- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,639
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
GS-TS Nguyễn Xuân Oánh - Chân dung một trí thức trong dòng chảy lịch sử Việt Nam
1. Từ Bắc Giang đến Harvard
Nguyễn Xuân Oánh sinh năm 1921 tại Bắc Giang. Cha ông là Bác sĩ Nguyễn Xuân Bái, người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông từ nhỏ đã được giáo dục theo Tây học. Lớn lên ông được gia đình cho sang Mỹ theo học tại Đại học Harvard về ngành Kinh tế. Ông tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế của Harvard năm 1954, rồi làm việc cho Ngân hàng Thế giới, Tổ hợp Tài chính Quốc tế trước khi trở về Việt Nam.
Việc được đào tạo tại một trong những trung tâm kinh tế học hàng đầu của Hoa Kỳ và từng làm việc trong một định chế tài chính quốc tế, giúp Nguyễn Xuân Oánh hình thành nền tảng chuyên môn về kinh tế, tiền tệ và tài chính. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào thời kỳ biến động chính trị sâu sắc từ đầu thập niên 1960, nền tảng này đưa ông vào bộ máy hoạch định chính sách kinh tế của chính quyền VNCH.
2. Bước vào chính trường Sài Gòn và lựa chọn ở lại sau năm 1975
Năm 1963 là một bước ngoặt lớn đối với chính trường miền Nam Việt Nam. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 dẫn đến việc Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị lật đổ và sát hại. Một bộ máy chính quyền mới thành lập, trong đó có các nhân sĩ trí thức như Nguyễn Xuân Oánh được chính quyền Nguyễn Khánh trọng dụng và cất nhắc. Ông giữ chức Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, đến giữa năm 1963 ông được đề bạt làm Phó Thủ tướng Chính phủ VNCH.
Giai đoạn 1964 - 1965 đặc biệt phức tạp đối với chính quyền Sài Gòn khi các chính phủ liên tiếp thay đổi, trong khi vai trò của giới tướng lĩnh ngày càng gia tăng. Nhiều tướng lĩnh như Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ can thiệp sâu hơn trong đời sống chính trị miền Nam. Nguyễn Xuân Oánh nhiều lần được tin tưởng giao quyền điều hành chính phủ trong thời gian ngắn.
Trước khi tham gia chính trường, Nguyễn Xuân Oánh đã có quá trình đào tạo và làm việc trong lĩnh vực kinh tế - tài chính quốc tế. Vì vậy, ông có thế mạnh khi tham gia vào những vấn đề liên quan đến tiền tệ, ngân hàng, tài chính công và chính sách kinh tế của chính quyền Sài Gòn.
Trong những năm sau đó, Nguyễn Xuân Oánh tiếp tục được biết đến trong giới kinh tế Việt Nam không chỉ với tư cách một cựu quan chức mà còn như một chuyên gia có kinh nghiệm về kinh tế quốc tế. Điều này là cơ sở để ông tiếp tục tham gia đời sống kinh tế - chính trị Việt Nam sau khi chế độ VNCH kết thúc năm 1975.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước Việt Nam chúng ta thống nhất. Nguyễn Xuân Oánh quyết định ở lại mặc dù Mỹ đã bảo lãnh. Ông cùng vợ là nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng tiếp tục sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975. Điều này tạo điều kiện để ông tiếp tục tham gia đời sống kinh tế - xã hội trong một hoàn cảnh chính trị hoàn toàn khác. Ông nằm trong bộ phận những tri thức, chuyên gia, kỹ thuật gia và viên chức của chế độ cũ tham gia vào quá trình khôi phục và xây dựng đất nước trong những năm sau chiến tranh.
3. Từ kinh tế thời hậu chiến đến Đổi mới
Sau năm 1975, Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế nghiêm trọng. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tình trạng thiếu vốn, lạm phát, sản xuất đình trệ, những hạn chế của hệ thống phân phối và những khó khăn trong quan hệ kinh tế đối ngoại đặt ra yêu cầu thay đổi chính sách.
Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nguyễn Xuân Oánh tiếp tục tham gia vào hoạt động tư vấn kinh tế. Ông có quan hệ công tác với nhiều nhà lãnh đạo và chuyên gia kinh tế trong giai đoạn Việt Nam bắt đầu tìm kiếm những phương thức quản lý kinh tế mới.
Ông từng làm cố vấn kinh tế cho cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong lịch sử kinh tế Việt Nam, khi công cuộc Đổi mới được triển khai từ Đại hội VI của Đảng năm 1986 và tiếp tục mở rộng trong những năm sau đó.
Dưới sự tin tưởng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và sau đó là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông cùng nhóm nghiên cứu chuyên gia kinh tế (thường được biết tới qua mô hình Văn phòng kinh tế Thành ủy TP.HCM và Nhóm Thứ Sáu) đã tạo nên những bước ngoặt lịch sử, khi hiến kế cải cách hệ thống tiền tệ và áp dụng chính sách "lãi suất thực dương" để chặn đứng cuộc khủng hoảng lạm phát phi mã (lên đến 300% - 700%) giai đoạn 1986 - 1989.
Sau khi chuyển đổi từ bao cấp sang cơ chế thị trường, kinh tế Việt Nam lạm phát phi mã. Từ năm 1986, lạm phát tăng lên 300%, rồi 400%, rồi 500%. Trong khi đó, lãi suất cho vay của ngân hàng lại quá thấp do bị nhà nước khống chế. Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nói với ông Đỗ Mười: "Đầu năm hợp tác xã vay tiền ngân hàng để mua cả con trâu, đến cuối năm số tiền phải trả nợ ngân hàng chỉ bằng đuôi trâu". Nghĩa là đầu năm, vay của ngân hàng 1 triệu đồng, thì cuối năm trả 1,04 triệu đồng, nhưng 1,04 triệu cuối năm đã mất giá, chỉ có giá trị bằng 200 nghìn đồng vay đầu năm.
Vậy là người dân đổ xô đi vay tiền, Ngân Hàng Nhà Nước phải in thêm lượng tiền lớn gấp 400 lần để đổ cho dân vay, càng làm đồng tiền gần như mất hết giá trị. Theo báo chí Mỹ khi đó, nếu Việt Nam không có từ 2 - 3 tỷ đô la Mỹ đổ vào, kinh tế sẽ phá sản.
Tháng 4.1989, Ngân hàng nhà nước tăng lãi suất gửi tiết kiệm lên đột biến, 14% một tháng, trong khi lãi suất cho dân vay lại thấp hơn, chỉ 11% một tháng.
Chính sách này gặp chỉ trích từ giới kinh tế học quốc tế, vì theo lý thuyết, ngân hàng phải “mua tiền rẻ, bán tiền đắt”. Tuy nhiên, “kỳ diệu” ở chỗ, người dân từ chỗ đổ xô đi vay tiền ngân hàng, nay lại đổ xô mang tiền đi gửi tiết kiệm. Ngân hàng nhà nước thu được lượng tiền mặt khổng lồ nên giảm in tiền, đồng thời có tiền để giảm bội chi ngân sách, tăng lương cho người lao động.
Cuối cùng, lạm phát bị chặn đứng theo đúng nghĩa đen. Lạm phát từ chỗ 800%, giảm xuống còn 67% năm 1989, sang thập niên 90 thì giảm còn 1 chữ số. Kinh tế Việt Nam chính thức thoát khỏi khủng hoảng và khởi sắc trở lại.
Bên cạnh hoạt động tư vấn kinh tế, Nguyễn Xuân Oánh còn tham gia vào các thiết chế chính trị - xã hội trong chính phủ Việt Nam. Ông được bầu làm thành viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Xuân Oánh
Đời sống của Nguyễn Xuân Oánh thường được nhắc đến cùng nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, người từng là một trong những diễn viên nổi tiếng của điện ảnh miền Nam trước năm 1975. Hai người kết hôn năm 1970 và có đời sống gia đình gắn với xã hội đô thị Sài Gòn.
Sau năm 1975, vợ chồng ông ở lại Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Xuân Oánh tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và cố vấn trong nhiều năm sau Đổi mới.
Ông có 4 người con trai, đều thành đạt trong cuộc sống, hiện sinh sống và làm việc ở nước ngoài, song thường xuyên về thăm quê hương. Con út của ông là Nguyễn Xuân Ái Quốc, nguyên Giám đốc Trung tâm Chính sách Quy trình Ngân hàng Quốc tế Việt Nam. Anh cũng rất thành công với chuỗi cafe The Coffee Factory tại Sài Gòn cùng với người em trai sinh đôi là Nguyễn Xuân Quốc Việt.
GS-TS Nguyễn Xuân Oánh qua đời ngày 29 tháng 8 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 82 tuổi.
1. Từ Bắc Giang đến Harvard
Nguyễn Xuân Oánh sinh năm 1921 tại Bắc Giang. Cha ông là Bác sĩ Nguyễn Xuân Bái, người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông từ nhỏ đã được giáo dục theo Tây học. Lớn lên ông được gia đình cho sang Mỹ theo học tại Đại học Harvard về ngành Kinh tế. Ông tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế của Harvard năm 1954, rồi làm việc cho Ngân hàng Thế giới, Tổ hợp Tài chính Quốc tế trước khi trở về Việt Nam.
Việc được đào tạo tại một trong những trung tâm kinh tế học hàng đầu của Hoa Kỳ và từng làm việc trong một định chế tài chính quốc tế, giúp Nguyễn Xuân Oánh hình thành nền tảng chuyên môn về kinh tế, tiền tệ và tài chính. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào thời kỳ biến động chính trị sâu sắc từ đầu thập niên 1960, nền tảng này đưa ông vào bộ máy hoạch định chính sách kinh tế của chính quyền VNCH.
2. Bước vào chính trường Sài Gòn và lựa chọn ở lại sau năm 1975
Năm 1963 là một bước ngoặt lớn đối với chính trường miền Nam Việt Nam. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 dẫn đến việc Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị lật đổ và sát hại. Một bộ máy chính quyền mới thành lập, trong đó có các nhân sĩ trí thức như Nguyễn Xuân Oánh được chính quyền Nguyễn Khánh trọng dụng và cất nhắc. Ông giữ chức Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, đến giữa năm 1963 ông được đề bạt làm Phó Thủ tướng Chính phủ VNCH.
Giai đoạn 1964 - 1965 đặc biệt phức tạp đối với chính quyền Sài Gòn khi các chính phủ liên tiếp thay đổi, trong khi vai trò của giới tướng lĩnh ngày càng gia tăng. Nhiều tướng lĩnh như Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ can thiệp sâu hơn trong đời sống chính trị miền Nam. Nguyễn Xuân Oánh nhiều lần được tin tưởng giao quyền điều hành chính phủ trong thời gian ngắn.
Trước khi tham gia chính trường, Nguyễn Xuân Oánh đã có quá trình đào tạo và làm việc trong lĩnh vực kinh tế - tài chính quốc tế. Vì vậy, ông có thế mạnh khi tham gia vào những vấn đề liên quan đến tiền tệ, ngân hàng, tài chính công và chính sách kinh tế của chính quyền Sài Gòn.
Trong những năm sau đó, Nguyễn Xuân Oánh tiếp tục được biết đến trong giới kinh tế Việt Nam không chỉ với tư cách một cựu quan chức mà còn như một chuyên gia có kinh nghiệm về kinh tế quốc tế. Điều này là cơ sở để ông tiếp tục tham gia đời sống kinh tế - chính trị Việt Nam sau khi chế độ VNCH kết thúc năm 1975.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước Việt Nam chúng ta thống nhất. Nguyễn Xuân Oánh quyết định ở lại mặc dù Mỹ đã bảo lãnh. Ông cùng vợ là nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng tiếp tục sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975. Điều này tạo điều kiện để ông tiếp tục tham gia đời sống kinh tế - xã hội trong một hoàn cảnh chính trị hoàn toàn khác. Ông nằm trong bộ phận những tri thức, chuyên gia, kỹ thuật gia và viên chức của chế độ cũ tham gia vào quá trình khôi phục và xây dựng đất nước trong những năm sau chiến tranh.
3. Từ kinh tế thời hậu chiến đến Đổi mới
Sau năm 1975, Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế nghiêm trọng. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tình trạng thiếu vốn, lạm phát, sản xuất đình trệ, những hạn chế của hệ thống phân phối và những khó khăn trong quan hệ kinh tế đối ngoại đặt ra yêu cầu thay đổi chính sách.
Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nguyễn Xuân Oánh tiếp tục tham gia vào hoạt động tư vấn kinh tế. Ông có quan hệ công tác với nhiều nhà lãnh đạo và chuyên gia kinh tế trong giai đoạn Việt Nam bắt đầu tìm kiếm những phương thức quản lý kinh tế mới.
Ông từng làm cố vấn kinh tế cho cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong lịch sử kinh tế Việt Nam, khi công cuộc Đổi mới được triển khai từ Đại hội VI của Đảng năm 1986 và tiếp tục mở rộng trong những năm sau đó.
Dưới sự tin tưởng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và sau đó là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông cùng nhóm nghiên cứu chuyên gia kinh tế (thường được biết tới qua mô hình Văn phòng kinh tế Thành ủy TP.HCM và Nhóm Thứ Sáu) đã tạo nên những bước ngoặt lịch sử, khi hiến kế cải cách hệ thống tiền tệ và áp dụng chính sách "lãi suất thực dương" để chặn đứng cuộc khủng hoảng lạm phát phi mã (lên đến 300% - 700%) giai đoạn 1986 - 1989.
Sau khi chuyển đổi từ bao cấp sang cơ chế thị trường, kinh tế Việt Nam lạm phát phi mã. Từ năm 1986, lạm phát tăng lên 300%, rồi 400%, rồi 500%. Trong khi đó, lãi suất cho vay của ngân hàng lại quá thấp do bị nhà nước khống chế. Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nói với ông Đỗ Mười: "Đầu năm hợp tác xã vay tiền ngân hàng để mua cả con trâu, đến cuối năm số tiền phải trả nợ ngân hàng chỉ bằng đuôi trâu". Nghĩa là đầu năm, vay của ngân hàng 1 triệu đồng, thì cuối năm trả 1,04 triệu đồng, nhưng 1,04 triệu cuối năm đã mất giá, chỉ có giá trị bằng 200 nghìn đồng vay đầu năm.
Vậy là người dân đổ xô đi vay tiền, Ngân Hàng Nhà Nước phải in thêm lượng tiền lớn gấp 400 lần để đổ cho dân vay, càng làm đồng tiền gần như mất hết giá trị. Theo báo chí Mỹ khi đó, nếu Việt Nam không có từ 2 - 3 tỷ đô la Mỹ đổ vào, kinh tế sẽ phá sản.
Tháng 4.1989, Ngân hàng nhà nước tăng lãi suất gửi tiết kiệm lên đột biến, 14% một tháng, trong khi lãi suất cho dân vay lại thấp hơn, chỉ 11% một tháng.
Chính sách này gặp chỉ trích từ giới kinh tế học quốc tế, vì theo lý thuyết, ngân hàng phải “mua tiền rẻ, bán tiền đắt”. Tuy nhiên, “kỳ diệu” ở chỗ, người dân từ chỗ đổ xô đi vay tiền ngân hàng, nay lại đổ xô mang tiền đi gửi tiết kiệm. Ngân hàng nhà nước thu được lượng tiền mặt khổng lồ nên giảm in tiền, đồng thời có tiền để giảm bội chi ngân sách, tăng lương cho người lao động.
Cuối cùng, lạm phát bị chặn đứng theo đúng nghĩa đen. Lạm phát từ chỗ 800%, giảm xuống còn 67% năm 1989, sang thập niên 90 thì giảm còn 1 chữ số. Kinh tế Việt Nam chính thức thoát khỏi khủng hoảng và khởi sắc trở lại.
Bên cạnh hoạt động tư vấn kinh tế, Nguyễn Xuân Oánh còn tham gia vào các thiết chế chính trị - xã hội trong chính phủ Việt Nam. Ông được bầu làm thành viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Xuân Oánh
Đời sống của Nguyễn Xuân Oánh thường được nhắc đến cùng nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, người từng là một trong những diễn viên nổi tiếng của điện ảnh miền Nam trước năm 1975. Hai người kết hôn năm 1970 và có đời sống gia đình gắn với xã hội đô thị Sài Gòn.
Sau năm 1975, vợ chồng ông ở lại Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Xuân Oánh tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và cố vấn trong nhiều năm sau Đổi mới.
Ông có 4 người con trai, đều thành đạt trong cuộc sống, hiện sinh sống và làm việc ở nước ngoài, song thường xuyên về thăm quê hương. Con út của ông là Nguyễn Xuân Ái Quốc, nguyên Giám đốc Trung tâm Chính sách Quy trình Ngân hàng Quốc tế Việt Nam. Anh cũng rất thành công với chuỗi cafe The Coffee Factory tại Sài Gòn cùng với người em trai sinh đôi là Nguyễn Xuân Quốc Việt.
GS-TS Nguyễn Xuân Oánh qua đời ngày 29 tháng 8 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 82 tuổi.
Attachments
Last edited:

