- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,602
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Cuộc Thập tự chinh rách rưới - Lòng tin, đói khát và một con lừa dắt nhau đến Jerusalem
Năm 1095, Hội đồng Clermont, Giáo hoàng Urban II kêu gọi giới quý tộc và hiệp sĩ châu Âu mang gươm giáo hành quân về phương Đông để giành lại Đất Thánh. Đây là một lời kêu gọi mang tầm vóc lịch sử: đức tin cần được bảo vệ, Jerusalem cần được giải phóng, những người Kitô giáo phương Đông cần được cứu trợ.
Đây cũng là sự kiện mở màn cho cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất. Tuy nhiên,trong khi nó diễn ra, lịch sử có một chương phụ cho nó; một Cuộc Thập tự chinh rách rưới.
Ở tít đằng xa tận Constantinople, Hoàng đế Đông La Mã Alexios I khi đó nhận được tin thì không vui vẻ cho lắm, ông ta đã gửi thư cầu viện Giáo Hoàng, hy vọng nhận được một đội quân đánh thuê chuyên nghiệp, những đội quân được huấn luyện bài bản để giúp ông đẩy lùi quân Seljuk.
Thực tế còn nghiêm trọng hơn những gì Alexios I tính toán, bởi lời kêu gọi của Giáo hoàng không dừng lại ở các tòa lâu đài hay những phòng tuyến biên giới. Nó tràn xuống bùn lầy, len lỏi vào các quán rượu, xóm nghèo và những cánh đồng khô cằn đang oằn mình vì mất mùa.
Với hầu hết nông dân Tây Âu thế kỷ XI, cuộc đời luôn chìm trong gánh nặng thuế khóa, nghèo đói và mất mùa, thì lời mời gọi đi Jerusalem, với lời hứa rằng Chúa đang chờ mình để ban phước có sức hấp dẫn cực kỳ mạnh. Sau đó là những dòng người truyền tai nhau bỏ ruộng, bỏ nhà, mang theo cây thánh giá lên đường.
Thay vì một đội quân kỵ binh tinh nhuệ, châu Âu chứng kiến sự ra đời của một cơn sóng kỳ dị nhất lịch sử trung cổ: Cuộc Thập tự chinh của bần nông.
1. Pierre Ẩn sĩ - Người dẫn dắt
Pierre l’Ermite là một tu sĩ gầy gò, khoác chiếc áo choàng len thô ráp cáu bẩn, nhếch nhác, cưỡi một con lừa nhỏ. Bề ngoài của ông lôi thôi đến mức nực cười, nhưng ông lại có đôi mắt rực lửa và chất giọng thôi miên kỳ lạ. Đám đông gọi ông là Pierre ẩn sĩ. Pierre đi đến đâu, dân chúng phát cuồng đến đó.
Ông thuyết giảng về viễn cảnh huy hoàng ở Jerusalem, về việc Thượng đế sẽ ban phước cho tất cả, rằng những người nghèo khổ nhất mới là những người được Chúa chọn.
Ông này nói rằng Jerusalem đang ở phía Đông và Chúa sẽ dẫn đường. Phần còn lại, hàng vạn người tự nguyện đi theo. Và thế là họ bỏ cày cuốc, vác theo gậy gộc để đi theo ông. Một đám rước khổng lồ hình thành, mù quáng và khao khát một phép màu.
Albert xứ Aachen, khi kể về làn sóng Thập tự chinh năm 1096, mô tả những người hưởng ứng lời kêu gọi gồm đủ hạng người: giáo sĩ, quý tộc, dân thường, người sám hối, rồi cả những kẻ ngoại tình, giết người, trộm cắp, bội thề và cướp bóc.
Họ mù mờ về địa lý đến mức mỗi khi lết đến trước một thành phố lớn nào đó ở châu Âu, những người nông dân lại ngước lên bức tường thành và hỏi nhau bằng ánh mắt hy vọng: "Đây đã phải là Jerusalem chưa?".
2. Đàn châu chấu đói khát
Phó tướng của Pierre là một hiệp sĩ phá sản có cái tên rất phù hợp đội hình: Walter Không một xu dính túi (Walter Sans Avoir). Ông ta dẫn dắt hàng vạn người lên đường với niềm tin ngây thơ rằng Chúa sẽ nuôi họ dọc đường, hoặc chí ít là các vương quốc Công giáo khác sẽ mở kho lúa thiết đãi họ.
Nhưng đoàn người này, dù được khoác lên bất kỳ ý nghĩa tôn giáo nào, vẫn phải ăn. Đức tin có thể giúp họ chịu đựng đói khát, nhưng không thể biến một nắm đất thành bánh mì. Không có hậu cần, không được chào đón, đội quân rách rưới này đi đến đâu càn quét thức ăn đến đó.
Người dân địa phương ở Hungary và vùng Balkan từ chối chia sẻ lương thực, những "chiến binh thánh giá" lập tức biến thành một bầy châu chấu vỡ tổ, cướp bóc, giết chóc và đốt phá những thành phố đồng đạo của mình để sinh tồn. Tôn giáo tuyên bố mục tiêu là Jerusalem, nhưng cái bụng đói lại có những mục tiêu gần hơn nhiều: kho lương, gia súc, nhà dân và bất cứ thứ gì có thể ăn được.
Đến mùa hè năm 1096, sau một hành trình đầy hỗn loạn, đám đông nhếch nhác làm được điều kỳ diệu khi cũng lết được trước cổng thành Constantinople. Không có ảnh chụp nhưng tôi tin là mặt Hoàng đế Alexios I đã nghệt ra một đoạn. Ông gọi ship "lính đánh thuê tinh nhuệ", và phương Tây ship cho ông một đám đông hàng vạn người đói khát, hôi hám, vô kỷ luật, vừa đi vừa đánh lộn và đe dọa an ninh của kinh thành.
Nhận ra mớ rắc rối khổng lồ này không mang lại bất kỳ giá trị nào, Alexios I vội vã cung cấp tàu bè, hối thúc chở toàn bộ đám người này qua bờ bên kia eo biển Bosphorus, ném họ vào lãnh thổ châu Á, xa tầm mắt của mình càng nhanh càng tốt. Pierre Ẩn sĩ cùng con lừa, dĩ nhiên, chiếm slot đầu tiên.
3. Thực tế nghiệt ngã
Những người hành hương được đưa sang Tiểu Á, nơi họ sẽ phải tự đối mặt với một thực tế mà những bài thuyết giảng ở châu Âu đã không đề cập đầy đủ: bên kia eo biển không phải thiên đường, mà là lãnh địa của quân Seljuk - những chiến binh du mục thiện chiến.
Người Seljuk có lẽ bị cảm động bởi lòng nhiệt thành của đoàn người này, họ thấy đám đông cầm cây gậy, cuốc, xẻng và những bộ quần áo rách rưới với niềm tin thiêng liêng tìm đến Chúa, nên họ đã cố gắng tiễn đám người này đến với Chúa một cách nhanh chóng nhất.
Tại trận Civetot, quân Seljuk phục kích và đè bẹp đạo quân bần nông không mấy khó khăn. Hàng vạn người bỏ mạng. Walter Không một xu dính túi tử trận với hàng loạt mũi tên cắm trên người. Đội quân ô hợp tan vỡ trong máu và cát bụi.
Pierre l’Ermite thoát chết một cách may mắn vì trước đó đã quay trở lại Constantinople để tìm kiếm thêm viện trợ.
Cuộc hành quân vĩ đại và điên rồ ấy kết thúc lãng xẹt, gần như đúng với cách nó bắt đầu: bằng một sự kết hợp giữa lòng tin tuyệt đối và năng lực tổ chức bằng không.
Vài tháng sau, đội quân của các lãnh chúa châu Âu cuối cùng cũng đến nơi. Cuộc Thập tự chinh thứ nhất từ đó mới chính thức bước vào giai đoạn lịch sử mà sách giáo khoa thường ghi nhận. Các đội quân quý tộc tiến về phương Đông, đánh chiếm nhiều thành trì, cuối cùng chiếm được Jerusalem năm 1099 và thiết lập các quốc gia Thập tự quân tại Levant.
Nhưng ẩn sâu dưới những lớp bụi thời gian của vùng Tiểu Á, vẫn còn đó xương trắng của hàng vạn người nghèo - những kẻ đã ngây thơ tin rằng chỉ cần đi theo một ông lão cưỡi lừa và một tấm lòng thành, họ có thể đến được thiên đường. Trong số những bộ xương trắng ấy, rất nhiều kẻ thậm chí còn không biết Jerusalem nằm ở đâu.
Năm 1095, Hội đồng Clermont, Giáo hoàng Urban II kêu gọi giới quý tộc và hiệp sĩ châu Âu mang gươm giáo hành quân về phương Đông để giành lại Đất Thánh. Đây là một lời kêu gọi mang tầm vóc lịch sử: đức tin cần được bảo vệ, Jerusalem cần được giải phóng, những người Kitô giáo phương Đông cần được cứu trợ.
Đây cũng là sự kiện mở màn cho cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất. Tuy nhiên,trong khi nó diễn ra, lịch sử có một chương phụ cho nó; một Cuộc Thập tự chinh rách rưới.
Ở tít đằng xa tận Constantinople, Hoàng đế Đông La Mã Alexios I khi đó nhận được tin thì không vui vẻ cho lắm, ông ta đã gửi thư cầu viện Giáo Hoàng, hy vọng nhận được một đội quân đánh thuê chuyên nghiệp, những đội quân được huấn luyện bài bản để giúp ông đẩy lùi quân Seljuk.
Thực tế còn nghiêm trọng hơn những gì Alexios I tính toán, bởi lời kêu gọi của Giáo hoàng không dừng lại ở các tòa lâu đài hay những phòng tuyến biên giới. Nó tràn xuống bùn lầy, len lỏi vào các quán rượu, xóm nghèo và những cánh đồng khô cằn đang oằn mình vì mất mùa.
Với hầu hết nông dân Tây Âu thế kỷ XI, cuộc đời luôn chìm trong gánh nặng thuế khóa, nghèo đói và mất mùa, thì lời mời gọi đi Jerusalem, với lời hứa rằng Chúa đang chờ mình để ban phước có sức hấp dẫn cực kỳ mạnh. Sau đó là những dòng người truyền tai nhau bỏ ruộng, bỏ nhà, mang theo cây thánh giá lên đường.
Thay vì một đội quân kỵ binh tinh nhuệ, châu Âu chứng kiến sự ra đời của một cơn sóng kỳ dị nhất lịch sử trung cổ: Cuộc Thập tự chinh của bần nông.
1. Pierre Ẩn sĩ - Người dẫn dắt
Pierre l’Ermite là một tu sĩ gầy gò, khoác chiếc áo choàng len thô ráp cáu bẩn, nhếch nhác, cưỡi một con lừa nhỏ. Bề ngoài của ông lôi thôi đến mức nực cười, nhưng ông lại có đôi mắt rực lửa và chất giọng thôi miên kỳ lạ. Đám đông gọi ông là Pierre ẩn sĩ. Pierre đi đến đâu, dân chúng phát cuồng đến đó.
Ông thuyết giảng về viễn cảnh huy hoàng ở Jerusalem, về việc Thượng đế sẽ ban phước cho tất cả, rằng những người nghèo khổ nhất mới là những người được Chúa chọn.
Ông này nói rằng Jerusalem đang ở phía Đông và Chúa sẽ dẫn đường. Phần còn lại, hàng vạn người tự nguyện đi theo. Và thế là họ bỏ cày cuốc, vác theo gậy gộc để đi theo ông. Một đám rước khổng lồ hình thành, mù quáng và khao khát một phép màu.
Albert xứ Aachen, khi kể về làn sóng Thập tự chinh năm 1096, mô tả những người hưởng ứng lời kêu gọi gồm đủ hạng người: giáo sĩ, quý tộc, dân thường, người sám hối, rồi cả những kẻ ngoại tình, giết người, trộm cắp, bội thề và cướp bóc.
Họ mù mờ về địa lý đến mức mỗi khi lết đến trước một thành phố lớn nào đó ở châu Âu, những người nông dân lại ngước lên bức tường thành và hỏi nhau bằng ánh mắt hy vọng: "Đây đã phải là Jerusalem chưa?".
2. Đàn châu chấu đói khát
Phó tướng của Pierre là một hiệp sĩ phá sản có cái tên rất phù hợp đội hình: Walter Không một xu dính túi (Walter Sans Avoir). Ông ta dẫn dắt hàng vạn người lên đường với niềm tin ngây thơ rằng Chúa sẽ nuôi họ dọc đường, hoặc chí ít là các vương quốc Công giáo khác sẽ mở kho lúa thiết đãi họ.
Nhưng đoàn người này, dù được khoác lên bất kỳ ý nghĩa tôn giáo nào, vẫn phải ăn. Đức tin có thể giúp họ chịu đựng đói khát, nhưng không thể biến một nắm đất thành bánh mì. Không có hậu cần, không được chào đón, đội quân rách rưới này đi đến đâu càn quét thức ăn đến đó.
Người dân địa phương ở Hungary và vùng Balkan từ chối chia sẻ lương thực, những "chiến binh thánh giá" lập tức biến thành một bầy châu chấu vỡ tổ, cướp bóc, giết chóc và đốt phá những thành phố đồng đạo của mình để sinh tồn. Tôn giáo tuyên bố mục tiêu là Jerusalem, nhưng cái bụng đói lại có những mục tiêu gần hơn nhiều: kho lương, gia súc, nhà dân và bất cứ thứ gì có thể ăn được.
Đến mùa hè năm 1096, sau một hành trình đầy hỗn loạn, đám đông nhếch nhác làm được điều kỳ diệu khi cũng lết được trước cổng thành Constantinople. Không có ảnh chụp nhưng tôi tin là mặt Hoàng đế Alexios I đã nghệt ra một đoạn. Ông gọi ship "lính đánh thuê tinh nhuệ", và phương Tây ship cho ông một đám đông hàng vạn người đói khát, hôi hám, vô kỷ luật, vừa đi vừa đánh lộn và đe dọa an ninh của kinh thành.
Nhận ra mớ rắc rối khổng lồ này không mang lại bất kỳ giá trị nào, Alexios I vội vã cung cấp tàu bè, hối thúc chở toàn bộ đám người này qua bờ bên kia eo biển Bosphorus, ném họ vào lãnh thổ châu Á, xa tầm mắt của mình càng nhanh càng tốt. Pierre Ẩn sĩ cùng con lừa, dĩ nhiên, chiếm slot đầu tiên.
3. Thực tế nghiệt ngã
Những người hành hương được đưa sang Tiểu Á, nơi họ sẽ phải tự đối mặt với một thực tế mà những bài thuyết giảng ở châu Âu đã không đề cập đầy đủ: bên kia eo biển không phải thiên đường, mà là lãnh địa của quân Seljuk - những chiến binh du mục thiện chiến.
Người Seljuk có lẽ bị cảm động bởi lòng nhiệt thành của đoàn người này, họ thấy đám đông cầm cây gậy, cuốc, xẻng và những bộ quần áo rách rưới với niềm tin thiêng liêng tìm đến Chúa, nên họ đã cố gắng tiễn đám người này đến với Chúa một cách nhanh chóng nhất.
Tại trận Civetot, quân Seljuk phục kích và đè bẹp đạo quân bần nông không mấy khó khăn. Hàng vạn người bỏ mạng. Walter Không một xu dính túi tử trận với hàng loạt mũi tên cắm trên người. Đội quân ô hợp tan vỡ trong máu và cát bụi.
Pierre l’Ermite thoát chết một cách may mắn vì trước đó đã quay trở lại Constantinople để tìm kiếm thêm viện trợ.
Cuộc hành quân vĩ đại và điên rồ ấy kết thúc lãng xẹt, gần như đúng với cách nó bắt đầu: bằng một sự kết hợp giữa lòng tin tuyệt đối và năng lực tổ chức bằng không.
Vài tháng sau, đội quân của các lãnh chúa châu Âu cuối cùng cũng đến nơi. Cuộc Thập tự chinh thứ nhất từ đó mới chính thức bước vào giai đoạn lịch sử mà sách giáo khoa thường ghi nhận. Các đội quân quý tộc tiến về phương Đông, đánh chiếm nhiều thành trì, cuối cùng chiếm được Jerusalem năm 1099 và thiết lập các quốc gia Thập tự quân tại Levant.
Nhưng ẩn sâu dưới những lớp bụi thời gian của vùng Tiểu Á, vẫn còn đó xương trắng của hàng vạn người nghèo - những kẻ đã ngây thơ tin rằng chỉ cần đi theo một ông lão cưỡi lừa và một tấm lòng thành, họ có thể đến được thiên đường. Trong số những bộ xương trắng ấy, rất nhiều kẻ thậm chí còn không biết Jerusalem nằm ở đâu.

