- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 3,876
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Cuộc giải cứu phi hành đoàn của Hoa Kỳ đắt giá nhất và đẩm máu nhất chiến trường Việt Nam
Ngày 2 tháng 4 năm 1972, 2 chiếc EB-66 với phiên hiệu 21 và 22 được lệnh áp tải 3 chiếc máy bay B-52 tấn công quân Giải Phóng tại khu vực Đèo Mụ Giạ – Ban Karai Pass, Hambleton thuộc phi hành đoàn của chiếc EB-66 phiên hiệu 21 – số hiệu 54-0466. Khi đến khu vực Quảng Trị, tốp máy bay chạm phải lưới phòng không dày đặc của quân Giải Phóng. Quân Giải Phóng phóng lên 2 quả tên lửa SAM-2 nhưng 2 chiếc EB-66 đã né được. Quân Giải Phóng chỉnh lại Radar SNR-75 của tên lửa và phóng tiếp loạn tên lửa thứ 2 nhắm vào chiếc EB-66 số 21. Loạt đạn đầu được phóng từ phía Bắc nên chiếc EB-66 làm động tác bổ nhào về phía Nam nhưng loạt bắn tên lửa này lại từ phía Nam và chiếc 21 không tránh kịp. Sĩ quan phụ trách điện tử la to “Không được !” và viên phi công cố kéo chiếc máy bay vượt lên nhưng không kịp và quả tên lửa phát nổ phía dưới máy bay ở độ cao 8.000m.
Hambleton có mật danh trong chuyến bay là Bat 21 Bravo đang ngồi phía sau phi công đã báo hiệu tất cả phi hành đoàn nhảy dù và ông lập tức bật ghế nhảy dù vọt ra ngoài. Ngay lúc đó, chiếc Bat 21 lại trúng tiếp quả tên lửa và nổ tung. 5 nhân viên còn lại của phi hành đoàn 6 người bao gồm : phi công là thiếu tá Wayne L. Bolte, ; phi công phụ là thiếu úy Robin F. Gatwood; sĩ quan điện tử : trung tá Anthony R. Giannangeli, trung tá Charles A. Levis, thiếu tá Henry M. Serex đều sau đó mất tích và đến nay vẫn chưa được tìm thấy.
Quân đội Mỹ bất chấp thiệt hại để tổ chức chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo – Rescue of Bat 21 Bravo để cứu trung tá Gene Hambleton vì nếu ông bị bắt, sẽ là tổn thất cực kỳ to lớn về tình báo ( bởi vì tay này chuyên gia về diệt Sam)
Trung tá Gene Hambleton đã được đào tạo phương thức tồn tại trong hoàn cảnh thiếu nước uống, cách thức lẫn trốn và đào thoát từ trường đào tạo rừng nhiệt đới ở Philippine. Hiện ông bị thương nhiều chổ do mảnh văng của máy bay nổ, chấn thương 4 đốt sống lưng và gãy 1 ngón tay
Trước khi Hambleton bị bắn rơi, 1 chiếc 0-2 cùa thiếu úy Richard Abbot bị bắn rơi và 2 chiếc Douglas A-1 Skyraiders của đại úy Don Morse trên chiếc A-1 mã hiệu Sandy 01 và chiếc A-1 còn lại là Sandy 02 được lệnh đến ứng cứu. Richard Abbot nhảy dù rơi ra ngoài biển và được chiếc tàu Uss Hammer giải cứu. Lúc này 2 chiếc A-1 Don Morse chuyển sang giải cứu Hambleton. Cứ nghĩ rằng máy bay của Hambleton rơi ở phía Nam nên sẽ an toàn nhưng Don Morse đã shock khi thấy hỏa lực phòng không bắn lên dày đặc. Do Morse mô tả : “Mức độ của hỏa lực phòng không giống như đang chung quanh Hà Nội”
Morse gọi chi viện và 1 chiếc UH-1 (Blue Ghost 39) của thiếu úy Byron Kulland và đại úy Thomas White – sĩ quan hành quân của căn cứ đặt tại Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng đang đi thám sát gần đó. White quay về căn cứ và chỉ thị Kulland tiến lên phía Bắc để ứng cứu cùng với 2 chiếc trực thăng Gunship Cobra là Blue Ghost 24, Blue Ghost 28 của trung úy Rosebeary và 1 chiếc UH-1 Huey (Blue Ghost 30). Khi 4 chiếc đến gần nơi Hambleton thì đều bị bắn lên dữ dội. Chiếc Blue Ghost 39 của Kulland bị bắn hỏng và phải đáp xuống phía Đông cách Hambleton khoảng 7km. Xạ thủ Jose Astorga là người duy nhất không bị thương, thoát được ra ngoài nhưng không kéo được những người khác đang bị thương nặng và mắc kẹt bên trong. Quân Giải Phóng áp đến và bắn liên tiếp và trực thăng phát nổ. Jose Astorga bị bắt giữ còn các thành viên phi hành đoàn còn lại là thiếu úy Byron Kulland, John Frink, Ronald Paschall đều tử trận. Chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo – Rescue of Bat 21 Bravo đang có quá nhiều tổn thất.
Chiếc Blue Ghost 28 của trung úy Rosebeary cũng trúng đạn và phải đáp xuống, anh cùng toán phi hành đoàn được chiếc HH-35C (Jolly Green 67) giải cứu an toàn. 2 chiếc A-1 của Morse cảm thấy không thể làm gì hơn nên quay về Đà Nẵng, cả 2 chiếc đều bị trúng đạn hư hỏng nặng
Lúc này là 21:00, chiếc OV-10A Bronco mã hiệu Nail 59 đến đảm nhiệm chỉ huy tiền tuyến – FAC, quân đội Mỹ vẫn không nắm rõ được tình thế ở khu vực và lực lượng quân Giải Phóng đang ở gần đó. Suốt đêm, chiếc Nail 59 cùng 1 chiếc HC-130 mã hiệu King 27 của Dennis Constant liên tục quần thảo bên trên để yểm trợ Hambleton lúc này đã đào 1 chiếc hang để lẩn trốn. Chiếc King 27 phát hiện bị Radar của tên lửa SAM-2 đang bám mục tiêu và lẩn tránh ra xa trước khi bị trúng tên lửa.
Toàn bộ chiến dịch giải cứu đều đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá Cecil Muirhead. Muirhead ra lệnh cho các máy bay FAC liên tục theo sát bên trên và chỉ đạo các máy bay khác oanh kích chung quanh để yểm trợ Hambleton. Muirhead cũng ra lệnh cho Không Lực 7 lập bán kính 27km chung quanh Hambleton để tránh các cuộc pháo kích nhầm lẫn.
Ngày 3 tháng 4, 1 nhóm giải cứu bao gồm 2 chiếc trực thăng HC-35C (phiên hiệu Jolly Green 65 và 66) cùng 4 chiếc A-1 Skyraider (Sandy 04, 05, 06, 07) từ Đoàn giải cứu số 37 tại Nakhon Phanom, Thailand được cử đến. Khu vực của Hambleton đang dưới sự chỉ huy của chiếc OV-10A FAC (Nail 25) của đại úy Rocky Smith và đại úy Rick Atchison. 2 người này đang chỉ huy cuộc ném bom của những chiếc F-4 thả những quả bom chùm chung quanh khu vực Hambleton. Chiếc Nail 25 hết nhiên liệu và rút đi, nhường vị trí lại cho chiếc Nail 38 của đại úy William J. Henderson và thiếu úy Mark Clark.
Lúc này, quân Giải Phóng đã bắt được sóng vô tuyến điện của quân Mỹ và quyết định dùng Hambleton như là mồi nhử. Họ bố trí dày đặc các dàn pháo phòng không và tên lửa SAM chung quanh. 1 phi công thuật lại :
“Quân Giải Phóng dùng tên lửa SAM để ép chúng tôi bay thấp để tránh tên lửa và lọt vào lưới phòng không tầm thấp."
Đại úy Henderson trên chiếc Nail 38 chỉ đạo chiếc Jolly Green 65 của trung úy Jay Crowe tiến vào giải cứu nhưng lập tức chiếc Jolly Green 65 lập tức bị đạn bắn lên dữ dội và hỏng bàn điều khiển. Crowe cố gắng thoát ra ngoài và trong tình trạng què quặt phải bay bằng mắt thường đã đáp được xuống Phú Bài. Chiếc Jolly Green 66 của trung tá Bill Harris ở phía sau hạ độ cao và khi bay vào gặp phải 10 chiếc xe tăng của quân Giải Phóng đang giương súng bắn dữ dội. Harris cố đáp trả bằng những khẩu mini gun GAU-2/A 7.62 mm và thoát được ra ngoài. Chiếc Jolly Green 67 cũng bị hỏng nặng.
Chiếc Nail 38 phải liên tục quần thảo để chỉ huy và bị trúng đạn và rơi xuống đất, Henderson trốn trong bụi tre và sau đó bị bắt. Clark nhảy dù và lẩn trốn. Sau đó đến lượt 1 chiếc UH-1 nữa với phi hành đoàn 4 người bị bắn rơi.
Ngày 4 tháng 4, 10 chiếc A-1 Skyraider đến dội bom để áp chế các khẩu pháo phòng không, cả 10 chiếc đều bị bắn hỏng trong đó có 2 chiếc bị hư trầm trọng. Lúc chiều tối, 2 chiếc máy bay F-4 của thiếu tá Jimmy D. Kempton lẻn vào khu vực và thả 4 quả bom chung quanh Hambleton
Ngày 5 tháng 4, thời tiết trở nên xấu và ngăn cản hoạt động của quân Mỹ.
Ngày 6 tháng 4, lúc 15:15, đợt giải cứu thứ 3 bao gồm 4 chiếc Skyradier (Sandy 01,02,05,06) và 2 chiếc HH-35C ( Jolly Green 67, 60) của phi đội giải cứu số 37 – 37th Air Rescue Squadron tiến vào, 4 chiếc B-52 cũng dội bom chung quanh Cam Lộ. quân Giải phóng đã phóng lên 60 quả tên lửa SAM để ngăn chận. Chiếc Jolly Green 66 của đại úy Peter Chapman tiến vào và 2 chiếc Sandy 01, 02 mang theo bom Phosphore để tạo khói trắng che chắn. Hỏa lực phòng không vẫn bắn lên ác liệt. Chiếc Jolly Green 67 bị trúng đạn què quặt phải thoát ra ngoài bay về hướng Đông Nam, đuôi máy bay bị vỡ ra và mắc kẹt vào động cơ, chiếc máy bay rơi xuống đất và bốc cháy, không có nhân viên phi hành đoàn nào thoát được.
Danh sách tử nạn bao gồm : phi công là đại úy Peter Hayden Chapman II, phi công phụ : đại úy John Henry Call III, trung sĩ kỹ thuật William Roy Pearson,, trung sĩ cứu nạn Allen J. Avery, trung sĩ chỉ huy đoàn bay : Roy D. Prater, phóng viên chiến trường James Harold Alley.
Lúc này, tinh thần của Hambleton và Clark xuống thấp vì nhận ra đã có 6 người tử nạn khi giải cứu họ. Trưởng toán cứu nạn là đại úy Fred Boli trên chiếc Sandy 01 thấy tình thế quá nguy hiểm nên ra lệnh hoãn cuộc giải cứu và rút về phía Nam. Quân Giải Phóng tăng cường tìm kiếm Hambleton và nhiều lần, các toán quân Giải Phóng chỉ cách vị trí Hambleton lẩn trốn chỉ trong tầm 6-7m.
Trong chiến dịch Bat 21 Bravo, toàn bộ các phi công tham gia giải cứu đều bị shock trước sự tập trung lượng lớn các khẩu pháo phòng lẫn pháo mặt đất và một lượng cực lớn các dàn phóng tên lửa SAM-2. Ngoài các khẩu pháo cao xạ 23mm, 37mm, 57mm, … các phi công còn đối mặt các khẩu pháo cao xạ 57mm được điều khiển bằng Radar và lượng lớn các tên lửa SAM-2. Các phi công Mỹ còn lần đầu tiên đối mặt các khẩu tên lửa vác vai SA-7 Grail do Liên Xô viện trợ với đầu đạn tầm nhiệt.
Trong chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo – Rescue of Bat 21 Bravo , các phi công Mỹ đều shock khi đối mặt lượng lớn các khẩu pháo cao xạ và tên lửa SAM-2 chưa từng có trong chiến tranh Việt Nam.
Chỉ huy trưởng phi đội trực thăng là trung tá Bill Harris báo cáo với đại tá rằng Muirhead rằng lượng lớn quân đội Giải Phóng và mạng lưới phòng không quá dày đặc khiến không thể giải cứu Hambleton và phải tìm cách khác.
Lúc này Hambleton được báo giữ nguyên vị trí, ông đang có 2 điện đài cứu hộ, 1 bộ thuốc y tế khẩn cấp, pháo sáng, dao, 1 khẩu súng ngắn, 1 bi đông nước nhưng không có lương thực.
Ngày 7 tháng 4, trung úy Bruce C. Walker và trung úy tiền sát pháo binh Thùy Quân Lục Chiến Larry F. Potts bay trên chiếc USAF OV-10A (Covey 282). Potts liên lạc và hướng dẫn chiếc USS Buchanan (DDG-14) pháo kích ngăn chận các xe tăng quân Giải Phóng. Lúc 11:05, chiếc Covey 282 bị trúng tên lửa SAM-2 và rơi cách QL 1 5km về hướng tây và cách đường 9 7km về hướng Bắc. Cả 2 đều nhảy dù an toàn nhưng khu vực họ nhảy dù đang bị quân Giải Phóng chiếm đóng và lùng sục.
Lúc này Clark trốn phía Nam sông Miêu Giang, vị trí của Walker cách Hambleton 7km về hướng Bắc. Tháng 1 năm 1992, đội Tìm Kiếm hỗn hợp Việt Mỹ khi tìm kiếm ở Bảo Tàng Quân Sự Hà Nội đã phát hiện thẻ căn cước của Bruce Walker. Thông tin của Potts thì đến nay vẫn bặt vô âm tín. Chỉ biết rằng Potts sau đó bị bắt và chết trong nhà tù ở Quảng Bình.
Sau 5 ngày của chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo, đã có 5 máy bay bị bắn rơi, 16 chiếc bị bắn hỏng, 10 người bị chết hoặc mất tích, 2 người bị bắt và 2 người đang chờ giải cứu.
Ngày 8 tháng 4, Tướng Creighton Abrams được báo cáo tình hình. Tướng Abrams ra lệnh không tổ chức bất kỳ cuộc giải cứu từ đường không nào nhưng phải làm mọi cách để cứu Hambleton để đảm bảo các thông tin tối mật về tên lửa và kỹ thuật tác chiến điện tử.
Đại tá Al Gray của Thủy Quân Lục Chiến đề nghị 1 cuộc giải cứu trên bộ, và trung tá Andy Anderson chỉ huy trung tâm biệt kích MACVSOG được lệnh tổ chức cuộc giải cứu. Lúc này ở Sài Gòn đang có trung úy Thomas R. Norris là 1 trong 3 người chỉ huy và 9 thành viên thuộc nhóm biệt kích hải quân SEAL . Nhóm của Norris vừa thực hiện cuộc tuần thám ở sông Mekong, Norris lập tức nhận lệnh và triệu tập thêm 5 người thuộc nhóm Biệt Hải Hải Quân của đội người nhái Hải Quân ở Đà nẵng.
Chuẩn tướng Vũ Văn Giai cấp cho Anderson 1 trung đội Biệt Động Quân và 3 chiếc xe tăng M-48 để tiến quân dọc theo đường 9 trong tầm quan sát từ cầu Cam Lộ nhưng tướng Giai cho rằng chiến dịch giải cứu là vô ích và tuyên bố ông không chịu bất kỳ trách nhiệm nào về việc này.
Ám hiệu trong chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo từ mặt đất – Ad hoc code in Rescue of Bat 21 Bravo. Cho rằng quân Giải Phóng đang theo dõi tầng vô tuyến, máy bay chỉ huy FAC đã liên lạc với Clark bằng câu : “Get to the Snake, make like Esther Williams and float to Boston” theo nghĩa đen là : “Theo con rắn, làm giống như Esther Williams và trôi đến Boston” . Esther Williams vốn là diễn viên bơi lội. Ám chỉ “đến bờ sông, bơi qua bờ sông phía Đông”.
Còn với Hambleton, nhiệm vụ khó hơn nhiều do vị trí của ông nằm sâu về hướng Tây và phải lẻn đi qua nhiều ngôi làng để đến bờ sông. Đội cứu hộ vốn biết Hambleton rất giỏi chơi Golf nên liên lạc bằng câu ám hiệu : “Bạn đang chơi Golf 18 lổ, bạn hãy đi đến Swanee và làm giống Esther Williams và Charlie the Tuna. Vòng đấu sẽ bắt đầu từ vị trí số 1 ở Tucson National”.
Hambleton kể lại : lúc đầu đầu định phản hồi rằng : “Bạn đang phê thuốc ?” nhưng sau đó suy nghĩ lại và hiểu rằng vòng đấu số 1 ở Tucson National là cách 375m về hướng Đông Nam. Họ đang hướng dẫn ông đi 375m về Đông Nam và theo đó sẽ đến bờ sông. người Việt đã từ chối đi xa hơn. Norris cố thuyết phục họ ở lại và lục soát bờ sông trong vài giờ nhưng không phát hiện được gì.
Đêm 13 tháng 4, Norris lần này đi với 1 binh sĩ Việt tình nguyện đi theo là binh Nhất Nguyễn văn Kiệt. Norris thẳng thắn cho biết có thể chẳng có ai sống sót trở về. Họ đi ngược dòng sông, tìm thấy 1 chiếc ghe nhỏ và ít quần áo người Việt, họ cải trang thành người đánh cá. Họ tiếp tục bơi xuồng nhè nhẹ đi ngược dòng và khi kiểm tra lại bản đồ, họ đã qua khỏi vị trí của Hambleton khoảng 30 phút. Họ bắt đầu quay trở lại, cuối cùng cũng tìm thấy Hambleton đang trốn trong bụi rậm, ông đã bị sụt 20 Kg . Mặt trời bắt đầu ló dạng, tình thế nguy hiểm nếu đi vào ban ngày nhưng Hambleton đang rất yếu, do đó Norris quyết định mạo hiểm để ông dưới đáy xuồng, che đậy bằng các vỉ tre và bơi xuồng xuôi dòng.
Cuộc tìm kiếm kéo dài 11 ngày dẫn đến việc 5 máy bay khác bị bắn hạ, 11 người Mỹ thiệt mạng và 2 người bị bắt làm tù binh. Hambleton được giải cứu thành công. Câu chuyện này sau đó được dựng thành bộ phim nổi tiếng "Bat*21" năm 1988. ( Còn vì sao đội giải cứu phía mẽo lại đụng độ quân giải phóng với mức độ dày đặc vậy? Bởi lúc máy bay bị bắn rơi đang có một đơn vị hành quân qua khu vực này, tiện thể bao vây luôn ).
Ngày 2 tháng 4 năm 1972, 2 chiếc EB-66 với phiên hiệu 21 và 22 được lệnh áp tải 3 chiếc máy bay B-52 tấn công quân Giải Phóng tại khu vực Đèo Mụ Giạ – Ban Karai Pass, Hambleton thuộc phi hành đoàn của chiếc EB-66 phiên hiệu 21 – số hiệu 54-0466. Khi đến khu vực Quảng Trị, tốp máy bay chạm phải lưới phòng không dày đặc của quân Giải Phóng. Quân Giải Phóng phóng lên 2 quả tên lửa SAM-2 nhưng 2 chiếc EB-66 đã né được. Quân Giải Phóng chỉnh lại Radar SNR-75 của tên lửa và phóng tiếp loạn tên lửa thứ 2 nhắm vào chiếc EB-66 số 21. Loạt đạn đầu được phóng từ phía Bắc nên chiếc EB-66 làm động tác bổ nhào về phía Nam nhưng loạt bắn tên lửa này lại từ phía Nam và chiếc 21 không tránh kịp. Sĩ quan phụ trách điện tử la to “Không được !” và viên phi công cố kéo chiếc máy bay vượt lên nhưng không kịp và quả tên lửa phát nổ phía dưới máy bay ở độ cao 8.000m.
Hambleton có mật danh trong chuyến bay là Bat 21 Bravo đang ngồi phía sau phi công đã báo hiệu tất cả phi hành đoàn nhảy dù và ông lập tức bật ghế nhảy dù vọt ra ngoài. Ngay lúc đó, chiếc Bat 21 lại trúng tiếp quả tên lửa và nổ tung. 5 nhân viên còn lại của phi hành đoàn 6 người bao gồm : phi công là thiếu tá Wayne L. Bolte, ; phi công phụ là thiếu úy Robin F. Gatwood; sĩ quan điện tử : trung tá Anthony R. Giannangeli, trung tá Charles A. Levis, thiếu tá Henry M. Serex đều sau đó mất tích và đến nay vẫn chưa được tìm thấy.
Quân đội Mỹ bất chấp thiệt hại để tổ chức chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo – Rescue of Bat 21 Bravo để cứu trung tá Gene Hambleton vì nếu ông bị bắt, sẽ là tổn thất cực kỳ to lớn về tình báo ( bởi vì tay này chuyên gia về diệt Sam)
Trung tá Gene Hambleton đã được đào tạo phương thức tồn tại trong hoàn cảnh thiếu nước uống, cách thức lẫn trốn và đào thoát từ trường đào tạo rừng nhiệt đới ở Philippine. Hiện ông bị thương nhiều chổ do mảnh văng của máy bay nổ, chấn thương 4 đốt sống lưng và gãy 1 ngón tay
Trước khi Hambleton bị bắn rơi, 1 chiếc 0-2 cùa thiếu úy Richard Abbot bị bắn rơi và 2 chiếc Douglas A-1 Skyraiders của đại úy Don Morse trên chiếc A-1 mã hiệu Sandy 01 và chiếc A-1 còn lại là Sandy 02 được lệnh đến ứng cứu. Richard Abbot nhảy dù rơi ra ngoài biển và được chiếc tàu Uss Hammer giải cứu. Lúc này 2 chiếc A-1 Don Morse chuyển sang giải cứu Hambleton. Cứ nghĩ rằng máy bay của Hambleton rơi ở phía Nam nên sẽ an toàn nhưng Don Morse đã shock khi thấy hỏa lực phòng không bắn lên dày đặc. Do Morse mô tả : “Mức độ của hỏa lực phòng không giống như đang chung quanh Hà Nội”
Morse gọi chi viện và 1 chiếc UH-1 (Blue Ghost 39) của thiếu úy Byron Kulland và đại úy Thomas White – sĩ quan hành quân của căn cứ đặt tại Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng đang đi thám sát gần đó. White quay về căn cứ và chỉ thị Kulland tiến lên phía Bắc để ứng cứu cùng với 2 chiếc trực thăng Gunship Cobra là Blue Ghost 24, Blue Ghost 28 của trung úy Rosebeary và 1 chiếc UH-1 Huey (Blue Ghost 30). Khi 4 chiếc đến gần nơi Hambleton thì đều bị bắn lên dữ dội. Chiếc Blue Ghost 39 của Kulland bị bắn hỏng và phải đáp xuống phía Đông cách Hambleton khoảng 7km. Xạ thủ Jose Astorga là người duy nhất không bị thương, thoát được ra ngoài nhưng không kéo được những người khác đang bị thương nặng và mắc kẹt bên trong. Quân Giải Phóng áp đến và bắn liên tiếp và trực thăng phát nổ. Jose Astorga bị bắt giữ còn các thành viên phi hành đoàn còn lại là thiếu úy Byron Kulland, John Frink, Ronald Paschall đều tử trận. Chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo – Rescue of Bat 21 Bravo đang có quá nhiều tổn thất.
Chiếc Blue Ghost 28 của trung úy Rosebeary cũng trúng đạn và phải đáp xuống, anh cùng toán phi hành đoàn được chiếc HH-35C (Jolly Green 67) giải cứu an toàn. 2 chiếc A-1 của Morse cảm thấy không thể làm gì hơn nên quay về Đà Nẵng, cả 2 chiếc đều bị trúng đạn hư hỏng nặng
Lúc này là 21:00, chiếc OV-10A Bronco mã hiệu Nail 59 đến đảm nhiệm chỉ huy tiền tuyến – FAC, quân đội Mỹ vẫn không nắm rõ được tình thế ở khu vực và lực lượng quân Giải Phóng đang ở gần đó. Suốt đêm, chiếc Nail 59 cùng 1 chiếc HC-130 mã hiệu King 27 của Dennis Constant liên tục quần thảo bên trên để yểm trợ Hambleton lúc này đã đào 1 chiếc hang để lẩn trốn. Chiếc King 27 phát hiện bị Radar của tên lửa SAM-2 đang bám mục tiêu và lẩn tránh ra xa trước khi bị trúng tên lửa.
Toàn bộ chiến dịch giải cứu đều đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá Cecil Muirhead. Muirhead ra lệnh cho các máy bay FAC liên tục theo sát bên trên và chỉ đạo các máy bay khác oanh kích chung quanh để yểm trợ Hambleton. Muirhead cũng ra lệnh cho Không Lực 7 lập bán kính 27km chung quanh Hambleton để tránh các cuộc pháo kích nhầm lẫn.
Ngày 3 tháng 4, 1 nhóm giải cứu bao gồm 2 chiếc trực thăng HC-35C (phiên hiệu Jolly Green 65 và 66) cùng 4 chiếc A-1 Skyraider (Sandy 04, 05, 06, 07) từ Đoàn giải cứu số 37 tại Nakhon Phanom, Thailand được cử đến. Khu vực của Hambleton đang dưới sự chỉ huy của chiếc OV-10A FAC (Nail 25) của đại úy Rocky Smith và đại úy Rick Atchison. 2 người này đang chỉ huy cuộc ném bom của những chiếc F-4 thả những quả bom chùm chung quanh khu vực Hambleton. Chiếc Nail 25 hết nhiên liệu và rút đi, nhường vị trí lại cho chiếc Nail 38 của đại úy William J. Henderson và thiếu úy Mark Clark.
Lúc này, quân Giải Phóng đã bắt được sóng vô tuyến điện của quân Mỹ và quyết định dùng Hambleton như là mồi nhử. Họ bố trí dày đặc các dàn pháo phòng không và tên lửa SAM chung quanh. 1 phi công thuật lại :
“Quân Giải Phóng dùng tên lửa SAM để ép chúng tôi bay thấp để tránh tên lửa và lọt vào lưới phòng không tầm thấp."
Đại úy Henderson trên chiếc Nail 38 chỉ đạo chiếc Jolly Green 65 của trung úy Jay Crowe tiến vào giải cứu nhưng lập tức chiếc Jolly Green 65 lập tức bị đạn bắn lên dữ dội và hỏng bàn điều khiển. Crowe cố gắng thoát ra ngoài và trong tình trạng què quặt phải bay bằng mắt thường đã đáp được xuống Phú Bài. Chiếc Jolly Green 66 của trung tá Bill Harris ở phía sau hạ độ cao và khi bay vào gặp phải 10 chiếc xe tăng của quân Giải Phóng đang giương súng bắn dữ dội. Harris cố đáp trả bằng những khẩu mini gun GAU-2/A 7.62 mm và thoát được ra ngoài. Chiếc Jolly Green 67 cũng bị hỏng nặng.
Chiếc Nail 38 phải liên tục quần thảo để chỉ huy và bị trúng đạn và rơi xuống đất, Henderson trốn trong bụi tre và sau đó bị bắt. Clark nhảy dù và lẩn trốn. Sau đó đến lượt 1 chiếc UH-1 nữa với phi hành đoàn 4 người bị bắn rơi.
Ngày 4 tháng 4, 10 chiếc A-1 Skyraider đến dội bom để áp chế các khẩu pháo phòng không, cả 10 chiếc đều bị bắn hỏng trong đó có 2 chiếc bị hư trầm trọng. Lúc chiều tối, 2 chiếc máy bay F-4 của thiếu tá Jimmy D. Kempton lẻn vào khu vực và thả 4 quả bom chung quanh Hambleton
Ngày 5 tháng 4, thời tiết trở nên xấu và ngăn cản hoạt động của quân Mỹ.
Ngày 6 tháng 4, lúc 15:15, đợt giải cứu thứ 3 bao gồm 4 chiếc Skyradier (Sandy 01,02,05,06) và 2 chiếc HH-35C ( Jolly Green 67, 60) của phi đội giải cứu số 37 – 37th Air Rescue Squadron tiến vào, 4 chiếc B-52 cũng dội bom chung quanh Cam Lộ. quân Giải phóng đã phóng lên 60 quả tên lửa SAM để ngăn chận. Chiếc Jolly Green 66 của đại úy Peter Chapman tiến vào và 2 chiếc Sandy 01, 02 mang theo bom Phosphore để tạo khói trắng che chắn. Hỏa lực phòng không vẫn bắn lên ác liệt. Chiếc Jolly Green 67 bị trúng đạn què quặt phải thoát ra ngoài bay về hướng Đông Nam, đuôi máy bay bị vỡ ra và mắc kẹt vào động cơ, chiếc máy bay rơi xuống đất và bốc cháy, không có nhân viên phi hành đoàn nào thoát được.
Danh sách tử nạn bao gồm : phi công là đại úy Peter Hayden Chapman II, phi công phụ : đại úy John Henry Call III, trung sĩ kỹ thuật William Roy Pearson,, trung sĩ cứu nạn Allen J. Avery, trung sĩ chỉ huy đoàn bay : Roy D. Prater, phóng viên chiến trường James Harold Alley.
Lúc này, tinh thần của Hambleton và Clark xuống thấp vì nhận ra đã có 6 người tử nạn khi giải cứu họ. Trưởng toán cứu nạn là đại úy Fred Boli trên chiếc Sandy 01 thấy tình thế quá nguy hiểm nên ra lệnh hoãn cuộc giải cứu và rút về phía Nam. Quân Giải Phóng tăng cường tìm kiếm Hambleton và nhiều lần, các toán quân Giải Phóng chỉ cách vị trí Hambleton lẩn trốn chỉ trong tầm 6-7m.
Trong chiến dịch Bat 21 Bravo, toàn bộ các phi công tham gia giải cứu đều bị shock trước sự tập trung lượng lớn các khẩu pháo phòng lẫn pháo mặt đất và một lượng cực lớn các dàn phóng tên lửa SAM-2. Ngoài các khẩu pháo cao xạ 23mm, 37mm, 57mm, … các phi công còn đối mặt các khẩu pháo cao xạ 57mm được điều khiển bằng Radar và lượng lớn các tên lửa SAM-2. Các phi công Mỹ còn lần đầu tiên đối mặt các khẩu tên lửa vác vai SA-7 Grail do Liên Xô viện trợ với đầu đạn tầm nhiệt.
Trong chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo – Rescue of Bat 21 Bravo , các phi công Mỹ đều shock khi đối mặt lượng lớn các khẩu pháo cao xạ và tên lửa SAM-2 chưa từng có trong chiến tranh Việt Nam.
Chỉ huy trưởng phi đội trực thăng là trung tá Bill Harris báo cáo với đại tá rằng Muirhead rằng lượng lớn quân đội Giải Phóng và mạng lưới phòng không quá dày đặc khiến không thể giải cứu Hambleton và phải tìm cách khác.
Lúc này Hambleton được báo giữ nguyên vị trí, ông đang có 2 điện đài cứu hộ, 1 bộ thuốc y tế khẩn cấp, pháo sáng, dao, 1 khẩu súng ngắn, 1 bi đông nước nhưng không có lương thực.
Ngày 7 tháng 4, trung úy Bruce C. Walker và trung úy tiền sát pháo binh Thùy Quân Lục Chiến Larry F. Potts bay trên chiếc USAF OV-10A (Covey 282). Potts liên lạc và hướng dẫn chiếc USS Buchanan (DDG-14) pháo kích ngăn chận các xe tăng quân Giải Phóng. Lúc 11:05, chiếc Covey 282 bị trúng tên lửa SAM-2 và rơi cách QL 1 5km về hướng tây và cách đường 9 7km về hướng Bắc. Cả 2 đều nhảy dù an toàn nhưng khu vực họ nhảy dù đang bị quân Giải Phóng chiếm đóng và lùng sục.
Lúc này Clark trốn phía Nam sông Miêu Giang, vị trí của Walker cách Hambleton 7km về hướng Bắc. Tháng 1 năm 1992, đội Tìm Kiếm hỗn hợp Việt Mỹ khi tìm kiếm ở Bảo Tàng Quân Sự Hà Nội đã phát hiện thẻ căn cước của Bruce Walker. Thông tin của Potts thì đến nay vẫn bặt vô âm tín. Chỉ biết rằng Potts sau đó bị bắt và chết trong nhà tù ở Quảng Bình.
Sau 5 ngày của chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo, đã có 5 máy bay bị bắn rơi, 16 chiếc bị bắn hỏng, 10 người bị chết hoặc mất tích, 2 người bị bắt và 2 người đang chờ giải cứu.
Ngày 8 tháng 4, Tướng Creighton Abrams được báo cáo tình hình. Tướng Abrams ra lệnh không tổ chức bất kỳ cuộc giải cứu từ đường không nào nhưng phải làm mọi cách để cứu Hambleton để đảm bảo các thông tin tối mật về tên lửa và kỹ thuật tác chiến điện tử.
Đại tá Al Gray của Thủy Quân Lục Chiến đề nghị 1 cuộc giải cứu trên bộ, và trung tá Andy Anderson chỉ huy trung tâm biệt kích MACVSOG được lệnh tổ chức cuộc giải cứu. Lúc này ở Sài Gòn đang có trung úy Thomas R. Norris là 1 trong 3 người chỉ huy và 9 thành viên thuộc nhóm biệt kích hải quân SEAL . Nhóm của Norris vừa thực hiện cuộc tuần thám ở sông Mekong, Norris lập tức nhận lệnh và triệu tập thêm 5 người thuộc nhóm Biệt Hải Hải Quân của đội người nhái Hải Quân ở Đà nẵng.
Chuẩn tướng Vũ Văn Giai cấp cho Anderson 1 trung đội Biệt Động Quân và 3 chiếc xe tăng M-48 để tiến quân dọc theo đường 9 trong tầm quan sát từ cầu Cam Lộ nhưng tướng Giai cho rằng chiến dịch giải cứu là vô ích và tuyên bố ông không chịu bất kỳ trách nhiệm nào về việc này.
Ám hiệu trong chiến dịch giải cứu phi công Mỹ Bat 21 Bravo từ mặt đất – Ad hoc code in Rescue of Bat 21 Bravo. Cho rằng quân Giải Phóng đang theo dõi tầng vô tuyến, máy bay chỉ huy FAC đã liên lạc với Clark bằng câu : “Get to the Snake, make like Esther Williams and float to Boston” theo nghĩa đen là : “Theo con rắn, làm giống như Esther Williams và trôi đến Boston” . Esther Williams vốn là diễn viên bơi lội. Ám chỉ “đến bờ sông, bơi qua bờ sông phía Đông”.
Còn với Hambleton, nhiệm vụ khó hơn nhiều do vị trí của ông nằm sâu về hướng Tây và phải lẻn đi qua nhiều ngôi làng để đến bờ sông. Đội cứu hộ vốn biết Hambleton rất giỏi chơi Golf nên liên lạc bằng câu ám hiệu : “Bạn đang chơi Golf 18 lổ, bạn hãy đi đến Swanee và làm giống Esther Williams và Charlie the Tuna. Vòng đấu sẽ bắt đầu từ vị trí số 1 ở Tucson National”.
Hambleton kể lại : lúc đầu đầu định phản hồi rằng : “Bạn đang phê thuốc ?” nhưng sau đó suy nghĩ lại và hiểu rằng vòng đấu số 1 ở Tucson National là cách 375m về hướng Đông Nam. Họ đang hướng dẫn ông đi 375m về Đông Nam và theo đó sẽ đến bờ sông. người Việt đã từ chối đi xa hơn. Norris cố thuyết phục họ ở lại và lục soát bờ sông trong vài giờ nhưng không phát hiện được gì.
Đêm 13 tháng 4, Norris lần này đi với 1 binh sĩ Việt tình nguyện đi theo là binh Nhất Nguyễn văn Kiệt. Norris thẳng thắn cho biết có thể chẳng có ai sống sót trở về. Họ đi ngược dòng sông, tìm thấy 1 chiếc ghe nhỏ và ít quần áo người Việt, họ cải trang thành người đánh cá. Họ tiếp tục bơi xuồng nhè nhẹ đi ngược dòng và khi kiểm tra lại bản đồ, họ đã qua khỏi vị trí của Hambleton khoảng 30 phút. Họ bắt đầu quay trở lại, cuối cùng cũng tìm thấy Hambleton đang trốn trong bụi rậm, ông đã bị sụt 20 Kg . Mặt trời bắt đầu ló dạng, tình thế nguy hiểm nếu đi vào ban ngày nhưng Hambleton đang rất yếu, do đó Norris quyết định mạo hiểm để ông dưới đáy xuồng, che đậy bằng các vỉ tre và bơi xuồng xuôi dòng.
Cuộc tìm kiếm kéo dài 11 ngày dẫn đến việc 5 máy bay khác bị bắn hạ, 11 người Mỹ thiệt mạng và 2 người bị bắt làm tù binh. Hambleton được giải cứu thành công. Câu chuyện này sau đó được dựng thành bộ phim nổi tiếng "Bat*21" năm 1988. ( Còn vì sao đội giải cứu phía mẽo lại đụng độ quân giải phóng với mức độ dày đặc vậy? Bởi lúc máy bay bị bắn rơi đang có một đơn vị hành quân qua khu vực này, tiện thể bao vây luôn ).

