• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Hồng Vệ Binh - Công cụ thực hiện Đại cách mạng Văn Hóa

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,362
Reaction score
0
Points
36
Hồng Vệ Binh - Công cụ thực hiện Đại cách mạng Văn Hóa của Trung Quốc

Dưới đây là những câu chuyện mà tôi lượm được từ những kênh thông tin chính thống và trên mạng XH của Trung Quốc nói về cuộc cách mạng nhân danh văn hóa. Dữ liệu nhiều vô kể, tôi chỉ lượm vài hạt cát trên bãi biển mênh mông đó mà thôi.
Bài viết của Tran Le Binh

Phần 1. Nhân danh văn hóa
1. Khởi phát nguyên nhân

Cuộc Đại cách mạng văn hóa giai cấp vô sản - gọi tắt Đại cách mạng văn hóa - của Trung Quốc đi vào lịch sử cách đây đã 60 năm. (1966 - 1976).

Nạn nhân bị nhân danh văn hóa cách mất mạng sống ước tính gần 2 triệu, nạn nhân sống sót nhưng bị tàn tật về thể xác và tâm thần khoảng hơn 10 triệu. Nguyên nhân chính của cuộc cách mạng đó đã được lịch sử vạch trần.

Sau khi Mao đưa ra một loạt chính sách như ‘ cải cách ruộng đất’ ‘ đại nhảy vọt’... đã khiến nền kinh tế TQ tê liệt, hàng triệu dân chết đói. Trong hàng ngũ lãnh đạo TQ bắt đầu bất bình và có xu hướng muốn hạn chế quyền lực của Mao.

1959 tại Hội nghị Lư Sơn, Bộ trưởng quốc phòng, nguyên soái Bành Đức Hoài đã bị cách chức sau khi viết thư thẳng thắn chỉ trích những sai lầm của phong trào "Đại nhảy vọt" và "Công xã nhân dân" do Mao chủ xướng. Mao không bao giờ lùi bước và đã cùng vợ là bà Giang Thanh bày ra cuộc cách mạng gọi là ‘ văn hóa’ để diệt trừ các đối thủ .

2. Dấu hiệu khởi đầu chỉ là phê phán văn chương, thơ ca, tác phẩm hội họa.
10-11-1965, dưới sự chỉ đạo của Giang Thanh, Bài viết "Phê bình các vở kịch lịch sử mới được biên soạn" của Diêu Văn Nguyên công bố trên “ Báo Văn Hối” của Thượng Hải.

Bài báo đã đích danh chỉ trích Ngô Hàm 吴晗— phó thị trưởng Bắc Kinh , chuyên gia về lịch sử nhà Minh. Ông đã viết kịch bản kinh kịch với tên “ Hải Thụy bãi quan” 海瑞罢官.

Vở kịch nói về Hải Thụy(1514—1587)một vị quan liêm chính thời nhà Minh, vì đứng lên dũng cảm đấu tranh với cả vua và các quan tham để bảo vệ lợi ích cho dân nghèo, và đã bị bãi chức quan. Kinh kịch đó được trình diễn khắp nơi và được dân chúng ca ngợi. Mao cho rằng vở kịch này là “ lật sử” , là “ tá cổ dụ kim-借故喻今”, “dùng chuyện xưa để ám chỉ chuyện nay”, là “ muốn minh oan cho Bành Đức Hoài...”

Vở kịch bị cấm, tác giả và những người đồng cảm bị liệt vào nhóm “ phản động chống phá nhà nước xhcn... bọn đi theo đường lối tư bản...”. Đó chính là ngòi châm cho sự bùng nổ của cuộc cách mạng long trời lở đất đó.

Vào ngày 16 tháng 5 năm 1966, Hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS TQ đã thông qua "Thông báo ngày 16 tháng 5". Văn kiện này chính thức công bố sự mở màn cho cuộc Cách mạng Văn hóa, CMVH, lên án "những người đi theo đường lối tư bản...xét lại..." trong hàng ngũ của đảng, chính phủ, quân đội và các cơ quan văn hóa, nhấn mạnh phải giành quyền lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa.

Giang Thanh đứng đầu “ Nhóm văn cách trung ương” với quyền lực tối cao. Mao và Giang đã nhằm trúng đối tượng sẽ giúp họ loại đối thủ, đó là thanh thiếu niên ngây thơ và mù quáng, sẵn sàng xả thân vì Mao.

5-8-1966 Mao đã công bố bài viết "Pháo kích Bộ Tư lệnh - Tờ đại tự báo của tôi", công khai chĩa mũi nhọn tấn công vào các quan chức cấp cao trong đảng, chính phủ và quân đội. Đồng thời Mao tuyên bố tiếp kiến hàng triệu Hồng vệ binh ( HVB ) tại Bắc Kinh.

Từ khắp cả nước hàng triệu thanh thiếu niên được quyền đi tàu xe, ăn ở khắp nơi miễn phí để đổ về Bắc Kinh gặp vị lãnh tụ tối cao. Hết đợt này đến đợt khác, cả ngày và đêm, trong mưa gió bão tuyết , họ chờ dưới quảng trường. Mao xuất hiện chỉ khoảng chục phút, trên khán đài Thiên An Môn trong bộ quân phục, trên cánh tay đeo băng ron đỏ in chữ ‘ hồng vệ binh’, vẫy các cháu đông hơn kiến ở dưới. Các cháu cảm động nước mắt ràn rụa, giơ cao quyển Mao tuyển bìa đỏ, gào đến khản cổ : “ Mao chủ tịch vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế...” HVB thề thốt sẽ bằng chính sinh mạng mình để bảo vệ vị lãnh tụ tối cao, sự sùng bái cá nhân đối với Mao lên tới đỉnh điểm.

Sau những cuộc gặp đó, như được trao sứ mệnh trọng đại, với khẩu hiệu “Cách mạng vô tội, nổi dậy là chính đáng”, “ tiêu diệt kẻ thù giai cấp...”, HVB lan toả khắp các xó xỉnh để tìm kiếm và tiêu diệt “ bọn phản cách mạng...”

Với khẩu hiệu ‘ tuyên truyền tư tưởng Mao chủ tịch’ họ phát động chiến dịch "Phá bỏ Tứ cựu" (xóa bỏ tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ và thói quen cũ), và cùng sự tàn phá các di tích lịch sử và văn hóa, là những cuộc đấu tố tàn bạo nhắm vào đông đảo trí thức và quan chức.

Sau này, người TQ đã mô tả đám HVB như một bầy dã thú khát máu xổng chuồng, xông vào nhà các quan chức và trí thức từ trung ương, cấp tỉnh, thành phố, cho đến hiệu trưởng, giáo viên các trường lớn nhỏ, để lục tung tủ quần áo, ngăn kéo, cả dưới gầm giường... thư từ, nhật ký...bị mang đi để tìm bằng chứng ‘ phản động’ của họ. Ho bị lôi ra tra tấn về tội tại sao lại viết thế này, viết thế nọ, bị diễu phố đeo biển ‘ tôi phản động’... vô vàn người đã chết với sự sỉ nhục đó.

Xin đơn cử mấy nhân vật chính là nạn nhân như sau:
- Sau khi vở kinh kịch “ Hải Thụy bãi quan” bị cấm, HVB đã xông vào nhà tác giả Ngô Hàm吴晗 ( 1909-1969 ) đập phá tan tành, hàng ngày hai vợ chồng bị lôi ra phố đấu tố. Bắt qùy trên đống gạch vỡ, bị đánh đập và cuối ngày khi đứng dậy, hai đầu gối rách nát máu me tràn trề.

Trên đường về nhà ông lau hết vết máu trên mặt, dưới sự giám sát của HVB, vẫn phải dơ cao quyển Mao tuyển đỏ và cố đọc to vài dòng.

Tháng 3-1968, ông bị HVB bắt đưa đi mất tích, vợ ông bị tống xuống nông thôn cải tạo. Vì bà vô sinh, nên ông bà đã nhận hai đứa trẻ mồ côi từ nhỏ về nuôi.

Hai chị em lo lắng đi khắp nơi tìm bố mẹ. Thế rồi một hôm, một đám HVB đưa bà về vì bà ốm liệt. Con gái lớn vội cõng bà vào bệnh viện xin bác sĩ cứu chữa cho mẹ, mặc cho đứa con qùy lạy van xin, nhưng họ bảo bà là vợ của phần tử phản động, nên cứ để bà nằm đó không thuốc thang gì cho đến tối thì bà tắt thở.

Tháng 10-1969, có người đến báo hai chị em đi đón bố, vui khôn xiết tưởng bố được tha, khi đến nơi người canh gác thông báo bố đã chết sáng nay, và đưa lại di vật là chiếc quần với những vết máu khô, xác ông Ngô Hàm được đưa đi trong sự im lặng. Cho đến nay vẫn không biết xác thiêu của ông ở đâu.

Nỗi uất ức mất cả cha lẫn mẹ một cách oan khiên, đã khiến cô gái tuổi 20 trỗi dạy, như việc HVB đang làm, cô cũng viết báo chữ lớn đi dán khắp nơi, lên án tội của Giang Thanh đã giết hại bố mẹ... Và rồi cô cũng bị bắt ngay sau hôm bị mổ ruột thừa, mặc dù bác sĩ chứng nhận cô cần sự nghỉ ngơi, nhưng cô vẫn bị xích còng chân đưa vào nhà tù, vì cãi nhiều cô bị đập gẫy cả răng cửa, vài ngày sau cô chết trong vũng máu ở tuổi 22.

- Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ 刘少奇 (1898-1969) là người duy nhất không bao giờ cầm quyển Mao tuyển đỏ trong tay trước công chúng. Và ông đã nhiều lần phát ngôn chỉ trích những việc làm của Mao.

Khi CMVH bắt đầu ông bị kết tội là ‘ xét lại, nội gián, đi theo tư bản cn...’ ,bị HVB đưa đi diễu phố, dọc đường bị ném đá máu me đầy người. Sau đó ông bị đưa đi giam trong trạng thái đã bị liệt, ông vẫn bị chói chặt trên giường, và 6 tháng sau ông chết sau cơn sốt viêm phổi nặng. Trên giấy đưa ông đi thiêu đề tên khác và là người ‘ không nghề nghiệp’. Ông hưởng thọ 71.

- Nguyên soái, chủ tịch quân ủy trung ương Hạ Long 贺龙(1896-1969). Khi CMVH bắt đầu không lâu, ông chứng kiến những việc làm dã man dưới sự chỉ đạo của Mao và Giang Thanh, ông đã công khai lên tiếng phản đối.

Ông bị kết tội ‘ âm mưu đảo chính giết Mao...’, và bị HVB vây bắt và đưa đi nhốt trong nhà tù. Ông bị bệnh tiểu đường nặng, cần tiêm insulin nhưng đã bị khước từ. Ông bị ngã gãy xương sống, nhưng không được điều trị, ông đã chết trong sự quằn quại đớn đau. Trong 10 năm của CMVH , 40 vị tướng tá với tiểu sử đã từng nam chinh bắc chiến dưới lửa đạn, đã bị chết dưới bàn tay của thế hệ con cháu của mình.

- Tổng bí thư ĐCSTQ, phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình 邓小平 cũng bị HVB xông vào nhà khám xét và lôi đi đấu tố. Nhưng Mao ra lệnh ‘ đánh 1 cùng lắm 2 năm thôi’ , ông gặp may chỉ bị cưỡng bức lao động cải tạo thời gian ngắn thôi.

- Có lẽ duy nhất có một người ở cương vị cao được sống sót, đó là thủ tướng Chu Ân Lai 周恩来. Ông là người khéo léo, không bày tỏ quan điểm công khai, mặc dù cũng đứng ra bảo vệ những nhân sĩ yêu nước ngoài đảng, nhưng chỉ bị Mao phê bình thôi. Lý do nữa là Mao cần ông cho bộ mặt ngoại giao, nên ông thoát chết.

- Có một nhân vật mà dân TQ cho là bi hài và đáng thương nhất trong thời kỳ đó, là ông Quách Mạt Nhược 郭沫若( 1892 - 1978). Ông là một nhà văn, nhà thơ, một sử gia, một trí thức yêu nước.

Khi tuổi 20 ông du học Nhật , tốt nghiệp đại học y nhận bằng bác sĩ. Sau về nước đi theo Mao tham gia cách mạng. Từng làm Phó Chủ tịch Chính hiệp, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện.

Có lúc Mao gọi ông lên để cùng vịnh thơ. Ông là người kính mến và cũng sợ Mao, nhưng những lúc rượu vào lời ra, ông cũng chê thơ của Mao, lúc tỉnh ông vội viết những lời tạ tội thống thiết mà vẫn bị Mao thù. Khi CMVH bùng nổ, HVB cũng lôi ông ra đấu tố. Quỳ trên bục dưới chân HVB, họ chất vấn ông về bài thơ “满江红·领袖颂” –“ Sông tràn màu đỏ.Lãnh tụ ca” , do ông sáng tác vào cuối năm 1962 để chúc mừng sinh nhật lần thứ 70 của Mao. Lời thơ đại ý:
Thời loạn lạc, anh hùng hiển thị.
Sáu trăm triệu dân,đoàn kết,kiên định.
Bầu trời sụp đổ, có ta chống đỡ.
Thế giới hỗn loạn, có ta giữ vững.
Gà gáy vang vọng hoàn cầu, đông phương hửng sáng trắng trong.

HVB chất vấn ông : ‘ Mày viết bầu trời sụp đổ có hàm ý gì? Ám chỉ chế độ XHCN ưu việt của chúng ta sắp sụp đổ chứ gì ? Chúng mày đang hòng lật đổ chứ gì...’
‘ Cả thế giới hát ca đông phương hồng mặt trời lên, TQ có lãnh tụ kính yêu là Mao Trạch Đông...Tại sao mày lại viết đông phương trắng...’
Ông thanh minh đến khản cổ hết hơi rằng: ‘ Gà gáy vang vọng báo hiệu trời hửng sáng. Có nghĩa là một thế giới mới tốt đẹp đang hiện ra trên đất Trung Hoa như một chân trời mới đang bừng sáng từ phía đông, nơi mặt trời mọc...’
Kết cục là sau những trận đòn ông bị giam trong tù.

Trong khi đó, hai đứa con trai của ông cũng bị bạn học đấu tố, bắt khai tội của bố. Ông phải viết thư van xin Mao, làm thơ ca tụng gửi Giang Thanh. Thế rồi con trai lớn uất hận nhảy lầu tự tử, con trai thứ hai bị HVB đánh đến chết.

Trong một năm mất hai con mà không được nhìn xác con, ông đau đớn tận cùng, và viết bản tuyên bố công khai, xin Mao hãy: “ Hủy hết tất cả sách, văn thơ của tôi, vì nó chẳng có giá trị gì...”. Đồng thời ông cũng phủ định hết tất cả giá trị trí thức của mình. Tháng 6-1978 ông từ trần ở Bắc kinh. Tác phẩm để lại lúc sinh thời của Quách Mạt Nhược khoảng 38 cuốn.

- Điền Hán 田汉( 1898-1968), người đã viết lời cho bài "Hành khúc Tình nguyện quân", 义勇军进行曲bài hát trở thành Quốc ca của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Ông là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch và kịch bản phim, nhà phê bình văn học nghệ thuật, nhà hoạt động xã hội, đồng thời là một trong những người tiên phong đặt nền móng cho kịch nói hiện đại của Trung Quốc.

Khi CMVH bùng nổ, vở kinh kịch “Tạ Diệu Hoàn” 《谢瑶环》do ông sáng tác và đạo diễn bị phê phán là ‘ chống đảng, chống nhà nước xhcn...’.

Vở kịch Lấy bối cảnh triều đại Võ Tắc Thiên thời nhà Đường, kể về Tạ Diệu Hoàn, một nữ quan được phái đi thanh tra vùng Giang Nam. Bà luôn đứng về phía chính nghĩa và trừng trị những kẻ cường hào ác bá tại địa phương, nhưng lại bị các thế lực quyền lực là Võ Tam Tư và Lai Tuấn Thần hãm hại với tội danh phản nghịch; bà bị tra tấn đến chết, song về sau Võ Tắc Thiên đã làm sáng tỏ sự thật, xử tử Lai Tuấn Thần và minh oan cho bà.

Những lời ca trong kịch như: “ Nước nâng thuyền cũng có thể lật úp thuyền.” “ Ai lên tiếng hộ dân nếu ta không làm...” bị cho là những lời hàm ý nói xấu chế độ.

HVB kéo ông đi khắp nơi để đấu tố. Có lần, một đám HVB vây quanh quát tháo: “ Trông bộ mặt lợn của mày mà kinh tởm, hãy tự thú tội lỗi chống đảng chống cnxh chống tư tưởng Mao chủ tịch của mày đi...”.
Ông vẫn im lặng bình thản nhìn mặt từng đứa trẻ đứng đó.
“ Khai báo đi...đồ lợn...mở miệng đi chứ...” HVB tiếp tục gào lên.
Điền Hán nhìn mặt bọn trẻ và nói chậm rãi : “ Lời của bài hát ‘Hành khúc tình nguyện quân’ mà hiện nay cũng là quốc ca của nhà nước chúng ta chính là do tôi viết, tôi chính là tác giả viết lời bài hát đó.”
Nghe vậy, đám trẻ nhìn nhau không biết nói gì, im lặng một lúc, đột nhiên một đứa vơ luôn cái thùng rác bên cạnh ụp lên đầu ông. Cả đám ùa theo, thi nhau ấn thùng rác thật mạnh tụt xâu xuống tận cổ ông. Các thứ đồ bẩn trong đó phủ đầy người ông. Vì thùng đó được đan bằng tre nứa có những cạnh sắc nhọn, khi ông gỡ được ra thì mặt đầy máu me.

Tháng 2-1967, ông bị tống vào nhà tù, ông có bệnh tim và tiểu đường, nhưng không được cấp thuốc. Bệnh biến chứng ông không tự chủ được đi tiểu, mỗi lần nước đái chảy xuống đất bị người cai ngục bắt ông phải cúi xuống liếm sạch bãi nước đái đó. Trong những lúc mê sảng ông gọi mẹ và kêu rằng: “ Làm ơn cho tôi được gặp mẹ lần cuối...”. 5 tháng sau ông chết trong tù, khi đưa đi thiêu với cái tên không phải của ông, và cũng không ai đến đón nhận nắm tro xác của ông.

Suốt 10 năm CMVH cả nước chỉ được hát bài ‘ Đông phương hồng’ và bài ‘ Ra khơi nhờ người cầm lái.’ Cho đến năm 1982, Quốc ca do Điền Hán viết lời mới được hát trở lại.

HVB còn có lễ hội đốt sách, họ lao vào các thư viện lôi hết tất cả sách mà không phải của Mao ra đốt, khi ngọn lửa bừng cháy, đám trẻ vây quanh nhảy múa tung hô, vui như trẩy hội

- Cuối cùng xin kể một chuyện tưởng đùa mà có thật.
Có một anh chàng họa sĩ nghiệp dư tên Hoàng Vĩnh Ngọc 黄永玉, lúc rảnh rỗi thích ngồi vẽ động vật, đặc biệt thích vẽ con cú mèo. Và anh đã vẽ cả bộ cú mèo với các tư thế và còn hứng lên làm vài câu thơ chú thích ở dưới. Anh tự đóng thành cuốn sách và đi khoe để bạn bè truyền tay nhau xem.

Khi CMVH bùng nổ, tự nhiên có người tố cáo anh vẽ tranh ‘ phản động...chống đảng chống cnxh...’ Một trong bức tranh là, con cú mèo đứng trên cây, một mắt nhắm mắt kia mở, dưới là mấy câu thơ: “ Ban ngày, người nguyền rủa ta vớí lời cay nghiệt. Ban đêm, ta vẫn thản nhiên đứng canh cho người.”

Không ngờ đó là bức tranh thiêu thân của ông. Bức tranh bị xé khỏi sách mang đi trưng bày, và anh bị gọi tới hỏi tội.
Lúc đầu anh vẫn nhởn nhơ trả lời: “ Ôi, vẽ con cú mèo là cái gì đâu, tôi vẫn hay vẽ chúng mà...”.
Không ngờ, sau đó là những cuộc đấu tố trước cả hội trường lớn, anh bị qùy và bị chất vấn: ‘ Mắt nhắm mắt mở, mày có ý khinh thường CMVH hả ?’
Anh trả lời vì đó là thói quen của cú mèo, nó chuyên đi bắt mồi ban đêm, ban ngày ngủ nhưng cảnh giác vẫn thỉnh thoảng mở một mắt.
Những câu chất vấn tiếp: ‘ Trong thơ mày nguyền rủa CMVH, nguyền rủa chế độ xhcn, ban đêm mày nhằm bày mưu hoạt động phản cách mạng hả ?’.
Anh chàng họa sĩ im tịt không biết thanh minh ra sao nữa, thế là bị chụp mũ phản động và bị đánh tơi bời.

Một cuộc cách mạng nhân danh văn hóa mà lại vô văn hóa đến như vậy, đây một vết nhơ trong lịch sử của TQ.

Ảnh chụp Giang Thanh và Mao Trach Đông trong đại hội HVB tại Bắc Kinh.
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới
 
Last edited:

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,362
Reaction score
0
Points
36
Phần 2 : Lời kể của người trong cuộc

Cuộc Đại cách mạng văn hóa - CMVH (1966-1976) - của Trung Quốc đã nhân danh văn hóa cướp đi tính mạng của hàng triệu con người.

Cũng như Việt Nam mình có câu “ Tôn sư trọng đạo”, mặc dù TQ cũng có câu từ thời cổ: “ 国将兴,必贵师而重傅”. Xin dịch nôm na là: Muốn chấn hưng đất nước, cần phải qúy thầy và trọng người dạy. Thế nhưng theo thống kê chính thức của trang Telegram:@wikipedia_zh_n. WWW. CND,ORG và của cơ quan nhà nước TQ, thì trong 10 năm CMVH ngành giáo dục bị tổn hại nặng nhất. Hàng chục vạn nhân viên trong ngành giáo dục, các thầy cô giáo, những người truyền giảng tri thức, đã bị thủ phạm, là những học sinh, Hồng vệ binh HVB từ tuổi khoảng 12-20 giết hại một cách dã man.

Dưới đây là những câu chuyện do nhân chứng kể lại, và cũng do chính người từng là HVB nay về già đã viết lại để xám hối về việc họ đã làm.

Một nhà giáo đầu tiên nhất bị giết là bà Biện Trọng Vân卞仲耘 (1916-1966), giáo viên, hiệu phó kiêm bí thư đảng ủy của Trường Trung học Cơ sở Nữ sinh trực thuộc Đại học Sư phạm Bắc Kinh.

Tối 1-6-1966, Đài phát thanh trung ương phát đi một bài ‘Báo chữ lớn’ ( BCL ) của HVB trường Đại học Bắc Kinh kêu gọi HVB cả nước: “ Kiên quyết, triệt để, dứt khoát và hoàn toàn tiêu diệt hết mọi quái vật và ác quỷ.” Như một hiệu lệnh phát đi, trường học trong cả nước đã ngừng học, HVB nhao nhao đi tìm ‘ quái vật và ác quỷ’ để tiêu diệt.

Ngay sáng hôm sau HVB của trường nữ sinh này đua nhau dán BCL thề “ Quyết tử bảo vệ trung ương đảng...quyết tử bảo vệ Mao ct...”

Khoảng 2 giờ chiều ngày 5 tháng 8, nhóm HVB, đám con gái 13,14 tuổi bắt đầu hành động. Trước hết họ đi lùng bắt người trong ban giám hiệu. Lúc đó, bà hiệu phó thứ hai Hồ Chí Đào 胡志涛 đang quét dọn nhà vệ sinh của trường, bà nói với các học sinh rằng, việc tổ chức ‘đấu tố’ cần phải có sự chấp thuận trước từ Thành ủy Bắc Kinh, ngụ ý rằng HVB không thể tự ý tổ chức các cuộc ‘đấu tố’ như vậy.

Tuy nhiên, nhóm HVB hoàn toàn phớt lờ lời bà nói. Cả nhóm nhao nhao hô to: " Mao chủ tịch kính yêu đã trao toàn quyền cho chúng tao để tiêu diệt bọn phản động..." Một thành viên trong nhóm mang đến một lọ mực to và đổ ngay lên đầu bà, khiến toàn thân bà ướt sũng trong màu mực đen. Sau đó, nhóm HVB lôi cả năm người của ban giám hiệu nhà trường ra sân thể thao.

Họ bị bắt đội những chiếc mũ chóp cao làm từ giỏ đựng giấy vụn và đeo trước ngực những tấm biển ghi các dòng chữ như "thành viên băng nhóm phản cách mạng", "phần tử chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống Mao". Các nạn nhân bị lôi lên một bục bê tông cao ở rìa sân và bắt phải quỳ thành hàng. HVB hô vang các khẩu hiệu "Đả đảo băng nhóm đen!"...
Tiếp theo là, dưới sự áp tải của cả đám HVB, 5 người bị đưa đi diễu phố, vừa đi vừa phải tự hô rằng: “ Tôi là phản động...tôi là ác qủy...”.

Sau khi quay về trường, HVB bắt 5 người qùy dưới sân để lần lượt bị luận tội. Nào là tại sao ông này không thường xuyên đọc Mao tuyển, tại sao bà kia không mang theo Mao tuyển đỏ trong người...

Đến lượt bà Biện Trọng Vân bị hỏi tội. Mấy tháng trước khu gần Bắc Kinh có động đất nhẹ, các giáo viên nhắc nhở học sinh rằng, nếu có động đất khi đang lên lớp, thì mọi người phải bằng mọi giá bỏ hết tất cả lại chạy ra khỏi lớp, khỏi khu nhà để cứu lấy tính mạng là chính...
Lúc đó có một học sinh hỏi bà: “ Thế có nên gỡ ảnh Mao ct xuống để chạy mang theo không?” , bà không nói gì.
HVB nhắc lại chuyện đó và kết tội bà ‘ vô lễ với Mao ct...căm thù tư tưởng Mao...’.

Các HVB cầm trong tay những thanh sắt, những chân ghế gãy còn đinh trên đó, cứ mỗi câu luận tội là phang lên đầu, lên lưng...của người bị luận tội. Máu me đầy mình, nhưng họ vẫn phải bị bắt đi dọn đống cát ở cuối sân trường.

Bà Biện Trọng Vân tội nặng nhất, HVB bắt bà gánh nặng nhất. Bà không đủ sức đứng lên khi gánh cát qúa nặng. Thế rồi những cây sắt, chân ghế quật túi bụi lên người bà, bà ngất xỉu lăn ra dưới đất. Một vài HVB vẫn đá vào người bà và quát: “ Đừng giả vờ chết...” Và họ cứ để bà nằm đấy tiếp tục tra tấn bốn người khác.

Vài giờ sau thấy đồng nghiệp vẫn nằm đó, ông hiệu trưởng cũng đã bị đánh đến đầy mình máu me, vẫn rụt rè lên tiếng nhắc HVB ra xem, họ mới gọi ông lao công của trường đẩy chiếc xe ba gác chở rác ra bế bà lên nằm trong đó, rồi họ phủ những tờ báo chữ lớn lên người bà, đặt thêm cái chổi quét rác lên nữa. Ông lao công đẩy xe ba gác đó ra gần cổng, định đưa bà sang bệnh viện bên kia đường, nhưng bị HVB ngăn lại không cho đi. Ông cứ ngồi canh xe đó đến vài tiếng sau, khi trời đã tối, HVB mới cho phép ông đẩy xe sang bệnh viện. Các bác sĩ lật những tờ báo phủ trên người bà lên, cho biết ngay bà đã chết cách đây vài giờ rồi.

Khi chồng bà lao đến bệnh viện, thấy xác vợ với vết thương đầy người, ông lao đi mua luôn cái máy ảnh cũ, quay lại chụp hình ảnh cuối cùng của người vợ nằm trong xe ba gác chở rác, xác đầy thương tích. Đau khổ đến tận cùng, ông chỉ biết lẩm bẩm rằng: “ Vợ tôi đã từng dạy con gái của Mao ct và bà Giang Thanh trong 3 năm . Bà Giang Thanh còn đến hỏi ý kiến vợ tôi về việc chọn hướng lên đại học cho con bà, vì Mao ct muốn con gái đi học sử, nhưng bà ấy lại muốn cho con theo khoa học công nghệ...”. Hình như ông hy vọng những điều đó sẽ khiến vợ sống trở lại.

Theo thống kê, chỉ riêng trường Đại học Bắc Kinh- Bắc Đại, trường danh tiếng nhất của TQ lúc đó, đã có tới 12 giáo sư, 1 phó giáo sư, 9 giáo viên và 7 trợ lý giáo viên bị bức hại.

Trong đó có giáo sư Vật lý Nhiêu Dục Thái 饶毓泰, đã từng sang Hoa Kỳ du học vào năm 1923, sau khi trở về, ông đã thành lập khoa vật lý đầu tiên tại một trường đại học ở Trung Quốc và trở thành người tiên phong trong nền giáo dục vật lý hiện đại của TQ.

Khi CMVH bùng nổ, ông là một trong những giáo viên bị đấu tố đầu tiên.
Ông bị chất vấn: tại sao trong những bài giảng ông lại ca ngợi đế quốc Mỹ có nền giáo dục tiên tiến?
Tại sao ông lại khẳng định khoa học kỹ thuật của Mỹ hơn TQ?
Ông bị kết tội là: Sùng bái phương Tây... Bè lũ đi theo tư bản chủ nghĩa...
Là một học giả đã có công đóng góp lớn trong lĩnh vực chuyên ngành giáo dục vật lý của TQ, nhưng không ai đứng ra cứu ông lúc này.

Sau khi bị HVB tra tấn và sỉ nhục, là người có lòng tự trọng của một trí thức uyên bác, không thể để bọn trẻ chỉ đáng tuổi cháu sỉ nhục nhân cách của mình, vào một buổi tối ông đã treo cổ tự sát trên đường ống nước tại số 51 Vườn Yan Nan.

Ông Cung Uy Thái 龚维泰giáo viên dạy tiếng Nga của trường Bắc Đại. Trong bối cảnh lúc đó TQ và Liên Xô đã có sự bất đồng, mối quan hệ đồng chí đã trở thành kẻ thù.
Ông bị kết tội là ‘ gián điệp của xét lại Liên Xô...’
Ông bị nhốt trong một phòng tầng ba, HVB bắt ông trả lời ‘ tại sao lại biết tiếng Nga?’.
Ông giải thích vì là con của công nhân, thành phần tốt nên ông được nhà nước cử đi lưu học tại Liên Xô, và ông khẳng định không biết gì về chủ nghĩa xét lại...
Nhưng ông lại bị kết thêm tội là ‘ ngoan cố’, HVB chói tay ông ra sau, buộc sợi dây vào đó, đầu khác của dây kéo qua cột nhà, ông bị kéo lên thả xuống ở tư thế lơ lửng trên không, và HVB vây quanh hoan hô là ông được đi máy bay.

Người canh ông ngủ trên giường, ông nằm dưới đất. Một đêm ông đã dùng chính sợi dây đó thắt cổ tự tử, khi người canh tỉnh dậy thì ông đã lìa trần gian này từ lâu rồi.

Một cựu HVB không muốn nêu tên xám hối một chuyện như sau. Khi CMVH bùng nổ, bà đang học cấp 3 của một trường Trung học ở Thượng Hải. Có cô giáo dạy tiếng Anh tên Trương Phóng 张放.

Hè năm 1966, cô bị HVB đấu tố vì tội gia đình cô là tư sản nên cô được học tiếng Tây ở trường Tây từ nhỏ.
HVB chất vấn cô: “ Bố mẹ mày bóc lột công nhân, hút máu của dân lao động để giàu có... bây giờ nợ máu phải trả bằng máu...”.
Cô đã cố thanh minh rằng, khi cải tạo tư sản nhà cô đã hiến dâng hết nhà máy, cửa hàng và nhà cửa cho nhà nước, hiện cả nhà 9 người chỉ sống trong căn hộ 12 mét vuông thôi...Song cô lại bị kết tội ‘ kể oan, định đảo chính...’ . Cô bị đánh đến tím bầm mặt, gãy mấy ngón tay. Cô rất đẹp, HVB hô nhau cạo trọc nửa bên đầu và bôi sơn đen lên, và vỗ tay hoan hô: “ Con tiểu thư, xem mày còn đẹp nữa không...”

Lo sợ cho tính mạng của cô, một cô bạn thân đã tìm lúc HVB sơ hở, cứu bạn chạy chốn về quê của mình. Chính HVB đang xám hối này đã cùng một tốp người nữa mò được về đó và tóm cô giáo về trường. Khi đứng trước sân ga để chờ tàu đến, chính nhân vật này đã tát vào mặt cô. Cả đám đứng đó không để ý, khi tàu đang tiến vào gần, bất ngờ cô giáo Trương Phóng đã lao về phía trước, nhảy ngay trước mũi tàu, xác cô bị kéo đi hàng mấy mét.

Còn vô số chuyện đau thương diễn ra trong khoảng thời gian ấy.
Chính người TQ khi kể những câu chuyện về HVB, họ đã tự hỏi: Không hiểu sao lũ trẻ chỉ 12-20 lại có thể gây nên những tội ác như vậy? Tư tưởng Mao Trạch Đông ư ? Thuyết đấu tranh giai cấp ư? ...vv...vv...

Một điều rõ ràng là: Mao đã lợi dụng lũ trẻ để giữ quyền lực cá nhân cho tới khi chết. TQ đã chính thức đánh giá Mao với kết luận là: “ 三分过,七分功 ”. Ba phần lỗi, bảy phần công.
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới
 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,362
Reaction score
0
Points
36
Phần ba : Cái kết của Hồng Vệ Binh

Cuộc Đại cách mạng văn hóa - CMVH ( 1966 - 1976) - của Trung Quốc đã chấn động thế giới bởi những tội ác rùng rợn do lũ trẻ gây ra.

Những học sinh vốn khiêm nhường trong lớp học ngày hôm qua, những đứa con ngoan ngoãn trong vòng tay cha mẹ, chỉ trong chớp mắt đã biến thành những kẻ côn đồ tàn bạo.
Chúng hăng hái đấu tố bức hại những người bị kết tội là “ phần tử phản cách mạng, chống đảng, chống Mao ct.”
Chúng đánh đập dã man, kể cả đập vỡ sọ cả những người thầy cô của mình. Chúng nhốt những người vô tội vào các căn phòng tối tăm để bỏ đói cho đến chết, chúng nhảy múa và giẫm đạp đến chết trên thân xác của những người bị cho là "vợ địa chủ"...v...
Đồng thời chúng hăng hái và thản nhiên đập phá những công trình ngàn năm văn hiến như những chùa chiền, văn miếu...
Chúng thực hiện tất cả những hành động này mà không hề mảy may cảm thấy áy náy hối hận.

Vì chúng luôn có cuốn Mao tuyển trong tay, như tụng kinh cả ngày với những lời Mao dạy rằng : "Cách mạng không phải là một bữa tiệc, không phải là việc thêu thùa, không phải là sự thể hiện của lòng dịu dàng, sự lịch thiệp, mà là một hành động bạo lực trong đó giai cấp này lật đổ giai cấp khác", "cảm thông với kẻ thù là tội ác chống lại sự nghiệp cách mạng"…v… Và từ đó, chúng cảm thấy hoàn toàn thanh thản, cho là mình đang làm cách mạng để bảo vệ một xã hội tốt đẹp.

Vậy cái kết cho đám HVB có như điều mà họ mong ước không ?
Sau ba năm lùng bắt và giết hại những “ phần tử phản cách mạng”, các đám HVB, được gọi là các phe “ nối dậy”, quay ra chém giết lẫn nhau. Chúng đua nhau tranh công, và đều cho là mình đúng. Những cuộc ‘ võ đấu’ đó được khởi đầu từ chính việc làm của Mao.

Đầu năm 1967, các nhóm "nổi dậy" ở Vũ Hán chia thành hai phe đối lập với hai cái tên: "Bộ Chỉ huy Công nhân Nổi dậy" và "Triệu Anh hùng". Quân khu Vũ Hán cho nhóm "Triệu Anh hùng" là một nhóm cách mạng thật, do đó, họ đã giải tán nhóm "Bộ Chỉ huy Công nhân Nổi dậy" và bắt giữ các lãnh đạo của nhóm này.

Tuy nhiên, Mao và Tiểu ban Cách mạng Văn hóa Trung ương lại cho rằng nhóm "Tổng bộ Công nhân" là phe cách mạng thật và nhóm "Triệu Anh Hùng" là phe bảo hoàng, do đó, họ yêu cầu Tư lệnh Quân khu Vũ Hán phải chuyển sang ủng hộ "Tổng bộ Công nhân".

Lực lượng quân sự tại Vũ Hán đã từ chối tuân lệnh; các sĩ quan và binh sĩ thuộc Sư đoàn Độc lập của Quân khu tỉnh Hồ Bắc – đóng quân tại Vũ Hán – thậm chí còn tổ chức biểu tình vũ trang cùng với nhóm "Triệu Anh Hùng".

Vào ngày 20 tháng 7, một đám đông gồm các thành viên nhóm "Triệu Anh Hùng", cùng với sĩ quan và binh sĩ thuộc Sư đoàn Độc lập, đã xông vào Khách sạn Đông Hồ ở Vũ Hán. Họ bắt giữ và đưa ông lãnh tụ của nhóm đối lập đến trụ sở Quân khu Vũ Hán, và đã đánh đập thẩm vấn ông ta. Sự kiện này được gọi là "Sự kiện 20 tháng 7".

Tuy nhiên, điều mà họ không lường trước được là chính Mao đã gán cho nhóm "Triệu Anh Hùng" cái mác bảo hoàng. Ngay vào thời điểm họ đang xông vào Khách sạn Đông Hồ, Mao cũng đang ở cách đó chỉ một trăm mét. Ngay ngày hôm sau, Chu Ân Lai đã vội vã từ Bắc Kinh đến Vũ Hán cùng ba chiếc máy bay để đưa Mao rời đi Thượng Hải.

"Sự kiện ngày 20 tháng 7" đã gây chấn động mạnh đối với Mao. Trong bức thư gửi Giang Thanh đề ngày 4 tháng 8 năm 1967, ông ước tính rằng 75% các quân khu và lực lượng quân đội trú tại đó đã ủng hộ phe "Hữu khuynh"; do đó, ông đề xuất trang bị vũ khí mạnh cho phe "Tả khuynh". Và từ đó HVB bị chia thành hai phe hữu và tả, mặc dù họ đều tự cho mình là ‘ tuyệt đối trung thành với Mao ct’.

Thế rồi trong cả nước, trường học trở thành công sự được bao quanh bởi bàn ghế, xe ba gác, hàng rào dây thép gai... Họ đi cướp súng trong kho quân nhu, thậm chí quân đội cũng vào cuộc. Quân khu Trùng Khánh còn cho cả pháo cao xạ và xe tăng ra ủng hộ phe nhóm của mình. Khi những tiếng súng bùng nổ, những phát đạt bắn vào nhau, các chiến binh đua nhau hô vang : Mao ct vạn tuế, vạn vạn tuế, vạn vạn vạn tuế... cho đến khi ngã gục tắt thở.

Tình hình ngày càng trở nên căng thẳng, trước nguy cơ có thể dẫn đến nội chiến, sáng 28-7, Mao đã triệu tập khẩn cấp 5 “ Lãnh tụ lớn nhất” của các nhóm HVB lên gặp.

Trong 5 giờ nói chuyện đó, Mao đã nói với họ rằng: “ Hiện nay, nhân dân không vui, công nhân không vui, nông dân không vui, quân đội không vui, học sinh các trường cũng không vui.” Mao yêu cầu phải chấm dứt ngay các cuộc võ đấu lẫn nhau và cảnh báo rằng: “ Nếu những thiểu số người đó không nghe lời can ngăn, kiên quyết không sửa, thì đó là bọn thổ phỉ, bọn quốc dân đảng. Họ sẽ bị bao vây, nếu ngoan cố chống trả, sẽ bị tiêu diệt hết.”

Theo một báo cáo có tiêu đề ‘Những sự thật về các phong trào chính trị trong lịch sử kể từ khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa’ do bốn cơ quan, trong đó có Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Đảng thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng biên soạn, nêu rõ rằng: “ Trong thời kỳ võ đấu lẫn nhau của các phe HVB, đã có hơn 237.000 người thiệt mạng và hơn 7,03 triệu người bị thương hoặc tàn tật.".

Theo tạp chí Đại kỷ nguyên大纪元 thì, các học giả ước tính rằng số người thiệt mạng trong các cuộc võ đấu giữa phe phái, là từ hai đến ba triệu người, trong đó có ít nhất 500.000 người là thành viên HVB. Nhiều người dân kể lại rằng, bãi tha ma trên đồi núi là những nấm mồ không biển không tên, chỉ là những bãi đất bị cỏ hoang lấp kín.

Mao bắt đầu lo sợ chính đám trẻ đã từng cuồng nhiệt giúp ông diệt hết các đối thủ để giữ được độc quyền như ngày nay, và đã nghĩ ra thủ đoạn độc ác với những lời lẽ mỹ miều để loại khỏi mối đe dọa này. Mao lại một lần nữa cất tiếng kêu gọi phát động phong trào thanh niên "Lên núi xuống nông thôn", "Thanh niên trí thức phải chấp nhận sự giáo dục từ tầng lớp nông dân nghèo và trung nông lớp dưới,". Và Mao miêu tả cảnh: “ Nông thôn có bầu trời bao la, không gian rộng lớn mênh mông, thanh niên thỏa sức bay bổng, lập nên sự nghiệp huy hoàng!". Và cũng từ đó báo chí đã cho HVB một cái danh xưng mới: " Trí thức trẻ".

Hàng ngàn hàng ngàn chiếc xe tải nối đuôi nhau, đưa khoảng 20 triệu thanh niên thành thị đến nơi sa mạc không bóng người, lên vùng núi hoang vu khỉ ho cò gáy. Mao đã vắt chanh bỏ vỏ, đám HVB bị đi đày khổ sai.

Sau này đã có vô số cựu HVB viết hồi kỷ kể về trang sử đau buồn trong giai đoạn đó. Một trong những cuốn khá nổi tiếng là “ Giấc mơ của trí thức trẻ Trung Quốc” 中国知青梦 của tác giả Đặng Hiền 邓贤 .

Cuốn sách kể về số phận của chục ngàn ‘trí thức trẻ’ bị lưu đày đến vùng núi của tỉnh biên cương Vân Nam xa xôi, nơi mà không có cả tên trên bản đồ TQ. Họ được trang bị chục cân gạo, vài gói rau khô, cuốc xẻng, và phải tự tìm cách xây dựng cuộc sống của mình giữa rừng hoang vu chưa hề có bóng người. Họ tự chặt hết cây, san mặt bằng, xây những túp lều bằng cây và lá...Sau 10 năm, họ đã xây nên một nông trường với cuộc sống của người nông dân.

Tôi xin trích chuyển ngữ lại hai câu chuyện trong đó.
Vào lúc 11 giờ sáng, một nữ ‘ trí thức trẻ’ đến từ Thượng Hải tên là Từ Lĩnh Tiên chật vật bước đi trên con đường núi gập ghềnh, với cái bụng bầu nặng nề sắp đến ngày sinh con. Không có tiếng ồn ào huyên náo, chẳng có bụi mù mịt, chỉ có một tia nắng muộn cuối thu lặng lẽ xuyên qua tán lá, rải những vệt sáng loang lổ, đứt quãng lên người thiếu phụ trẻ đang thở dốc và sắp sửa làm mẹ.

Thỉnh thoảng, cô gái trẻ lại đứng thẳng người để lau mồ hôi trên trán hoặc tựa vào một cái cây bên đường để tranh thủ nghỉ lấy sức.

Dĩ nhiên, lúc này cô không nghĩ gì đến trên thế giới đang xảy ra những gì, cô chỉ nung nấu một khao khát cháy bỏng duy nhất: nhanh chóng vượt qua chặng đường dài còn lại để kịp đến bệnh viện sinh con.

Thế là, khi cô gái trẻ ấy, đã dành trọn mười năm lao động vất vả nơi hoang dã, đang nhọc nhằn bước về phía trạm y tế của nông trường với bao niềm hy vọng vào tương lai, cô hoàn toàn không hay biết rằng hành trình cuộc đời mình đang dần đi đến hồi kết. Một tai ương khủng khiếp đang chực chờ cô, bóng tối của tử thần đã giăng phủ xuống cô.

Dù có trí tưởng tượng phong phú đến đâu, người ta cũng khó lòng gọi tòa nhà cũ kỹ, tồi tàn tại Nông trường số 7, nơi chẳng khác nào một cái lều để chốn mưa chắn gió sơ sài, lại là "bệnh viện". Cũng như khó mà thực sự gọi ông Trình là "bác sĩ". Ông xuất thân từ gia đình bần nông và từng là anh nuôi trong quân đội, trình độ học vấn chỉ ở bậc tiểu học, còn kiến thức y khoa thì vỏn vẹn qua một khóa đào tạo "Y tế Đỏ" kéo dài ba tháng. Ấy vậy mà, ông Trình cùng các đồng nghiệp đã miệt mài làm việc suốt gần mười năm trời trong “ bệnh viện” rộng thênh thang nhưng tồi tàn ấy, một nơi chưa bao giờ được khử trùng đúng quy cách.

Bác sĩ Trình không hề tỏ ra lo lắng hay bối rối trước sự xuất hiện của người phụ nữ mang thai. Ông nhờ một bà họ hàng tốt bụng - một người phụ nữ lớn tuổi giàu kinh nghiệm đỡ đẻ - hỗ trợ mình, ông bình tĩnh “ tiệt trùng” từng dụng cụ đỡ đẻ, đeo găng tay cao su và kiên nhẫn ngồi chờ em bé chào đời.

Thế nhưng, cả buổi chiều trôi qua mà vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy thai nhi sắp sửa ra đời. Lúc này, tình thế trở nên khá bất cập, bởi cả bác sĩ lẫn sản phụ đều đến giờ ăn uống theo lịch trình sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, sau khi liếc nhìn đồng hồ ba lần liên tiếp, vị bác sĩ quyết định về nhà ăn tối ngay lập tức. Ông dặn dò bà già hãy trông chừng sản phụ và gọi ông nếu có chuyện phát sinh, ông vội vã rời khỏi phòng khám.

Bi kịch đã ập đến. Người sản phụ bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ khó khăn do thai nhi nằm ở tư thế ngôi ngang. Lúc này, bác sĩ đã vắng mặt hơn hai tiếng đồng hồ; người duy nhất ở cùng sản phụ trong phòng là bà già tốt bụng. Sau khi bà đỡ được đứa bé ra khỏi bụng mẹ, thì cơn ác mộng khiến mọi bác sĩ sản khoa đều khiếp sợ đã ập đến, người mẹ bị băng huyết dữ dội. Vào lúc 9 giờ 45 phút tối , cô gái " trí thức trẻ" đã trút hơi thở cuối cùng. Cả hai mẹ con đều không qua khỏi. Mãi đến sau 10 giờ 30 phút, người ta mới tìm thấy vị bác sĩ nọ, trong tình trạng say bí tỉ trong một túp lều tranh.

Ở góc của bệnh viện có một nhà xác thô sơ. Suốt mấy ngày liền, nơi vốn bị coi là chốn đáng sợ và thường bị người ta tránh né này bỗng chốc trở thành tâm điểm chú ý của dân địa phương. Từng dòng người " trí thức trẻ" nghe tin đã đổ xô về đây, chen chúc quanh khu vực nhà xác.

Người phụ nữ quá cố khoác trên mình bộ quân phục màu xanh lá mạ, trang phục của HVB, mái tóc được chải chuốt gọn gàng như thể chuẩn bị cho ngày hội, còn gương mặt được trang điểm nhẹ nhàng để che bớt phần nào vẻ đau đớn còn hằn trên đó. Sinh linh bé bỏng – một cuộc đời vừa chớm nở đã vội tắt – nằm cuộn mình trong miếng khăn ngay bên cạnh người mẹ. Cả hai mẹ con trông không giống những nạn nhân của một bi kịch, mà họ trông như thể chỉ đang chìm vào giấc ngủ say.

Những người đến viếng phần lớn là các " trí thức trẻ" của nông trường. Chồng cô, bố đứa trẻ bị điều đi một nông trường khác từ mấy tháng trước, bên kia núi, vài trăm cây số, và chẳng ai có thể bỏ cả tuần để đi những chặng đường mạo hiểm để báo cho anh. Bố mẹ người thân ở Thượng Hải, xa như ở tận trên trời, đâu có biết đã có người con rể, và đâu có biết con gái và đứa cháu đã lìa khỏi trần gian này.

Một câu chuyện khác nữa là.
Tại một nông trại với 50 ‘ trí thức trẻ’ toàn là nữ, họ sống giữa khu rừng hoang. Sau những năm tháng vất vả với bao mồ hôi nước mắt, họ đã xây được những túp lều tranh mái lá, đã trồng được vài bãi ngô để tự nuôi sống mình. Một ngày hè nóng bỏng, sau khi thu hết ngô ngoài đồng về, các cô ngồi ngoài hiên nghỉ ngơi và thưởng thức bữa tối sau ngày lao động nặng nhọc. Khi màn đêm phủ xuống, dưới ánh trăng mờ mờ, các cô nhìn thấy ở nơi xa có những đám khói trắng bay từ từ lên trời. Nhưng làm sao mà biết được, đó chính là báo hiệu của một thảm họa sắp tới.

Bình thản như mọi ngày, sau khi dọn dẹp và tắt hết đèn dầu, các cô lên giường và chìm ngay vào giấc ngủ, không hề ngờ rằng đó là những giây phút cuối cùng của đời mình.

Những làn khói trắng từ xa bắt đầu chuyển sang màu đỏ, những ngọn lửa bừng lên và lan nhanh theo gió, khu rừng cháy lan nhanh như chớp. Khi các cô gái ngửi thấy mùi khói vội vùng dậy chạy ra ngoài, thì những ngọn lửa đã bừng bừng trước mặt.

Vội vơ hết xô chậu tát nước vào lửa, nhưng vô ích. Các cô hô hoán: Chạy đi ...chạy đi...Nhưng biết hướng nào mà chạy, lửa đã bao vây cả tứ phía...Vài hôm sau, khi dân làng lên rừng tìm những con thú bị chết cháy để mang về ăn, mới phát hiện xác của 40 cô gái ‘ trí thức trẻ’ đen thui nằm ngổn ngang giữa những cây bị thui thành than. May có hai người sống sót với vết sẹo khiến họ trở thành người dị dạng.

Tháng 9-1976, Mao chết, vợ Mao là Giang Thanh cùng 4 người đồng bọn được gọi là “ tứ nhân bang” định tranh thủ cướp chính quyền. Tháng 10, nhóm người lãnh đạo do nguyên soái Diệp Kiếm Anh 叶剑英 đứng đầu đã bắt họ, và sau đó Giang Thanh cùng người nữa bị kết tội tử hình. Trong khi chờ thi hành án, Giang Thanh đã treo cổ tự tử.

Sau những sự kiện đó, hàng triệu HVB-trí thức trẻ đã từ nơi bị lưu đày ào ào kéo nhau trở về nhà, về những thành phố nơi họ sinh ra.

Thế nhưng họ trở thành những người không hộ khẩu, tất nhiên là không sổ gạo, không tem phiếu thực phẩm, và cũng không đồng xu dính túi. Có người may mắn được bố mẹ giang tay đón tiếp, nhưng cũng nhiều người khi gõ cửa nhà, đã bị bố mẹ khước từ không mở cửa cho vào. Và họ đã trở thành đám người vô gia cư, sống nơi đầu đường xó chợ.

Đầy oan ức, họ đi biểu tình đòi gặp phó chủ tịch Đặng Tiểu Bình - khi đó đã có nhiều quyền hạn.
Cùng với chính sách ‘ bình phản’ 平反, hồi phục lại danh dự và chức danh cho những người còn sống sót, đám HVB-trí thức trẻ cũng được hồi phục hộ khẩu, được đi học trở lại.
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom