ ban đầu của Lansdale là vạch kế hoạch và tiến hành chiến dịch hoạt động ngầm chống lại chế độ cộng sản mới ở Hà Nội. Mặc dù những nỗ lực này không thành công, ông tiếp tục ở lại Việt Nam cho đến năm 1956 và trở thành bạn thân và người tin cẩn của Ngô Đình Diệm, tổng thống tương lai của Nam Việt Nam.

Lansdale vừa mới trở về sau chuyến đi tìm hiểu tình hình hai tuần ở Việt Nam đầu tháng Giêng năm 1961 và được mời đến để thuyết trình với Hội đồng an ninh quốc gia về những gì ông thu thập được. Kenedy đã đọc báo cáo chuyến đi của Lansdale và lưu ý các thành viên của Hội đồng rằng "lần đầu tiên, có một bản báo cáo cho ông cảm giác về mối nguy hiểm và tính khẩn cấp của vấn đề Việt Nam". (Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1961-1963: Việt Nam, Tập 1 (Washing- ton DC, Nhà in chính phủ, 1988), sau đây viết tắt là FRUS, tr.16.)

Lansdale trình bày một cách thẳng thắn. Ông nói với Hội đồng an ninh quốc gia rằng "bắt đầu từ tháng 12 năm 1959 cho đến nay, ở khắp miền Nam các hoạt động du kích và chống trả của Việt Cộng ngày càng gia tăng". Việt Cộng với sự hậu thuẫn của Hà Nội tiến hành "bắt cóc và sát hại các quan chức ở xã ấp, phục kích và tấn công vũ trang". Mục tiêu của Bắc Việt Nam là "sáp nhập Nam Việt Nam vào khối cộng sản” (Sđd. tr.5-6). Trong chuyến thị sát, Lansdale hầu như không thấy điều gì có thể mang lại hy vọng, Hà Nội và Việt Cộng đang áp sát và trong điều kiện đó, chính quyền Sài Gòn không thể làm chậm chứ đừng nói đến việc ngăn chặn ngày tận thế đang đến gần.

Lansdale đệ trình "Kế hoạch chống nổi loạn cơ bản cho Việt Nam" đã được toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi cho Washington đầu tháng Giêng năm 1961(Kế hoạch này do Nhóm công tác quốc gia soạn thảo năm 1960, được phê duyệt 28-1-1961 mà không có những bất đồng lớn trong Hội đồng an ninh quốc gia). Bản báo cáo đã đề nghị cần có những thay đổi cơ bản trong phương pháp đối phó với tình trạng nổi loạn của chính phủ Diệm. Các lực lượng chống du kích và chương trình cải cách dân sự là cần thiết để đánh bại Việt Cộng và giành sự ủng hộ và trung thành của nông dân. Hoa Kỳ có thể cung cấp viện trợ cho các chương trình này, nhưng Sài Gòn phải cộng tác. Trên nhiều khía cạnh, kế hoạch này phù hợp với quan điểm của Tổng thống và nhiều cố vấn thân cận của ông. Họ tin rằng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh du kích, một cuộc chiến không giới tuyến hoặc chiến trường, đòi hỏi những chính sách và chiến lược mới. Mọi điều ở Nam Việt Nam cần phải được thay đổi.

Thách thức lần này phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều so với cuộc nổi loạn ở Philippines mà Lansdale đã giúp đánh bại. Ở Philippines, vấn đề chỉ là cuộc lật đổ cộng sản mang tính nội bộ do Huk lãnh đạo và chiến tranh du kích. Ở Nam Việt Nam, Việt Cộng đang áp dụng những hoạt động tương tự, nhưng không giống như Huk, họ nhận được sự trợ giúp và chỉ đạo từ Hà Nội. Sự trợ giúp từ bên ngoài này là sự khác biệt có tính chất cốt lõi giữa hai tình huống.

Kế hoạch chống nổi loạn tìm cách vô hiệu hoá và đánh bại thách thức của Việt Cộng ở Nam Việt Nam, một nhiệm vụ sẽ đơn giản đi rất nhiều nếu như sự giúp đỡ của Bắc Việt Nam bị loại trừ. Điều gì có thể thuyết phục Hà Nội rằng việc giúp đỡ Việt Cộng là không phù hợp với lợi ích của họ? Tại cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia, Tổng thống đặt ra câu hỏi liệu hoạt động du kích có thể được tiến hành trong lòng Bắc Việt Nam hay không. Allen Dulles, giám đốc CIA, báo cáo hiện có một số hoạt động hạn chế đang được thực hiện để giúp tổ chức du kích của Nam Việt Nam đủ khả năng quấy rối Bắc Việt Nam. Nhưng ông thừa nhận rằng mới chỉ có bốn toán, mỗi toán tám người được thành lập dưới sự giám sát của CIA và các toán này không được bố trí và hoạt động thường xuyên ở miền Bắc. Nhiệm vụ của họ là quấy phá ở vùng biên giới Bắc Việt Nam. Kenedy được báo cáo là "các toán này được phân công hoạt động ở các địa bàn phía nam" và "chuyển sang biên với Lào".(FRUSm 1961-1963, tr. 17) Đây là những nỗ lực rất hạn chế và khó có thể làm nản lòng Hà Nội trong cuộc đấu tranh thống nhất Việt Nam.

Kenedy không hài lòng với những cố gắng của CIA và tuyên bố ông muốn "có du kích hoạt động ở miền Bắc" (FRUSm 1961-1963, tr. 17). Đây chính là điểm khởi đầu những gì về sau trở thành chiến dịch hoạt động ngầm lớn nhất và phức tạp nhất mà Chính phủ Mỹ thực hiện trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Từ 1964 đến 1972, chiến dịch này do quân đội chứ không phải CIA thực hiện và bao gồm việc tạo ra mạng lưới điệp viên, phong trào chống đối giả tạo, hoạt động đánh lạc hướng, chiến tranh tâm lý, hoạt động trên biển và các hoạt động thám báo qua biên giới.

Chiến dịch hoạt động ngầm bắt đầu vào một sáng chủ nhật tháng Giêng năm 1961 khi vị tân Tổng thống quyết định gửi một bức thông điệp cho Hà Nội là họ sẽ trả giá cho hoạt động lật đổ ở miền Nam. Trên thực tế, điều mà John F. Kenedy muốn nói là: hãy cho miền Bắc nếm thử những gì họ đang làm đối với chúng ta ở miền Nam và làm ngay lập tức.

HOẠT ĐỘNG NGẦM VÀ CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT:
NHỮNG VŨ KHÍ MỚI CỦA CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH
Vào những năm 1950, John F. Kenedy là một phần của dàn đồng ca gồm các nhân vật chính trị, sĩ quan quân đội, và học giả - những người tin rằng Hoa Kỳ cần triển khai những công cụ và chiến thuật mới để chiến đấu trong cuộc chiến tranh lạnh. Ở Đông-Nam Á, châu Mỹ La tinh và những nơi khác thuộc thế giới thứ ba, mối đe doạ đang nổi lên là chiến tranh du kích của cộng sản. Cuộc chiến tranh đó vạch ra ranh giới xung đột giữa Đông và Tây và Hoa Kỳ cần phải chuẩn bị sẵn sàng. Khi là tổng thống, mối quan tâm cá nhân của John F. Kenedy đối với chiến tranh du kích được nhiều người biết đến. Trong ngôn ngữ quân đội và theo học thuyết quân sự, những công cụ và chiến thuật mới bao gồm ba yếu tố: chống bạo loạn, chiến tranh không quy ước và hoạt động chiến tranh tâm lý.

Người ta đã viết rất nhiều về sự nhiệt tình của chính quyền Kenedy đối với việc chống bạo loạn. Doughlas Blaufarb, cựu nhân viên cao cấp về hoạt động bí mật của CIA tại Lào và từng là trưởng trung tâm CIA tại Lào vào giữa những năm 1960 đã coi những năm dưới quyền Kenedy là kỷ nguyên chống bạo loạn. Công việc này liên quan tới những cố gắng có hệ thống để đánh bại du kích bằng việc sử dụng chính chiến thuật của họ. Một câu nói thường được nhắc đi nhắc lại trong những năm đầu 60 là bạn phải "phỗng tay trên của du kích". Một chuyên gia về các hoạt động này giải thích rõ hơn: "Điều cần thiết là phải tránh được vũ khí cách mạng, chấp nhận và cải tiến chúng theo mục đích sử dụng của mình rồi dùng chính những vũ khí ấy chống lại cách mạng"(1).

Trong khi việc chống bạo loạn được nhận sự quan tâm của công chúng, Kenedy cũng không kém phần bận rộn với chiến tranh không quy ước. Theo các nhà quân sự của đầu những năm 60, chiến tranh không quy ước được thực hiện "trong lãnh thổ do kẻ địch nắm giữ và chiếm đóng" với mục tiêu "tận dụng lợi thế hoặc kích động phong trào chống đối chống lại chính phủ thù địch"(2). Đây chính là những việc mà OSS đã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu và châu Á. Đó là việc thúc đẩy các hoạt động bán quân sự ở trong lãnh thổ đối phương bằng cách tổ chức và hỗ trợ phong trào chống đối du kích ở vùng dân tộc. Thông qua các hoạt động này, chiến tranh không quy ước làm suy yếu chính phủ đối phương bằng việc giảm hiệu quả hoạt động quân sự, khả năng kinh tế, sự ổn định và tinh thần của đối phương.

Một thành tố quan trọng của chiến tranh không quy ước là chiến tranh tâm lý. Nó bao gồm "các hoạt động và chiến dịch được vạch ra và thực hiện nhằm tác động vào quan điểm, tình cảm, thái độ và hành vi của kẻ địch và dân chúng"(3). Thật là dễ dàng nhận thấy sự hấp dẫn của chiến tranh không quy ước đối với Kenedy. Đây cũng chính là điều ông muốn tiến hành sâu trong lòng Bắc Việt Nam.

Sự ủng hộ của Kenedy đối với chiến tranh đặc biệt còn là một phần trong việc chỉ trích chính sách an ninh quốc gia nói chung và học thuyết trả đũa hàng loạt nói riêng của Eisenhower. Chính quyền Eisenhower nhận định rằng Hoa Kỳ có thể sử dụng ưu thế về kỹ thuật và công nghệ để xác định cách thức đối phó với đe doạ và thách thức của kẻ thù. Công nghệ có thể thay thế cho nhân lực và vũ khí hạt nhân tối tân có thể ngăn chặn tất cả mọi mưu kế của Liên Xô và khối cộng sản.

John Foster Dulles, Ngoại trưởng của Eisenhower và là người cổ động nhiệt tình cho học thuyết trả đũa hàng loạt đã phát biểu trước Hội đồng đối ngoại rằng: "Kẻ xâm lược tiềm tàng phải biết rằng hắn sẽ không thể áp đặt điều kiện chiến trường phù hợp cho mình". Ngược lại "chúng ta sẽ tận dụng khả năng tấn công chiến lược bằng vũ khí hạt nhân tối tân để ngăn chặn mọi nỗ lực trực tiếp hay gián tiếp tổng lực hay cục bộ của cộng sản nhằm giành lợi ích đối với Mỹ"(4). Hay nói một cách khác, Hoa Kỳ chứ không phải đối phương quyết định cách thức, thời gian và chiến trường cho cuộc chiến.

Trong từ vựng thuật ngữ quân sự, trả đũa hàng loạt là một chiến lược đa năng mà những người ủng hộ tin rằng có thể sử dụng chống lại mọi loại hình thách thức quân sự. Như tổng thống Eisenhower tuyên bố vào năm 1955: "Tôi không thấy có lý do tại sao vũ khí hạt nhân lại không được sử dụng tương tự như bạn sử dụng một viên đạn hoặc vũ khí khác”(5).

Kenedy không tin như vậy. ông nghi ngờ việc học thuyết này có thể sử dụng để chống lại chiến tranh du kích và cho rằng cần thiết phải có sự đánh giá lại một cách kỹ lưỡng về mặt chiến lược. Chiến lược không cân xứng chỉ đưa ra một số ít các giải pháp cho một thế giới phức tạp của chiến tranh gián tiếp và thách thức không quy ước. Kenedy lập luận: "Những sự kiện ở Đông Dương và những nơi khác đã làm sụp đổ những luận cứ nền tảng của học thuyết trả đũa hàng loạt; việc chúng ta không tập trung đối phó với các vụ phục kích hay chiến tranh du kích mà chỉ đe doạ trả đũa hạt nhân, trên thực tế đã tạo điều kiện cho cộng sản bành trướng ở những nơi như Đông Dương thông qua những chiến thuật tấn công không đến mức làm cho chúng ta phát động chiến tranh hạt nhân"(6). Học thuyết trả đũa hàng loạt không đủ tin cậy. Liệu có ai tin rằng Mỹ sẽ dùng vũ khí hạt nhân để đối phó với chiến tranh du kích? Kenedy đã nhận xét một cách châm biếm rằng ông thật khó hình dung là Mỹ sẽ "phát động chiến tranh hạt nhân chống lại bạo loạn cộng sản ở Miến Điện"(7). Lời chỉ trích này là thoả đáng. Hoa Kỳ cần nhiều hơn, chứ không phải ít đi, các phương án để đối phó một cách linh hoạt với các thách thức đa dạng. Theo Kenedy, các phương án cần phải tương xứng. Vì vậy ông đã dành nhiều quan tâm cho việc tăng cường các yếu tố bí mật và công khai của chiến tranh đặc biệt. Trong hai tháng đầu của nhiệm kỳ tổng thống, việc chỉ trích Eisenhower là điểm trọng tâm để nhấn mạnh yêu cầu cần có giải pháp mới. Trong diễn văn trước Quốc hội tháng 3 năm 1961, tổng thống nhận xét: "kể từ năm 1945, chiến tranh phi hạt nhân và chiến tranh du kích đã trở thành mối đe doạ thường trực và nổi nhất đối với thế giới tự do". Chúng ta đã có "khả năng lớn hơn để đối phó với lực lượng du kích, bạo loạn và lật đổ...Giờ đây chúng ta cần phải sẵn sàng đối phó với mọi quy mô lực lượng, bao gồm cả những lực lượng nhỏ được nước ngoài hỗ trợ, và chúng ta phải huấn luyện lực lượng tại chỗ đạt được mức độ tương đương"(8 ). Tháng Sáu năm 1962, ông nói với các học viên vừa tốt nghiệp Học viện Quân sự Westpoint rằng Hoa Kỳ cần "một chiến lược hoàn toàn mới" để đương đầu với những thách thức đó(9).

Kenedy tập hợp quanh mình những cố vấn cao cấp- những người cổ vũ cho chiến tranh đặc biệt và những giải pháp hoạt động bí mật. Việc lựa chọn Maxwell Taylor làm cố vấn quân sự là một minh chứng cụ thể. Taylor là người hiểu rõ vấn đề cả về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn. Taylor đã hoạt động ở sau giới tuyến ở Ý và nhảy dù xuống Pháp trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tại Triều Tiên, ông tổ chức các hoạt động du kích ở vùng núi Chirisan năm 1953. Ông là người phê phán mạnh mẽ chiến lược của Eisenhower. Những lập luận chỉ trích của ông được tập hợp trong một cuốn sách được tuyên truyền rộng rãi mà Kenedy đã đọc và thích thú. Năm 1961, trong một bài viết đăng trên tạp chí Ngoại giao, Taylor kêu gọi Mỹ phải phát triển khả năng đối phó với hoạt động lật đổ du kích ở Thế giới thứ ba. Maxwell Taylor là một vị tướng mà tân tổng thống đang tìm kiếm. Ông hiểu những gì cần được thực hiện.

McGeorge Bundy là trợ lý đặc biệt của tổng thống về các vấn đề an ninh quốc gia, một cương vị mà sau đó Bundy đã xác lập lại tầm quan trọng. Kenedy chọn Bundy vì ông mang hình ảnh của một nhà hoạt động năng nổ và cứng rắn mà Kenedy đang cần. Bundy thường được mô tả là người sắc sảo, xông xáo và sẵn sàng sử dụng vũ lực. David Halberstam đã viết rằng Bundy là một phần của “trường phái siêu thực cực đoan. Những người theo trường phái này tin rằng họ cứng rắn, rằng họ biết rõ thế giới thực sự như thế nào, và vũ lực cần được chấp nhận như là một yếu tố cơ bản của ngoại giao". Đối với Bundy, hoạt động ngầm là một phần của cuộc chơi, là một công cụ "của thủ đoạn chính trị ngoại giao"(10). Bundy là chủ tịch của Ủy ban 303 mà quyền hạn của nó bao gồm việc giám sát tất cả các hoạt động ngầm của Mỹ, trong đó có các hoạt động của CIA và quân đội chống Bắc Việt Nam. Uỷ ban này được thành lập năm 1961 sau sự kiện Vịnh Con lợn vì Kenedy muốn có sự kiểm soát chặt chẽ các hoạt động bí mật.

Bộ trưởng Quốc phòng của Kenedy, Robert McNamara, thường được coi là người gắn liền với sự leo thang của chiến tranh thông thường ở Việt Nam kể từ năm 1965. Tuy nhiên, ông cũng là người ủng hộ tích cực việc sử dụng các biện pháp không tương xứng để đối phó với chiến tranh du kích và hoạt động ngầm của cộng sản. Trong năm 1961, McNamara, với sự thúc giục của Kenedy, đã tăng gấp đôi lực lượng đặc biệt và hướng lực lượng này vào các nhiệm vụ chống bạo loạn và chiến tranh không quy ước. Sau thất bại ở Vịnh Con lợn, McNamara đứng đằng sau quyết định chuyển giao những hoạt động ngầm có quy mô lớn từ CIA sang Bộ Quốc phòng. Năm 1963, ông đóng vai trò cốt yếu trong việc dự thảo và phê duyệt một chương trình hoạt .động ngầm mới do giới quân sự chỉ đạo chống lại Hà Nội.

Người tiếp theo là Walt Rostow, phó và sau đó là người kế nhiệm của Bundy. Vốn là nhà kinh tế của Học viện công nghệ Massachusetts, ông là một gương mặt lý luận hàng đầu về chiến tranh đặc biệt và hoạt động ngầm. Cuốn sách của ông, "Các giai đoạn của tăng trưởng kinh tế", đã đề xuất một cuộc tấn công vào tận gốc của bạo loạn và lật đổ cộng sản nhằm ngăn chặn chúng trước khi xảy ra(11). Rostow lập luận rằng Hoa Kỳ cần ở vị thế tấn công chống lại những thách thức mới của cuộc chiến tranh lạnh. Những ý tưởng của Rostow về chiến tranh đặc biệt, viện trợ nước ngoài, và các chiến lược phát triển cho Thế giới thứ ba đã có ảnh hưởng đối với Kenedy trước khi ông trở thành tổng thống. Chính Rostow là người đầu tiên đọc báo cáo về chuyến thăm Việt Nam tháng Giêng năm 1961 của Lansdale và bản báo cáo đã làm ông lo lắng. Ông đã làm mọi cách để cho Kenedy đọc bản báo cáo. Sau cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia ngày 28-1-1961, Rostow có quan điểm dứt khoát về Việt Nam và thúc đẩy các hoạt động ngầm chống lại Bắc Việt Nam.

Taylor, Bundy, McNamara, Rostow không phải là những người duy nhất. Em trai của tổng thống, Robert Kenedy, cũng là người nhiệt tình ủng hộ việc chống bạo loạn và coi đó là giải pháp cho vấn đề ở Nam Việt Nam. Một nhân vật khác là Roger Hillsman, người khi còn là nhân viên của OSS đã tổ chức các đơn vị du kích ngăn chặn không cho Nhật Bản chiếm đóng Miến Điện trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Những kinh nghiệm thực tế về chiến tranh đặc biệt này cộng với sự quan tâm nghiên cứu của Hillsman đã đưa ông đến với chiến tranh đặc biệt và trở thành người ủng hộ chủ yếu cho học thuyết chống bạo loạn, coi đó như là phương cách để chặn đứng các mối đe doạ du kích của Thế giới thứ ba. William Bundy, một cựu nhân viên CIA và là anh trai của cố vấn an ninh tổng thống, cũng tin vào tầm quan trọng của các hoạt động ngầm. Ngoài ra còn những người khác.

Chiến trường mới của chiến tranh lạnh là Thế giới thứ ba và học thuyết cũng như lực lượng chống bạo loạn là những công cụ quan trọng cho việc thực hiện chính sách của Mỹ trong môi trường ấy. Những nhân vật cao cấp trong chính quyền mới của Kenedy đều nhất trí về nhận định này. Điều quan trọng nhất là quan điểm của họ phù hợp và củng cố thêm quan điểm của tổng thống.
Buddy Up - Người trong cuộc

___________________________________________
1. John J. McCuen. "Nghệ thuật của chiến tranh chống lại cách mạng (Harrisburg, Pa. Stackpole Press- 1966). tr- 50
2, 3. “Thuật ngữ của chiến tranh lạnh”-. Tập san thông tin quân đội, tháng 6-1962. tr.53 54
4. John Forster Dulles, "Sự phát triển của chính sách đổi ngoại”, Bản tin Bộ Ngoại giao, 25-1-1954.
5. (Tài liệu công khai của Tổng thống Dwight D. Eisenhower, (Washington DC, Văn phòng đăng ký liên bang 1955) tr. 332)
6, 7. John F. Kenedy, "Tuyển tập các bài phát biểu của Tổng thống trong thời gian phục vụ tại Thượng viện và Hạ viện, (Washington DC. Nhà in chính phủ Hoa Kỳ năm 1964) tr 1002- 1003 , 91
8, 9. Tài liệu công khai của Tổng thống John F. Kenedy, (Washington DC. Nhà máy in chính phủ Hoa Kỳ, 1962). tr. 232-236, 453
10. David Halberstam. “Những ngườí xuất sắc và thông minh nhất” (New York: Ballantine Books. bản 1992) tr. 56
11. W W Rostow, "Các giai đoạn của tăng trưởng kinh tế”, (Cambridge: Trường đại học Cambridge xuất bản, năm 1960)

DI SẢN HOẠT ĐỘNG NGẦM CỦA CIA
Trước năm 1961, hoạt động ngầm bán vũ trang theo dạng Kenedy mong muốn tiến hành trong lòng Bắc Việt Nam mang lại rất ít thành công. Các nhà điều hành của CIA gọi đây là địa bàn bị từ chối: đó là những mục tiêu rất khó xâm nhập chứ đừng nói chuyện lật đổ. Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc cộng sản, Bắc Triều Tiên, Cu Ba và Bắc Việt Nam tất cả đều là địa bàn bị từ chối. Một nhân viên tình báo giàu kinh nghiệm đã gắn cho những nước này nhãn hiệu "nhà nước chống tình báo" vì sự chú ý quá mức đối với an ninh trong nước và kiểm soát dân chúng(1) . Ở đó có nhiều lực lượng tình báo, cảnh sát đối phó với mọi đe doạ về an ninh bất kể là có thật hay được tưởng tượng ra. Việc thành lập phong trào chống đối và mạng lưới điệp viên trong lòng những địa bàn bị từ chối tỏ ra là nhiệm vụ quá khó khăn và thường là không kết quả đối với CIA.
Tuy nhiên kết luận này không đúng với nỗ lực đầu tiên của Hoa Kỳ trong việc sử dụng hoạt động chống đối và bán quân sự ngầm trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ngày 13-6-1942, sau những tranh luận về hành chính giữa Văn phòng phối hợp thông tin do William Donovan lãnh đạo và Hội đồng tham mưu liên quân, Văn phòng tình báo chiến lược (OSS) được Tổng thống thành lập và đặt dưới sự chỉ đạo của Hội đồng tham mưu liên quân- Đây là một công việc phiền toái cho các tham mưu trưởng, những người hay ngần ngại về hoạt động bán quân sự bí mật. Những hoạt động này không được tiến hành theo những nguyên tắc quân sự truyền thống thông thường, và do đó làm cho giới lãnh đạo quân đội lo ngại. Donovan cho rằng trong thời chiến, hoạt động bán quân sự cần hướng tới và phối hợp với hoạt động quân sự thông thường và OSS nên sáp nhập với quân đội Mỹ(2).

Những hoạt động chiến tranh không quy ước trong lòng lãnh thổ đối phương bao gồm chiến tranh tâm lý, hay hoạt động tác động tinh thần - theo thuật ngữ của OSS, và việc khuyến khích các phong trào chống đối sử dụng chiến thuật du kích. Loại hoạt động thứ nhất nhằm khuyến khích sự phản kháng của người dân và làm giảm sút tinh thần của đối phương. Các biện pháp được sử dụng bao gồm thả truyền đơn, phát sóng từ đài phát thanh bí mật, và trợ giúp phong trào chống đối làm ra các loại tài liệu tuyên truyền để tung vào lãnh thổ bị chiếm đóng. Chiến tranh tâm lý còn gồm cả những thủ đoạn "bẩn thỉu”. Trong đại chiến thế giới thứ hai, “các đường bưu điện giữa Thụy Điển trung lập và phát xít Đức được sử dụng để ngụy tạo ra mối liên hệ giữa một số người Đức được coi là tích cực chống quân đồng minh với âm mưu nổ bom ám sát Hitler ngày 20-6-1944"(3). Rõ ràng nhiều người đã bị xử tử vì những thông tin giả này.

OSS còn hỗ trợ vật chất cho các phong trào chống đối và tìm cách tổ chức và huấn luyện du kích ở lãnh thổ châu Á bị chiếm đóng. Ví dụ, năm 1942, nhiều căn cứ được thành lập ở Ấn Độ, Miến Điện và Xrilanca để tiến hành các hoạt động thám báo và du kích chống lại Nhật Bản. Hoạt động này đã trở thành một phần chủ yếu của chiến tranh không quy ước. Những hoạt động tương tự cũng được tiến hành ở lãnh thổ châu Âu bị chiếm đóng. Ở miền Bắc Ý, bộ phận hoạt động đặc biệt của OSS đã giúp tổ chức phong trào chống đối làm hao tổn nhân lực và vật lực của Đức. Ở Pháp, các toán OSS đã phối hợp với Maquis - Phong trào chống đối Pháp - trước và sau ngày đổ bộ để phân tán và gây rối các lực lượng chiếm đóng Đức. Không nghi ngờ gì nữa, những hoạt động này đã góp phần quan trọng vào chiến thắng của Đồng minh.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai , OSS bị giải thể. Tổng thống Harry S. Truman tìm cách giảm thiểu sự dính líu của Mỹ vào các hoạt động bí mật. Ông lập luận: bây giờ là thời bình những biện pháp như vậy không còn cần thiết nữa. Nhưng ước vọng của ông không tồn tại lâu vì chiến tranh lạnh hình thành. CIA được thành lập theo Luật An ninh quốc gia năm 1947. Năm 1948, hai chỉ thị - NSC4 và NSC4A - chính thức giao trách nhiệm hoạt động ngầm cho CIA.

Một chỉ thị khác trong năm 1948, NSC1O-2, thành lập Văn phòng phối hợp chính sách trực thuộc CIA để phát triển và tiến hành các phương thức hoạt động ngầm chống lại Liên Xô và đồng minh của Liên Xô. Theo văn bản này, "Hội đồng an ninh quốc gia -NSC-, sau khi xem xét các hoạt động ngầm của Liên Xô nhằm hạ uy tín và làm thất bại mục tiêu, hoạt động của Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây khác, đã quyết định: các hoạt động công khai ở nước ngoài của chính phủ Hoa Kỳ phải được hỗ trợ bởi hoạt động ngầm"(4).

Hội đồng an ninh quốc gia đã giao cho CIA thực hiện hàng loạt thủ đoạn hoạt động ngầm: "Cụ thể là các hoạt động sẽ bao gồm bất kỳ hoạt động nào liên quan đến: tuyên truyền; chiến tranh kinh tế; hành động phòng ngừa trực tiếp như phá hoại, chống phá hoại, huỷ hoại và sơ tán; và hoạt động lật đổ chống lại các quốc gia thù địch, trong đó có việc trợ giúp cho phong trào kháng chiến ngầm, du kích và các nhóm tị nạn, và hỗ trợ các phần tử chống cộng tại chỗ". Như vậy CIA đã trở thành công cụ qua đó Hoa Kỳ có thể tiến hành các hoạt động chiến tranh không quy ước chống Liên Xô và đồng minh và là giải pháp thay thế trong tình huống chưa đến mức "xung đột vũ trang do lực lượng quân sự thông thường tiến hành"(5).
________________________________________________
1. John Dizak, “Lịch sử của KGB", (Lexington, Mass. Lexington Books, 1988 ) tr. 1-2
2. Anthony Cave Brown biên tập. “Báo cáo chiến tranh đặc biệt của OSS" (New York: Berkeley, 1976) Về Donavan, xin xem Thomas Troy "Donovan và CIA” (Federik Md. ấn phẩm đại học của Mỹ, 1981.
3. John Ranelagh. "Sự vươn lên và suy yếu của CIA”. (New York: Simon và Schuster, 1988), tr. 88.
4, 5. Chỉ thị của Hội đồng An ninh quốc gia 10/2, ngày 18-6-1948 về việc thành lập Văn phòng các đề án đặc biệt.

Những năm cuối thập kỷ 1940 và 1950 thường được nhắc đến như là thời hoàng kim của hoạt động ngầm, một sự đánh giá đúng mức nhưng dễ gây hiểu lầm. Chắc chắn là có những chiến dịch thành công. Những chiến tích này bao gồm sự giúp đỡ của Mỹ đối với châu Âu sau thế chiến thứ hai. Mục tiêu của chính sách đối ngoại lúc đó là ngăn cản sự bành trướng chính trị của cộng sản và xây dựng lại nền dân chủ. Các đảng chính trị, nghiệp đoàn, tổ chức văn hoá và các nhóm có liên quan đều cần giúp đỡ để chống lại đối thủ cộng sản được tổ chức và tài trợ tốt hơn. Họ đã nhận được sự giúp đỡ đó từ CIA. Cùng với sự hỗ trợ kinh tế, ngoại giao của kế hoạch Marshall, hoạt động ngầm đã góp phần quan trọng vào việc tái thiết châu Âu.

Ở Philippines, hoạt động ngầm đóng vai trò thiết yếu trong việc đánh bại hoạt động nổi dậy của cộng sản những năm 1950. Từ giác độ địa chiến lược, việc không để cho cộng sản nắm giữ quyền lực ở quốc gia này là phù hợp với lợi ích của Mỹ. Sự trợ giúp bán quân sự bí mật là một phần của chương trình được vạch ra nhằm khuyến khích cải tổ chính trị và phát triển kinh tế ở Philippines. Điều này đã mang lại kết quả. Với sự giúp đỡ của Edward Lansdale, Ramon Magsaysay đánh bại Huk và sau đó được bầu là tổng thống năm 1953.

Những hoạt động gây nhiều tranh cãi và bàn luận nhất trong giai đoạn này là cuộc đảo chính chống Mahamed Mossadegh ở Iran năm 1953 và chống chính phủ Jacabo Guzman Arbenz ở Guatemala năm 1954. Vào lúc bấy giờ, mỗi hoạt động đều được coi là thành công ngoạn mục trong cuộc chiến chống lại Matxcơva. Iran có vị trí địa chiến lược quan trọng đối với Mỹ và đầu những năm 1950 chính phủ của Mossadegh tỏ ra đang đi theo hướng chỉ đạo của Matxcơva. Còn hoạt động ở Guatemala, nơi yếu tố địa chiến lược và mối liên hệ với Matxcova không rõ ràng, cuộc đảo chính đã đặt ra rất nhiều câu hỏi. Nhiều năm sau, cả hai vụ này đã tạo ra những cuộc tranh luận căng thẳng về việc hoạt động ngầm như vậy có thể được coi là chính đáng không, khi xem xét tác động lâu dài trên thực tế và ảnh hưởng đạo lý đối với những nguyên tắc dân chủ của Mỹ. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, Iran và Guatemala đều được coi là quan trọng và hoạt động bán quân sự, tuyên truyền chính trị ngầm của CIA có vai trò quyết định trong việc hoàn thành các mục tiêu chính sách của Mỹ.

Những "thành tích" này đã đề cao danh tiếng của CIA như là một tổ chức có thể hành động nhanh chóng và có hiệu quả. Theo một chuyên gia tình báo hàng đầu, có nhiều lý do để hoạt động ngầm thành công. Một là, ở Washington, "có sự phối hợp và lãnh đạo chính sách rõ ràng và nhất quán ở cấp cao nhất để chớp lấy thời cơ” sử dụng công cụ hoạt động ngầm một cách hữu hiệu. Thứ hai, "có những người vạch kế hoạch sáng tạo và hiểu biết về địa bàn, xác định được đồng minh - những người cùng chia sẻ những mục đích cụ thể của Mỹ". Cuối cùng, các nhân viên chỉ đạo có năng lực để vạch ra đề án và hiện thực hoá mục đích của đề án đó(1).

Ở các địa bàn bị từ chối, CIA không thu được những thành tích tương tự. Trong những năm cuối 1940 và đầu 1950, CIA đã khởi xướng một số hoạt động bán quân sự bí mật nhằm gây mất ổn định và lật đổ chính quyền ở các chế độ cộng sản thuộc khối Liên Xô, bao gồm các nước vùng Ban tích: Lítva, Látvia, Etônia, Ba Lan, Ucraina và Anbani. Nhiều điệp viên được huấn luyện, cung cấp giấy tờ giả, và cài cắm vào những địa bàn bị từ chối để phát triển mạng lưới chống đối và thực hiện các hoạt động bán quân sự. Nhưng rất ít người có tin phản hồi.

Một sĩ quan lục quân cao cấp được điều về CIA và tham gia vào các điệp vụ trên khi được hỏi về những người đã được mình huấn luyện đã nhớ lại: "Tôi đến sân bay mỗi khi có một điệp viên được tung vào đối phương để kiểm tra lần cuối cùng các trang bị và chúc họ may mắn. Tôi đặc biệt nhớ một loại trang bị mà chúng tôi gọi là thắt lưng tự do. Vật này giống như một thắt lưng đựng tiền dùng để đựng những tài liệu tuyên truyền mà điệp viên sử dụng để thu hút và tuyển mộ người chống đối". Khi được hỏi có bao nhiêu điệp viên tạo được vỏ bọc và tiến hành hoạt động, viên sĩ quan - giờ đã nghỉ hưu - trả lời: "Vào lúc bấy giờ không một ai trong số tôi phụ trách có thông tin phản hồi sau khi được tung đi".

Hai thập kỷ sau, khi là tuỳ viên quân sự ở một nước thuộc khối Liên Xô, cuối cùng thì ông cũng đã gặp một người mà mình từng phụ trách. Trong một buổi tiếp tân tối, một người đàn ông đã tiến lại từ phía đằng sau và nói thầm: "Tôi vẫn còn chiếc thắt lưng tự do". Khi quay lại, ông tuỳ viên quân sự chỉ còn kịp nhìn thấy lưng của người đàn ông đang rời khỏi phòng. Ông ấy đã sống sót, tất cả chỉ có thế"(2).

Câu chuyện này phản ảnh những gì xảy ra đối với các hoạt động ở địa bàn bị từ chối. Ví dụ vào cuối những năm 1940, CIA và cơ quan tình báo Anh cố gây rối tình hình Anbani. Bây giờ thì mọi người đều biết rằng vào thời điểm đó hàng trăm người di tản đã được huấn luyện và đành trở về để thành lập phong trào chống đối và tiến hành chiến tranh du kích. Kết cục thật là thảm hoạ. Nhiều điệp viên bị xét xử công khai và hoạt động này phải chấm dứt vào năm 1953(3).

Những vụ việc tương tự cũng diễn ra ở Ba Lan. Hàng ngàn người Ba Lan đã ở lại phía Tây sau chiến tranh thế giới thứ hai. Khi cộng sản chiếm Ba Lan, các tổ chức của người Ba Lan tị nạn mọc lên như nấm và tuyên bố rằng họ có mạng lưới tổ chức đằng sau "bức màn sắt". Phong trào độc lập và tự do, hay WIN - viết tắt theo tiếng Ba Lan - là một trong những tổ chức ấy. CIA tin rằng tổ chức này là tốt và giúp đỡ tiền, huấn luyện, và thực hiện các chuyến bay thả điệp viên, vũ khí, và các phương tiện khác cho các đơn vị WIN trong lãnh thổ Ba Lan. Trên thực tế, WIN đã bị cơ quan tình báo Ba Lan xâm nhập từ những năm 1940. Trong lãnh thổ Ba Lan, tất cả hoạt động của WIN đã bị vô hiệu hoá và được sử dụng để chống lại CIA. Đây là một thất bại khác và là một phần của thất bại tương tự của CIA tại các nước thuộc khối Liên Xô trong những năm cuối 1940 và 1950.
______________________________________
1. Roy Godson, “Thủ đoạn bẩn thỉu hay con át chủ bài” (Washington DC: Brassey, 1995), tr. 42
2. Theo đề nghị của người được phỏng vấn, tên của người này được giữ kín
3. Godson, "Thủ đoạn bẩn thỉu hay con át chủ bài", tr. 47. Vào lúc bấy giờ Kim Philby được coi là nguyên nhân thất bại ở Anbani. Nhưng Godson cho thấy còn có những yếu tố khác dẫn đến thất bại này như điệp viên của Anbani trong số người lưu vong, việc đánh giá thấp năng lực của cơ quan phản gián đối phương, ít hiểu biết về tình hình Anbani...
 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
3,876
Reaction score
0
Points
36
Cuộc chiến bí mật chồng Hà nội P2:

Buddy Up - Người trong cuộc

Bộ tư lệnh hỗ trợ quân sự, Việt Nam – Nhóm nghiên cứu và quan sát ( MACV-SOG ) là một đơn vị tác chiến đặc biệt đa quân chủng của Hoa Kỳ được phân loại cao, chuyên tiến hành các hoạt động chiến tranh phi truyền thống bí mật trước và trong Chiến tranh Việt Nam Được thành lập vào ngày 24 tháng 1 năm 1964, đơn vị này đã tiến hành các nhiệm vụ trinh sát chiến lược ở Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam), Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc Việt Nam), Lào và Campuchia ; bắt giữ tù binh địch, giải cứu phi công bị bắn rơi, tiến hành các hoạt động giải cứu tù binh chiến tranh trên khắp Đông Nam Á và tiến hành các hoạt động đội điệp viên bí mật và các hoạt động tâm lý .

Đơn vị này đã tham gia vào hầu hết các chiến dịch quan trọng của Chiến tranh Việt Nam, bao gồm cả sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã thúc đẩy sự tham gia gia tăng của Hoa Kỳ, Chiến dịch Steel Tiger , Chiến dịch Tiger Hound , Chiến dịch Tết Mậu Thân , Chiến dịch Commando Hunt , Chiến dịch Campuchia , Chiến dịch Lam Sơn 719 và Chiến dịch Phục sinh . Đơn vị đã bị thu hẹp quy mô và đổi tên thành Đội hỗ trợ Ban kỹ thuật chiến lược 158 vào ngày 1 tháng 5 năm 1972, để hỗ trợ việc chuyển giao công việc của mình cho Ban kỹ thuật chiến lược của Quân đội Việt Nam Cộng hòa như một phần của nỗ lực Việt Nam hóa . Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (còn được gọi là SOG, MACSOG và MACV-SOG) là một lực lượng đặc nhiệm chiến tranh phi truyền thống chung, tuyệt mật được thành lập vào ngày 24 tháng 1 năm 1964 bởi Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân như một đơn vị chỉ huy phụ trợ của Bộ Tư lệnh Hỗ trợ Quân sự, Việt Nam (MACV). Cuối cùng, lực lượng này chủ yếu bao gồm nhân sự từ Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân Hoa Kỳ , Lực lượng SEAL của Hải quân Hoa Kỳ , Lực lượng Trinh sát Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ , Không quân Hoa Kỳ (USAF) và Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA).

Nhóm tác chiến đặc biệt, tên gọi ban đầu của đơn vị, thực tế do Trợ lý đặc biệt về chống nổi loạn và hoạt động đặc biệt (SACSA) và nhân viên của ông tại Lầu Năm Góc kiểm soát . Sự sắp xếp này là cần thiết vì SOG cần một số danh sách trong bảng tổ chức của MACV và thực tế là chỉ huy của MACV, Tướng William Westmoreland , không có thẩm quyền tiến hành các hoạt động bên ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam. Sự sắp xếp chỉ huy này thông qua SACSA cũng cho phép kiểm soát chặt chẽ (lên đến cấp tổng thống) phạm vi và quy mô các hoạt động của tổ chức. [ 1 ] Nhiệm vụ của nó là: để thực hiện một chương trình tăng cường quấy rối, chuyển hướng, gây sức ép chính trị, bắt giữ tù nhân, phá hoại vật chất, thu thập thông tin tình báo, tạo ra tuyên truyền và chuyển hướng nguồn lực chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Các hoạt động này ( OPLAN 34-Alpha ) được tiến hành nhằm thuyết phục Bắc Việt Nam ngừng tài trợ cho cuộc nổi loạn của Việt Cộng (VC) ở Nam Việt Nam. Các hoạt động tương tự đã nằm trong phạm vi quản lý của CIA, nơi đã bố trí các đội điệp viên ở Bắc Việt Nam với các đợt thả hàng bằng đường không và các đợt đưa quân qua bãi biển. Dưới áp lực của Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara , chương trình này và tất cả các hoạt động bán quân sự khác của cơ quan đã được chuyển giao cho quân đội sau chiến dịch xâm lược Vịnh Con Lợn thảm khốc ở Cuba . [ 3 ]

Chỉ huy đầu tiên của SOG, Đại tá Clyde Russell, đã gặp khó khăn trong việc thành lập một tổ chức để hoàn thành nhiệm vụ của mình vì vào thời điểm đó, Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ chưa được chuẩn bị về mặt học thuyết hoặc tổ chức để thực hiện nhiệm vụ. [ 4 ] b Vào thời điểm này, nhiệm vụ của Lực lượng Đặc biệt là tiến hành các hoạt động du kích sau phòng tuyến của kẻ thù trong trường hợp lực lượng thông thường xâm lược, chứ không phải tiến hành các hoạt động gián điệp, hàng hải hoặc tâm lý. Russell mong đợi sẽ tiếp quản một tổ chức hoạt động đầy đủ và cho rằng CIA (sẽ duy trì một đại diện trong ban tham mưu của SOG và đóng góp nhân sự cho tổ chức) sẽ giúp quân đội vượt qua mọi khó khăn ban đầu. Kỳ vọng và giả định của ông là không đúng. [ 5 ] Sự đóng góp của Nam Việt Nam đến dưới hình thức tổ chức đối tác của SOG (sử dụng rất nhiều tên gọi và cuối cùng được gọi là Ban Giám đốc Kỹ thuật Chiến lược [STD]).

Sau một khởi đầu chậm chạp và không chắc chắn, đơn vị đã bắt đầu hoạt động. Ban đầu, các hoạt động này bao gồm việc tiếp tục các cuộc xâm nhập của điệp viên CIA. Các nhóm tình nguyện viên Nam Việt Nam đã được thả dù xuống miền Bắc, nhưng hầu hết đều nhanh chóng bị bắt. Các hoạt động hàng hải chống lại bờ biển Bắc Việt Nam đã được tiếp tục sau khi Na Uy chuyển giao các Tàu tuần tra nhanh lớp "Nasty" cho đơn vị, nhưng các hoạt động này cũng không đạt được kỳ vọng. Vào ngày 21 tháng 9 năm 1965, Lầu Năm Góc đã cho phép MACV-SOG bắt đầu các hoạt động xuyên biên giới tại Lào ở các khu vực tiếp giáp với biên giới phía tây của Nam Việt Nam. [ 11 ] MACV đã tìm kiếm thẩm quyền để phát động các nhiệm vụ như vậy (Chiến dịch Shining Brass ) kể từ năm 1964 trong một nỗ lực đưa quân vào thực địa trong vai trò trinh sát để quan sát trực tiếp hệ thống hậu cần của đối phương được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh (Đường Trường Sơn đến Bắc Việt Nam). MACV, thông qua Không quân số 7 , đã bắt đầu thực hiện một cuộc ném bom chiến lược vào hệ thống hậu cần ở miền Nam Lào vào tháng 4 ( Chiến dịch Steel Tiger ) và đã nhận được sự cho phép phát động một nỗ lực trinh sát toàn Việt Nam (Chiến dịch Leaping Lena ) đã chứng minh là một thảm họa. [ 12 ] Quân đội Hoa Kỳ là cần thiết và SOG đã được bật đèn xanh.

Vào ngày 18 tháng 10 năm 1965, MACV-SOG đã tiến hành nhiệm vụ xuyên biên giới đầu tiên nhằm vào mục tiêu D-1, một trạm xe tải nghi ngờ trên Đường 165 của Lào, cách Lào 15 dặm (24 km). Nhóm gồm hai lính Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ và bốn lính Nam Việt Nam. Nhiệm vụ được coi là thành công với 88 phi vụ ném bom vào trạm cuối dẫn đến nhiều vụ nổ thứ cấp, nhưng cũng dẫn đến thương vong đầu tiên của SOG, Đại úy Lực lượng Đặc biệt Larry Thorne trong một vụ tai nạn trực thăng. [ 13 ] : 123–4 William H. Sullivan , Đại sứ Hoa Kỳ tại Lào , đã quyết tâm rằng ông sẽ vẫn kiểm soát các quyết định và hoạt động diễn ra trong vương quốc được cho là trung lập này.

Nội chiến Lào nổ ra liên tục giữa lực lượng cộng sản Pathet Lào (được quân đội Nhân dân Việt Nam (PAVN) hỗ trợ) và lực lượng vũ trang Hoàng gia Lào (được quân đội Hmong do CIA hậu thuẫn của Tướng Vang Pao và máy bay của Không quân Hoa Kỳ hỗ trợ) buộc cả hai bên phải giữ thái độ càng kín tiếng càng tốt. Hà Nội quan tâm đến Lào chỉ vì nhu cầu phải giữ hành lang tiếp tế của mình ở phía nam mở. Hoa Kỳ tham gia vì lý do ngược lại. Cả hai đều thường xuyên hoạt động bên trong Lào, nhưng cả hai đều cố gắng giữ cho hoạt động của mình không bị phát hiện do Lào được cho là trung lập theo Hiệp định quốc tế năm 1962 về tính trung lập của Lào - Đại sứ Sullivan có nhiệm vụ xoay xở củng cố chính phủ và quân đội Lào yếu kém, CIA và quân đội bí mật của họ, Không quân Hoa Kỳ và chiến dịch ném bom của họ, và bây giờ là các cuộc xâm nhập của các đội trinh sát do Hoa Kỳ chỉ huy của SOG. [ 14 ] Những hạn chế của ông đối với các hoạt động của SOG (độ sâu thâm nhập, lựa chọn mục tiêu, thời gian hoạt động) đã dẫn đến sự thù địch ngay lập tức và liên tục giữa đại sứ quán ở Viêng Chăn và chỉ huy cùng quân đội của SOG, những người đã nhanh chóng gọi Sullivan là "Thống chế". [ 15 ] Đại sứ đã đáp trả tương tự.

Bất chấp điều đó, MACV-SOG đã bắt đầu một loạt các hoạt động sẽ tiếp tục phát triển về quy mô và phạm vi trong tám năm tiếp theo. Các hoạt động của Lào ban đầu được điều hành bởi một trụ sở Chỉ huy và Kiểm soát (C&C) tại Đà Nẵng. Các nhóm, thường là ba người Mỹ và ba đến 12 lính đánh thuê bản địa, được đưa ra từ các Căn cứ Hoạt động Tiền phương (FOB) ở các khu vực biên giới (ban đầu là ở Khâm Đức , Kontum và Khe Sanh ). [ 16 ] Sau khi lập kế hoạch và đào tạo chuyên sâu, một nhóm đã được đưa qua biên giới bằng máy bay do Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ cung cấp (hoạt động trong khu vực Quân đoàn I ) hoặc bằng trực thăng H-34 Kingbee chuyên dụng của Không quân Việt Nam Cộng hòa (RVNAF) thuộc Phi đội 219, đơn vị này sẽ vẫn liên kết với MACV-SOG trong toàn bộ lịch sử của mình. [ 17 ] Nhiệm vụ của nhóm là thâm nhập vào khu vực mục tiêu, thu thập thông tin tình báo và không bị phát hiện càng lâu càng tốt. Liên lạc được duy trì với một máy bay kiểm soát không lưu phía trước (FAC), máy bay này sẽ liên lạc với các máy bay ném bom chiến đấu của Không quân Hoa Kỳ nếu cần thiết hoặc có cơ hội tấn công các mục tiêu có lợi nhuận. FAC cũng là đường dây liên lạc mà nhóm sẽ liên lạc với FOB của mình và qua đó nhóm có thể gọi để giải cứu nếu bị xâm phạm.

Đến cuối năm 1965, MACV-SOG đã tự tách ra thành các nhóm hoạt động được chỉ huy từ trụ sở Sài Gòn . [ 18 ] Những nhóm này bao gồm các Hoạt động Hàng hải (OPS-31), tiếp tục các cuộc tấn công quấy rối và hỗ trợ cho các hoạt động tâm lý (thông qua những ngư dân bị bắt cóc); Các Hoạt động Nhảy dù (OPS-34), tiếp tục đưa các đội điệp viên và vật tư vào miền Bắc; Các Hoạt động Tâm lý (OPS-33), tiếp tục các chương trình phát thanh "đen", thả tờ rơi và bộ quà tặng, và điều hành hoạt động tại Cù Lao Chàm; chương trình Shining Brass đã được sửa đổi ; và Các Hoạt động Không quân (OPS-32), hỗ trợ các hoạt động khác và cung cấp vận chuyển hàng không hậu cần. Việc huấn luyện cho các điệp viên Nam Việt Nam của SOG, các đội hành động hải quân và lính đánh thuê bản địa (thường là người Nùng hoặc người Thượng thuộc nhiều bộ tộc khác nhau) được tiến hành tại trung tâm huấn luyện Nhảy dù của ARVN (Trại Quyết Thắng) tại Long Thành , phía đông nam Biên Hòa . [ 13 ] : 118–20 Đào tạo cho nhân viên Hoa Kỳ được phân công vào các đội trinh sát (RT) được tiến hành tại Khâm Đức. Đại sứ Sullivan có nhiệm vụ xoay xở củng cố chính phủ và quân đội Lào yếu kém, CIA và quân đội bí mật của họ, Không quân Hoa Kỳ và chiến dịch ném bom của họ, và bây giờ là các cuộc xâm nhập của các đội trinh sát do Hoa Kỳ chỉ huy của SOG. [ 14 ] Những hạn chế của ông đối với các hoạt động của SOG (độ sâu thâm nhập, lựa chọn mục tiêu, thời gian hoạt động) đã dẫn đến sự thù địch ngay lập tức và liên tục giữa đại sứ quán ở Viêng Chăn và chỉ huy cùng quân đội của SOG, những người đã nhanh chóng gọi Sullivan là "Thống chế". [ 15 ] Đại sứ đã đáp trả tương tự.

Bất chấp điều đó, MACV-SOG đã bắt đầu một loạt các hoạt động sẽ tiếp tục phát triển về quy mô và phạm vi trong tám năm tiếp theo. Các hoạt động của Lào ban đầu được điều hành bởi một trụ sở Chỉ huy và Kiểm soát (C&C) tại Đà Nẵng. Các nhóm, thường là ba người Mỹ và ba đến 12 lính đánh thuê bản địa, được đưa ra từ các Căn cứ Hoạt động Tiền phương (FOB) ở các khu vực biên giới (ban đầu là ở Khâm Đức , Kontum và Khe Sanh ). [ 16 ] Sau khi lập kế hoạch và đào tạo chuyên sâu, một nhóm đã được đưa qua biên giới bằng máy bay do Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ cung cấp (hoạt động trong khu vực Quân đoàn I ) hoặc bằng trực thăng H-34 Kingbee chuyên dụng của Không quân Việt Nam Cộng hòa (RVNAF) thuộc Phi đội 219, đơn vị này sẽ vẫn liên kết với MACV-SOG trong toàn bộ lịch sử của mình. [ 17 ] Nhiệm vụ của nhóm là thâm nhập vào khu vực mục tiêu, thu thập thông tin tình báo và không bị phát hiện càng lâu càng tốt. Liên lạc được duy trì với một máy bay kiểm soát không lưu phía trước (FAC), máy bay này sẽ liên lạc với các máy bay ném bom chiến đấu của Không quân Hoa Kỳ nếu cần thiết hoặc có cơ hội tấn công các mục tiêu có lợi nhuận. FAC cũng là đường dây liên lạc mà nhóm sẽ liên lạc với FOB của mình và qua đó nhóm có thể gọi để giải cứu nếu bị xâm phạm.

Đến cuối năm 1965, MACV-SOG đã tự tách ra thành các nhóm hoạt động được chỉ huy từ trụ sở Sài Gòn . [ 18 ] Những nhóm này bao gồm các Hoạt động Hàng hải (OPS-31), tiếp tục các cuộc tấn công quấy rối và hỗ trợ cho các hoạt động tâm lý (thông qua những ngư dân bị bắt cóc); Các Hoạt động Nhảy dù (OPS-34), tiếp tục đưa các đội điệp viên và vật tư vào miền Bắc; Các Hoạt động Tâm lý (OPS-33), tiếp tục các chương trình phát thanh "đen", thả tờ rơi và bộ quà tặng, và điều hành hoạt động tại Cù Lao Chàm; chương trình Shining Brass đã được sửa đổi ; và Các Hoạt động Không quân (OPS-32), hỗ trợ các hoạt động khác và cung cấp vận chuyển hàng không hậu cần. Việc huấn luyện cho các điệp viên Nam Việt Nam của SOG, các đội hành động hải quân và lính đánh thuê bản địa (thường là người Nùng hoặc người Thượng thuộc nhiều bộ tộc khác nhau) được tiến hành tại trung tâm huấn luyện Nhảy dù của ARVN (Trại Quyết Thắng) tại Long Thành , phía đông nam Biên Hòa . [ 13 ] : 118–20 Đào tạo cho nhân viên Hoa Kỳ được phân công vào các đội trinh sát (RT) được tiến hành tại Khâm Đức.

Nhiệm vụ đầu tiên được triển khai vào tháng 9 và việc xây dựng một C&C mới tại Ban Mê Thuột , ở Tây Nguyên đã được bắt đầu . Các đội trinh sát (RT) được đưa vào Campuchia phải đối mặt với nhiều hạn chế hơn so với những đội ở Lào. Ban đầu, họ phải vượt biên giới bằng đường bộ, không có sự hỗ trợ trên không chiến thuật (cả trực thăng lẫn máy bay cánh cố định) và không được cung cấp phạm vi bảo vệ FAC. Các đội phải dựa vào khả năng tàng hình và thường có quy mô nhỏ hơn so với những đội hoạt động ở Lào. [ 21 ]

Daniel Boone không phải là sự bổ sung duy nhất cho quy mô và nhiệm vụ của SOG. Trong năm 1966, Trung tâm Phục hồi Nhân sự Liên hợp (JPRC) đã được thành lập. JPRC sẽ thu thập và phối hợp thông tin về tù binh chiến tranh, tù nhân trốn thoát và tù nhân trốn tránh, để triển khai các nhiệm vụ giải cứu tù nhân Hoa Kỳ và đồng minh, và tiến hành các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn (SAR) sau khi mọi nỗ lực khác đều thất bại. SOG cung cấp khả năng triển khai các nhiệm vụ giải cứu Brightlight ở bất kỳ nơi nào tại Đông Nam Á trong thời gian ngắn.

Nhóm tác chiến không quân đã được tăng cường vào tháng 9 năm 1966 bằng việc bổ sung thêm bốn máy bay MC-130E Combat Talon được cải tiến đặc biệt (được triển khai theo Combat Spear ), chính thức là Phi đội biệt kích không quân số 15 , bổ sung cho các máy bay C-123 ( Heavy Hook ) của Biệt đội bay đầu tiên đã được phân công cho SOG. Một nguồn hỗ trợ trên không khác đến từ trực thăng CH-3 Jolly Green Giant của D-Flight, Phi đội tác chiến đặc biệt số 20 (SOS số 20) (tên gọi là Pony Express ), đã đến Căn cứ Hải quân Hoàng gia Thái Lan Nakhon Phanom trong năm. Những chiếc trực thăng này đã được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động hỗ trợ các hoạt động bí mật của CIA tại Lào và là một sự hỗ trợ tự nhiên cho SOG ở khu vực Shining Brass . Khi các hoạt động trực thăng cuối cùng được phép thực hiện cho Daniel Boone , chúng được hỗ trợ tận tình bởi các trực thăng chiến đấu Huey và máy bay vận tải của SOS số 20 (tên gọi là Green Hornets ).

Các đội trinh sát MACV-SOG cũng được tăng cường bằng cách thành lập các lực lượng khai thác, có thể hỗ trợ các đội khi cần thiết hoặc tự mình tiến hành các cuộc đột kích vào đường mòn. Họ bao gồm hai (sau này là ba) tiểu đoàn Haymaker (chưa bao giờ được sử dụng) được chia thành các lực lượng "Hatchet" cỡ đại đội, sau đó được chia thành các trung đội "Hornet". Các chỉ huy và hạ sĩ quan của các lực lượng này là nhân viên Hoa Kỳ, thường được phân công làm nhiệm vụ tạm thời trong các đội "Snakebite" từ Nhóm Lực lượng Đặc biệt số 1 ở Okinawa .

Đến năm 1967, MACV-SOG cũng được giao nhiệm vụ hỗ trợ phần Muscle Shoals mới của hệ thống rào chắn điện tử và vật lý đang được xây dựng dọc theo Khu phi quân sự (DMZ) tại Quân đoàn I. Các đội trinh sát SOG được giao nhiệm vụ trinh sát và lắp đặt bằng tay các cảm biến điện tử ở cả phía tây DMZ ( Thép Niken ) và phía đông nam Lào Do tiết lộ tên gọi Shining Brass trong một bài báo của Hoa Kỳ, SOG đã quyết định rằng cần phải có các tên gọi mới cho tất cả các thành phần hoạt động của mình. Nỗ lực xuyên biên giới Lào được đổi tên thành Prairie Fire và được kết hợp với Daniel Boone trong Nhóm nghiên cứu thực địa mới thành lập (OPS-35). Tất cả các hoạt động được tiến hành chống lại Bắc Việt Nam hiện được chỉ định là Footboy . Những hoạt động này bao gồm các nhiệm vụ hàng hải Plowman , các hoạt động tâm lý Humidor , các hoạt động của điệp viên Timberwork và các nhiệm vụ trên không Midriff .

Không bao giờ hài lòng với các hoạt động điệp viên dài hạn của mình ở Bắc Việt Nam, SOG quyết định khởi xướng một chương trình mới có các nhiệm vụ ngắn hơn, được tiến hành gần Nam Việt Nam hơn và được thực hiện bởi các nhóm nhỏ hơn. Mọi nỗ lực sẽ được thực hiện để đưa các nhóm trở về khi nhiệm vụ của họ hoàn thành. Đây là nguồn gốc của STRATA, các đội Tuần tra đường bộ ngắn hạn và Thu thập mục tiêu toàn người Việt Nam. Sau một khởi đầu chậm chạp ban đầu, nhóm điệp viên đầu tiên đã được đưa trở về từ miền Bắc. Các nhiệm vụ tiếp theo gặp nhiều khó khăn, nhưng sau khi được đào tạo thêm, hiệu suất của nhóm đã được cải thiện đáng kể. [ 23 ]

Vào ngày 2 tháng 6 năm 1967, SOG đã phát động một chiến dịch chống lại Oscar Eight , một khu vực căn cứ của PAVN nằm cách Căn cứ Chiến đấu Khe Sanh khoảng 11 dặm (18 km) về phía nam-tây nam (16,32°B 106,678°Đ), được cho là có một sở chỉ huy quân đội dã chiến của PAVN. Khu vực mục tiêu bị chín chiếc B-52 tấn công gây ra nhiều vụ nổ thứ cấp, nhưng một người quan sát trên không có thể nhìn thấy quân đội PAVN trong khu vực ngay sau đó. Một Lực lượng Hatchet sau đó đã được chín chiếc H-34 Kingbees và năm chiếc CH-46 của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (USMC) từ HMM-165 đổ bộ. Lực lượng Hatchet đã sớm bị ghim chặt trong các hố bom và các máy bay hỗ trợ trên không tầm gần đã được gọi đến. Một chiếc A-1 Skyraider bị trúng hỏa lực phòng không và va chạm với một chiếc A-1 khác bị mất đuôi và rơi xuống đất, giết chết phi công của nó, Trung tá Lewis M. Robinson. Cuộc giao tranh tiếp tục diễn ra suốt đêm và sáng hôm sau, người ta quyết định rút lực lượng ra. Trong quá trình giải cứu, hai trực thăng chiến đấu UH-1E của USMC từ VMO-3 đã bị bắn hạ cùng với một chiếc Kingbee. Một chiếc CH-46 đã thành công trong việc giải cứu một phần lực lượng, sau đó một chiếc F-4 Phantom của Không quân Hoa Kỳ đã bị bắn hạ. Một chiếc CH-46 khác đến và giải cứu thêm lực lượng, nhưng nó bị hỏa lực phòng không bắn trúng và rơi từ độ cao 100 feet (30 m). Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nổ súng vào những người sống sót trong đống đổ nát, giết chết nhiều người trong số họ. Một trong những người sống sót, Trung sĩ nhất Charles Wilklow đã bị kéo vào một bãi đất trống được bao phủ bởi súng máy của Quân đội Nhân dân Việt Nam để làm mồi nhử thu hút một nhiệm vụ giải cứu của Hoa Kỳ. Sau bốn ngày, Wilklow trốn thoát vào rừng, được một máy bay trinh sát phát hiện và sau đó được một chiếc Kingbee cứu. Cuộc đột kích đã khiến 7 người Hoa Kỳ thiệt mạng và mất tích, chỉ có một người mất tích, Hạ sĩ Thủy quân Lục chiến Frank Cius, được thả vào ngày 5 tháng 3 năm 1973 như một phần của Chiến dịch Homecoming . Hơn 40 người Nùng cũng đã thiệt mạng hoặc mất tích Trên thực tế, đối với MACV-SOG, vấn đề này không có ý nghĩa gì. Tổ chức này nghi ngờ rằng Chiến dịch Timberwork đã bị các điệp viên dịch chuyển Bắc Việt xâm nhập . [ 28 ] Thông tin tình báo từ các nhóm điệp viên miền Bắc không mấy khả quan và hơn ba phần tư số điệp viên được đưa vào đã bị bắt trong hoặc không lâu sau khi được đưa vào. Thực tế là SOG đã tuân theo công thức thất bại của CIA trong ba năm không được coi là một yếu tố góp phần. Đơn vị này quan tâm nhiều hơn đến việc Washington liên tục bác bỏ một trong những mục tiêu ban đầu của chiến dịch: thành lập một phong trào kháng chiến của các thành phần bất đồng chính kiến tiềm tàng ở Bắc Việt Nam. [ 29 ] Mục tiêu được Washington tuyên bố trong cuộc xung đột là một miền Nam Việt Nam tự do và khả thi, chứ không phải là lật đổ chế độ Hà Nội. Câu đố là điều gì sẽ xảy ra nếu chương trình thành công. Kết quả khả thi nhất sẽ là sự lặp lại của cuộc cách mạng Hungary bất hạnh năm 1956 , bị Liên Xô đè bẹp và Hoa Kỳ không thể làm gì được.

Một số nhà văn Mỹ viết về chủ đề này (bao gồm nhiều cựu nhân viên SOG) đổ lỗi cho sự thất bại của các hoạt động này là do gián điệp địch xâm nhập đơn vị – một tuyên bố không hoàn toàn không có cơ sở thực tế. Tuy nhiên, những người khác đổ lỗi nhiều hơn cho sự bất lực trong hoạt động của SOG, đơn giản là tiếp tục lặp lại một công thức đã thất bại. Những thay đổi đối với chương trình xâm nhập (dưới hình thức Chiến dịch Forae đánh lạc hướng ), được thúc đẩy bởi sự nghi ngờ tại sở chỉ huy, chỉ diễn ra vào năm 1967. [ 30 ]

Bộ máy an ninh của Bắc Việt Nam đã có nhiều thập kỷ để học cách đối phó không chỉ với chương trình của CIA mà còn với các hoạt động bí mật và phi truyền thống của những người tiền nhiệm người Pháp. CIA đã miễn cưỡng tiến hành các hoạt động như vậy ở miền Bắc, vì các hoạt động tương tự ở Liên Xô, Đông Âu và Trung Quốc đã thất bại thảm hại và Bắc Việt Nam được coi là mục tiêu thậm chí còn khó xâm nhập hơn. [ 31 ] [ 32 ]

Lực lượng an ninh Bắc Việt chỉ đơn giản là bắt một nhóm, giao người điều khiển vô tuyến điện của nhóm đó, và tiếp tục phát sóng như thể không có chuyện gì xảy ra. Nguồn cung cấp và quân tiếp viện đã được yêu cầu, thả dù xuống vị trí của nhóm yêu cầu, và cũng bị bắt. Trong giai đoạn 1960–1968, cả CIA và MACV-SOG đều đã cử 456 điệp viên Nam Việt Nam đến chỗ chết hoặc bị giam giữ lâu dài trong các nhà tù phía bắc. [ 33 ] Hà Nội tiếp tục quá trình này năm này qua năm khác, học các phương pháp hoạt động của SOG và uốn nắn chúng theo mục đích của mình. Cuối cùng, họ đã thực hiện một trong những hoạt động phản gián thành công nhất của thời kỳ hậu Thế chiến thứ hai . Với việc giảm phát các hoạt động ở phía bắc (mặc dù JCS yêu cầu SOG giữ lại khả năng tái khởi động chúng), SOG tập trung nỗ lực vào việc hỗ trợ Commando Hunt , chiến dịch chống xâm nhập của Không quân số 7/13 tại Lào. Đến năm 1969, Nhóm nghiên cứu thực địa đã điều hành các hoạt động của mình từ các C&C tại Đà Nẵng cho các hoạt động ở đông nam Lào và tại Ban Mê Thuột cho các hoạt động tại Campuchia. Năm đó, họ được một C&C mới tại Kontum tham gia, để thực hiện các hoạt động được triển khai vào khu vực tam giác biên giới của Prairie Fire và khu vực phía bắc của Daniel Boone , được đổi tên thành Salem House vào năm đó. Mỗi C&C hiện đang triển khai lực lượng cấp tiểu đoàn và số lượng nhiệm vụ tăng lên tương ứng.

Bộ Tư lệnh và Kiểm soát Bắc (CCN) tại Đà Nẵng, do một trung tá chỉ huy, đã sử dụng 60 đội trinh sát và hai tiểu đoàn khai thác (bốn đại đội gồm ba trung đội). Bộ Tư lệnh và Kiểm soát Trung tâm (CCC) tại Kontum, cũng do một trung tá chỉ huy, đã sử dụng 30 đội và một tiểu đoàn khai thác. Trong năm 1969, 404 nhiệm vụ trinh sát và 48 hoạt động của lực lượng khai thác đã được tiến hành tại Lào. [ 35 ] Để đưa ra một ví dụ về chi phí của các hoạt động như vậy, trong năm đó, 20 người Mỹ đã thiệt mạng, 199 người bị thương và chín người mất tích trong khu vực Prairie Fire . Thương vong trong số các Đơn vị Biệt kích Đặc biệt (SCU - phát âm là Sues), như tên gọi của lính đánh thuê bản địa, là: 57 người thiệt mạng, 270 người bị thương và 31 người mất tích. [ 36 ] Bộ Tư lệnh và Kiểm soát Nam (CCS) tại Ban Mê Thuột, cũng do một trung tá chỉ huy, bao gồm 30 đội và một tiểu đoàn khai thác. Vì việc sử dụng lực lượng khai thác bị cấm ở Campuchia, những đội quân này được sử dụng để bảo vệ các địa điểm phóng, cung cấp an ninh cho cơ sở và thực hiện các nhiệm vụ trong nước. Trong năm, 454 hoạt động trinh sát đã được tiến hành ở Campuchia. [ 37 ] Các đội được đưa vào hoạt động bằng trực thăng RVNAF H-34 Kingbees và các đơn vị hàng không của Lục quân Hoa Kỳ trong khu vực Prairie Fire , và bằng trực thăng USAF của SOS 20 trong khu vực Salem House . Đến cuối năm 1969, SOG được phép có 394 nhân sự Hoa Kỳ, nhưng sẽ hữu ích khi so sánh những con số đó với sức mạnh thực tế của các yếu tố hoạt động. Có 1.041 Lục quân, 476 USAF, 17 USMC và bảy nhân sự CIA được phân công vào các đơn vị đó. Họ được hỗ trợ bởi 3.068 SCU và 5.402 nhân viên dân sự Nam Việt Nam và nước thứ ba, dẫn đến tổng cộng 10.210 nhân viên quân sự và dân sự được phân công hoặc làm việc cho MACV-SOG. [ 38 ]

Nhiệm vụ của Nhóm nghiên cứu mặt đất là hỗ trợ Chiến dịch Commando Hunt do cảm biến điều khiển , chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng của hoạt động ném bom Đường mòn Hồ Chí Minh. Điều này trở nên khả thi nhờ việc kết thúc Chiến dịch Sấm rền , giải phóng hàng trăm máy bay cho các nhiệm vụ ngăn chặn. Thông tin tình báo cho chiến dịch được cung cấp bởi cả các đội trinh sát của MACV-SOG và các chuỗi cảm biến điện tử thả từ trên không của Chiến dịch Igloo White (chiến dịch kế thừa của Muscle Shoals ), được kiểm soát từ Nakhon Phanom. Năm 1969 chứng kiến đỉnh cao của chiến dịch ném bom, khi 433.000 tấn bom được thả xuống Lào. [ 39 ] SOG hỗ trợ nỗ lực này bằng các nhiệm vụ trinh sát mặt đất, bố trí cảm biến, nghe lén và đánh giá thiệt hại do bom . Việc chấm dứt ném bom miền Bắc cũng giải phóng Bắc Việt Nam để tăng cường phòng thủ phòng không của hệ thống đường mòn và tổn thất máy bay tăng theo tỷ lệ thuận.

Đến năm 1969, Bắc Việt cũng đã xây dựng học thuyết và kỹ thuật của họ để đối phó với các đội trinh sát. Ban đầu, PAVN đã bị bất ngờ và buộc phải phản ứng theo bất kỳ cách thức ngẫu nhiên nào mà các chỉ huy địa phương có thể tổ chức. Tuy nhiên, ngay sau đó, một hệ thống cảnh báo sớm đã được tạo ra bằng cách bố trí các đơn vị quan sát trên không được trang bị vô tuyến trong các đường bay giữa các địa điểm phóng và Khu vực căn cứ. Trong Khu vực căn cứ, các cảnh sát được bố trí trên cây và bệ để theo dõi các khu vực có khả năng hạ cánh trong khi các con đường và đường mòn thường xuyên được lực lượng an ninh quét sạch. PAVN cũng bắt đầu tổ chức và phát triển các đơn vị chuyên biệt sẽ vừa chỉ huy vừa cố định các đội để có thể tiêu diệt chúng. Đến năm 1970, họ đã tạo ra một hệ thống nhiều lớp và hiệu quả, và các đội trinh sát SOG thấy thời gian của họ trên mặt đất vừa bị rút ngắn vừa nguy hiểm hơn. Việc tấn công hoặc tiêu diệt toàn bộ các đội bắt đầu trở thành một sự kiện thường xuyên hơn. [ bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến SOG vào năm 1971. Đến đầu năm 1972, quân nhân Hoa Kỳ bị cấm tiến hành các hoạt động ở Lào hoặc Campuchia, các nhóm lính đánh thuê SCU của họ vẫn tiếp tục các hoạt động đó (ở các khu vực Phu Dung / Prairie Fire và Thot Not / Salem House mới đổi tên ). Tuy nhiên, tổ chức này vẫn duy trì được sức mạnh của mình trong lực lượng quân nhân Hoa Kỳ, những người tiếp tục tiến hành các nhiệm vụ trong nước. Họ cũng liên tục được JCS giao nhiệm vụ duy trì lực lượng sẵn sàng để một lần nữa tiếp quản các hoạt động ở phía bắc nếu được yêu cầu.
Cuộc tấn công Phục sinh , do PAVN phát động vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, đã khiến các hoạt động xuyên biên giới trở nên không liên quan. Cũng như Tết, mọi nỗ lực của MACV-SOG/STD đều tập trung vào các nhiệm vụ trong nước để hỗ trợ Lực lượng Dã chiến.

Vào cuối tháng 3 năm 1971, khi Nhóm Lực lượng Đặc biệt số 5 được tái triển khai đến Hoa Kỳ, các thành phần Chỉ huy và Kiểm soát được đổi tên thành Các thành phần Cố vấn Lực lượng Đặc nhiệm (TF1AE, TF2AE và TF3AE). Ban đầu, mỗi đơn vị bao gồm 244 nhân viên Hoa Kỳ và 780 nhân viên bản địa, nhưng họ đã nhanh chóng bị rút lui do lực lượng khai thác bị loại bỏ. [ 51 ] Đối với SOG, Việt Nam hóa cuối cùng đã gần kề. Vào ngày 1 tháng 5 năm 1972, đơn vị bị cắt giảm quân số và được đổi tên thành Đội hỗ trợ Ban kỹ thuật chiến lược 158 (STDAT-158). [ 52 ] Nhóm nghiên cứu mặt đất đã bị giải thể và được thay thế bằng các Đội cố vấn dịch vụ liên lạc. Các thành phần không quân của SOG đã ngừng hoạt động để tái triển khai, JPRC được chuyển giao cho MACV và được đổi tên thành Trung tâm giải quyết thương vong chung, trong khi nhân sự và các cơ sở hoạt động tâm lý được chuyển giao cho STD hoặc JUSPAO . [ 53 ] Thương vong cuối cùng của các hoạt động trên bộ của SOG xảy ra vào ngày 11 tháng 10 năm 1971 khi Trung sĩ nhất Audley D. Mills thiệt mạng khi một chiếc bẫy mà anh ta đang cố gắng tháo gỡ phát nổ.

Chức năng của STDAT-158 là hỗ trợ STD tiếp quản hoàn toàn các hoạt động của SOG. [ 54 ] Các yếu tố hoạt động đã được tiếp thu và được mở rộng bằng cách đưa vào các binh lính từ Lực lượng đặc biệt Nam Việt Nam hiện đã giải thể. Nhiệm vụ của nhân viên Hoa Kỳ là cung cấp hỗ trợ kỹ thuật (về hậu cần, thông tin liên lạc, v.v.) và tư vấn cho STD. [ 55 ] Đơn vị này đã làm như vậy cho đến khi giải thể vào ngày 12 tháng 3 năm 1973. [ 56 ] Bộ Tổng tham mưu Liên quân Nam Việt Nam , đang thiếu tiền mặt và thiết bị trong giai đoạn ngừng hoạt động cuối cùng, chưa bao giờ sử dụng STD trong vai trò trinh sát chiến lược. Thay vào đó, các đơn vị của STD đã được triển khai trong các nhiệm vụ trong nước cho đến khi tổ chức mẹ của họ giải thể vào tháng 3 năm 1973.

Vào tháng 1 năm 1973, Tổng thống Nixon đã ra lệnh dừng mọi hoạt động chiến đấu của Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam và vào ngày 27 cùng tháng, Hiệp định Hòa bình Paris đã được các cường quốc tham chiến ký kết tại Paris. Vào ngày 21 tháng 2, một hiệp định tương tự đã được ký kết tại Lào, chấm dứt việc ném bom quốc gia này và thiết lập lệnh ngừng bắn. Vào ngày 29, MACV bị giải thể và quân đội Hoa Kỳ còn lại bắt đầu rời khỏi miền Nam. Vào ngày 14 tháng 8, Không quân Hoa Kỳ đã ngừng ném bom Campuchia, chấm dứt mọi hành động quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á.
Buddy Up - Người trong cuộc
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom