- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,151
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Kỹ thuật in ấn của Đại Việt thời Quân chủ tụt hậu đến mức nào ?
Sự phát triển của kỹ thuật in ấn là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá tốc độ phổ biến tri thức và sự phát triển của một nền văn minh. Khi đặt lên bàn cân so sánh với các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á, sự thật lịch sử cho thấy kỹ thuật in ấn của Đại Việt thời quân chủ đã tụt hậu một khoảng cách rất xa, gần như giậm chân tại chỗ trong suốt nhiều thế kỷ.
Trong suốt chiều dài hàng ngàn năm của chế độ quân chủ, Đại Việt gần như bị mắc kẹt hoàn toàn trong kỹ thuật in mộc bản, tức là khắc chữ ngược lên các tấm gỗ. Chúng ta có 1000 năm Bắc thuộc, 20 năm thuộc Minh. Nhưng theo truyện miệng thì phải đến tận thế kỷ thứ 15, dưới thời Lê Sơ, danh nhân Lương Nhữ Hộc mới sang triều Minh học hỏi kỹ thuật in khắc mộc bản quy chuẩn để mang về truyền bá tại làng Liễu Tràng. Việc ông được tôn làm ông tổ nghề in của nước ta cho thấy trước thế kỷ 15, nghề in tại Đại Việt vô cùng manh mún và thô sơ.
Kỹ thuật mộc bản này tiếp tục được duy trì một cách độc tôn cho tới tận đầu thế kỷ 20 với đỉnh cao là kho Mộc bản triều Nguyễn, đòi hỏi hàng ngàn thợ thủ công phải cặm cụi đục đẽo từng chữ Hán hoặc chữ Nôm lên gỗ thị. Bằng chứng vật chất lớn nhất, đại diện cho đỉnh cao của kỹ thuật in ấn cung đình nước ta, chính là khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV ở Đà Lạt. Khối di sản gồm hơn 34.000 tấm ván gỗ, chủ yếu là gỗ thị và gỗ nha đồng, được khắc chữ Hán và chữ Nôm ngược để in bôi mực. Sự tồn tại của khối hiện vật đồ sộ này là minh chứng đanh thép nhất cho việc: cho đến tận thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hệ thống công nghệ in của triều đình nước ta vẫn hoàn toàn giậm chân ở kỹ thuật khắc ván thủ công cực kỳ tốn sức, chứ không hề có bất kỳ một sự chuyển mình nào sang công nghệ in chữ rời.
Đối chiếu với Trung Quốc, cái nôi của ngành xuất bản thế giới, khoảng cách công nghệ của Đại Việt được đo bằng đơn vị nhiều thế kỷ. Trong khi đến thời Lê Sơ kỷ nguyên mộc bản Đại Việt mới thành hình, thì Trung Quốc đã đạt đến độ tinh xảo tuyệt đối về in mộc bản từ thời nhà Đường, minh chứng bằng cuốn "Kim Cương Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh" in chính xác vào ngày 11 tháng 5 năm 868, được nhà khảo cổ Aurel Stein tìm thấy tại Đôn Hoàng với các nét khắc thanh đậm hoàn hảo.
Quan trọng hơn, Trung Quốc liên tục đột phá về công nghệ vật liệu in chữ rời.
Cuốn sách "Mộng khê bút đàm" do nhà bác học Thẩm Quát biên soạn năm 1088 đã ghi chép rành mạch việc kỹ sư Tất Thăng phát minh ra kỹ thuật in chữ rời bằng đất sét nung (giao nê) trong khoảng thời gian 1041-1048. Đến năm 1313 dưới triều nhà Nguyên, học giả Vương Trinh trong cuốn "Nông thư" đã mô tả chi tiết việc ông chế tạo thành công hơn 6 vạn chữ rời bằng gỗ khối, kết hợp với hai bàn xoay cơ học phân loại chữ theo vần để tăng tốc độ xếp chữ. Tới thời nhà Minh, cụ thể là năm 1490, thợ in Hoa Toại tại Vô Tích đã tiên phong ứng dụng kỹ thuật đúc chữ rời bằng hợp kim đồng để in hàng loạt bộ "Tống chư thần tấu nghị". Toàn bộ những cuộc cách mạng công nghệ từ đất sét, gỗ xoay đến hợp kim đồng kéo dài từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15 tại Trung Quốc đều hoàn toàn vắng bóng trong các thư tịch của kỹ thuật in Đại Việt.
Sự chậm tiến của Đại Việt càng trở nên vô lý và khó hiểu khi đặt cạnh cuộc cách mạng luyện kim trong in ấn của bán đảo Hàn Quốc dưới các triều đại Cao Ly (Goryeo) và Triều Tiên (Joseon).
Người Hàn Quốc là những người xác lập kỷ lục thế giới về kỹ thuật in chữ kim loại. Bằng chứng vật chất hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp là cuốn "Trực chỉ tâm thể yếu tiết" (Jikji) do thiền sư Baegun biên soạn, được đem in bằng bộ chữ rời bằng đồng tại chùa Heungdeok, thành phố Cheongju vào tháng 7 năm 1377, sớm hơn kinh thánh Gutenberg của châu Âu tới 78 năm. Không dừng lại ở việc in kinh Phật, các vị vua Triều Tiên đã nâng kỹ thuật đúc chữ thành một quốc sách.
Thư tịch cổ Hàn Quốc ghi rõ, năm 1403, vua Thái Tông (Taejong) đã thành lập cơ quan đúc chữ hoàng gia mang tên Chú tự sở (Jujaso) và đúc thành công bộ chữ đồng "Quý Mùi tự" (Gyemi) gồm hàng chục vạn ký tự.
Đến năm 1434, vua Thế Tông (Sejong) tiếp tục chỉ đạo đúc hơn 20 vạn chữ đồng "Giáp Dần tự" (Gabin) với nét khắc thanh tú và lắp ráp vừa vặn hoàn hảo lên khuôn in.
Năm 1447, nhà Triều Tiên thậm chí đúc bộ chữ rời cho bảng chữ cái Hangul để in tác phẩm "Nguyệt ấn thiên giang chi khúc".
Điều trớ trêu là lịch sử quân chủ Đại Việt từ Lý, Trần đến Nguyễn đều sản sinh ra những thợ đúc đồng kiệt xuất, thể hiện qua việc đúc An Nam tứ đại khí, chuông Quy Điền hay súng thần công của Hồ Nguyên Trừng, nhưng tuyệt nhiên không một triều đại nào, không một cá nhân nào có tư duy ứng dụng trình độ đúc đồng xuất sắc ấy vào việc đúc chữ in sách nhằm phổ biến tri thức.
Khi đưa lăng kính sang Nhật Bản, sự tụt hậu của Đại Việt không chỉ bộc lộ ở công nghệ kim khí mà còn ở sự yếu kém toàn diện trong kỹ thuật phối màu và năng lực thương mại hóa ngành xuất bản. Về quy mô sản xuất, ngay từ những năm 764 đến 770, Thiên hoàng Shotoku đã ra lệnh in mộc bản 1 triệu bản chú ngữ "Bách vạn tháp đà la ni" (Hyakumanto Darani) để phân phát cho các đền chùa. Đến năm 1615, Tướng quân Tokugawa Ieyasu đã học hỏi kỹ thuật từ Triều Tiên, ra lệnh đúc bộ chữ đồng 10 vạn ký tự mang tên "Surugaban" (Tuấn Hà bản) để in sách.
Dù sau đó Nhật Bản thời Edo chọn quay lại với mộc bản do đặc thù chữ viết Kana nối nét, nhưng họ đã biến kỹ thuật này thành một nền công nghiệp khổng lồ. Sự kiện chấn động ngành đồ họa thế giới diễn ra năm 1765 khi họa sĩ Suzuki Harunobu phát minh ra kỹ thuật in mộc bản đa sắc "Nishiki-e", sử dụng hàng chục bản khắc gỗ chồng lên nhau cho cùng một tờ giấy. Thợ khắc Nhật Bản có thể canh tọa độ chính xác tới từng milimet nhờ hệ thống rãnh căn lề (Kento) để tạo ra các kiệt tác tranh Ukiyo-e rực rỡ, tiêu biểu như bộ "Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ" của Hokusai xuất bản năm 1830.
Hơn thế nữa, ngành xuất bản thời Edo hoàn toàn là một ngành kinh tế tư nhân sôi động với các nhà xuất bản (Hanmoto) lừng danh như Tsutaya Juzaburo, cung cấp sách cho hơn 600 cửa hàng sách chỉ tính riêng tại thành Edo. Ở phía ngược lại, mộc bản Đại Việt cho đến tận thế kỷ 19, 20 vẫn chỉ trung thành với kỹ thuật in đơn sắc mực đen xơ xác. Nghề in tại Đại Việt bị độc quyền bởi triều đình (Quốc sử quán) và các trung tâm Phật giáo (chùa Vĩnh Nghiêm, Bổ Đà), phục vụ mục đích chính trị và tôn giáo, hoàn toàn không hình thành được các nhà xuất bản tư nhân hay thị trường sách giải trí đại chúng cho thị dân.
Sự phát triển của kỹ thuật in ấn là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá tốc độ phổ biến tri thức và sự phát triển của một nền văn minh. Khi đặt lên bàn cân so sánh với các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á, sự thật lịch sử cho thấy kỹ thuật in ấn của Đại Việt thời quân chủ đã tụt hậu một khoảng cách rất xa, gần như giậm chân tại chỗ trong suốt nhiều thế kỷ.
Trong suốt chiều dài hàng ngàn năm của chế độ quân chủ, Đại Việt gần như bị mắc kẹt hoàn toàn trong kỹ thuật in mộc bản, tức là khắc chữ ngược lên các tấm gỗ. Chúng ta có 1000 năm Bắc thuộc, 20 năm thuộc Minh. Nhưng theo truyện miệng thì phải đến tận thế kỷ thứ 15, dưới thời Lê Sơ, danh nhân Lương Nhữ Hộc mới sang triều Minh học hỏi kỹ thuật in khắc mộc bản quy chuẩn để mang về truyền bá tại làng Liễu Tràng. Việc ông được tôn làm ông tổ nghề in của nước ta cho thấy trước thế kỷ 15, nghề in tại Đại Việt vô cùng manh mún và thô sơ.
Kỹ thuật mộc bản này tiếp tục được duy trì một cách độc tôn cho tới tận đầu thế kỷ 20 với đỉnh cao là kho Mộc bản triều Nguyễn, đòi hỏi hàng ngàn thợ thủ công phải cặm cụi đục đẽo từng chữ Hán hoặc chữ Nôm lên gỗ thị. Bằng chứng vật chất lớn nhất, đại diện cho đỉnh cao của kỹ thuật in ấn cung đình nước ta, chính là khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV ở Đà Lạt. Khối di sản gồm hơn 34.000 tấm ván gỗ, chủ yếu là gỗ thị và gỗ nha đồng, được khắc chữ Hán và chữ Nôm ngược để in bôi mực. Sự tồn tại của khối hiện vật đồ sộ này là minh chứng đanh thép nhất cho việc: cho đến tận thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hệ thống công nghệ in của triều đình nước ta vẫn hoàn toàn giậm chân ở kỹ thuật khắc ván thủ công cực kỳ tốn sức, chứ không hề có bất kỳ một sự chuyển mình nào sang công nghệ in chữ rời.
Đối chiếu với Trung Quốc, cái nôi của ngành xuất bản thế giới, khoảng cách công nghệ của Đại Việt được đo bằng đơn vị nhiều thế kỷ. Trong khi đến thời Lê Sơ kỷ nguyên mộc bản Đại Việt mới thành hình, thì Trung Quốc đã đạt đến độ tinh xảo tuyệt đối về in mộc bản từ thời nhà Đường, minh chứng bằng cuốn "Kim Cương Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh" in chính xác vào ngày 11 tháng 5 năm 868, được nhà khảo cổ Aurel Stein tìm thấy tại Đôn Hoàng với các nét khắc thanh đậm hoàn hảo.
Quan trọng hơn, Trung Quốc liên tục đột phá về công nghệ vật liệu in chữ rời.
Cuốn sách "Mộng khê bút đàm" do nhà bác học Thẩm Quát biên soạn năm 1088 đã ghi chép rành mạch việc kỹ sư Tất Thăng phát minh ra kỹ thuật in chữ rời bằng đất sét nung (giao nê) trong khoảng thời gian 1041-1048. Đến năm 1313 dưới triều nhà Nguyên, học giả Vương Trinh trong cuốn "Nông thư" đã mô tả chi tiết việc ông chế tạo thành công hơn 6 vạn chữ rời bằng gỗ khối, kết hợp với hai bàn xoay cơ học phân loại chữ theo vần để tăng tốc độ xếp chữ. Tới thời nhà Minh, cụ thể là năm 1490, thợ in Hoa Toại tại Vô Tích đã tiên phong ứng dụng kỹ thuật đúc chữ rời bằng hợp kim đồng để in hàng loạt bộ "Tống chư thần tấu nghị". Toàn bộ những cuộc cách mạng công nghệ từ đất sét, gỗ xoay đến hợp kim đồng kéo dài từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15 tại Trung Quốc đều hoàn toàn vắng bóng trong các thư tịch của kỹ thuật in Đại Việt.
Sự chậm tiến của Đại Việt càng trở nên vô lý và khó hiểu khi đặt cạnh cuộc cách mạng luyện kim trong in ấn của bán đảo Hàn Quốc dưới các triều đại Cao Ly (Goryeo) và Triều Tiên (Joseon).
Người Hàn Quốc là những người xác lập kỷ lục thế giới về kỹ thuật in chữ kim loại. Bằng chứng vật chất hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp là cuốn "Trực chỉ tâm thể yếu tiết" (Jikji) do thiền sư Baegun biên soạn, được đem in bằng bộ chữ rời bằng đồng tại chùa Heungdeok, thành phố Cheongju vào tháng 7 năm 1377, sớm hơn kinh thánh Gutenberg của châu Âu tới 78 năm. Không dừng lại ở việc in kinh Phật, các vị vua Triều Tiên đã nâng kỹ thuật đúc chữ thành một quốc sách.
Thư tịch cổ Hàn Quốc ghi rõ, năm 1403, vua Thái Tông (Taejong) đã thành lập cơ quan đúc chữ hoàng gia mang tên Chú tự sở (Jujaso) và đúc thành công bộ chữ đồng "Quý Mùi tự" (Gyemi) gồm hàng chục vạn ký tự.
Đến năm 1434, vua Thế Tông (Sejong) tiếp tục chỉ đạo đúc hơn 20 vạn chữ đồng "Giáp Dần tự" (Gabin) với nét khắc thanh tú và lắp ráp vừa vặn hoàn hảo lên khuôn in.
Năm 1447, nhà Triều Tiên thậm chí đúc bộ chữ rời cho bảng chữ cái Hangul để in tác phẩm "Nguyệt ấn thiên giang chi khúc".
Điều trớ trêu là lịch sử quân chủ Đại Việt từ Lý, Trần đến Nguyễn đều sản sinh ra những thợ đúc đồng kiệt xuất, thể hiện qua việc đúc An Nam tứ đại khí, chuông Quy Điền hay súng thần công của Hồ Nguyên Trừng, nhưng tuyệt nhiên không một triều đại nào, không một cá nhân nào có tư duy ứng dụng trình độ đúc đồng xuất sắc ấy vào việc đúc chữ in sách nhằm phổ biến tri thức.
Khi đưa lăng kính sang Nhật Bản, sự tụt hậu của Đại Việt không chỉ bộc lộ ở công nghệ kim khí mà còn ở sự yếu kém toàn diện trong kỹ thuật phối màu và năng lực thương mại hóa ngành xuất bản. Về quy mô sản xuất, ngay từ những năm 764 đến 770, Thiên hoàng Shotoku đã ra lệnh in mộc bản 1 triệu bản chú ngữ "Bách vạn tháp đà la ni" (Hyakumanto Darani) để phân phát cho các đền chùa. Đến năm 1615, Tướng quân Tokugawa Ieyasu đã học hỏi kỹ thuật từ Triều Tiên, ra lệnh đúc bộ chữ đồng 10 vạn ký tự mang tên "Surugaban" (Tuấn Hà bản) để in sách.
Dù sau đó Nhật Bản thời Edo chọn quay lại với mộc bản do đặc thù chữ viết Kana nối nét, nhưng họ đã biến kỹ thuật này thành một nền công nghiệp khổng lồ. Sự kiện chấn động ngành đồ họa thế giới diễn ra năm 1765 khi họa sĩ Suzuki Harunobu phát minh ra kỹ thuật in mộc bản đa sắc "Nishiki-e", sử dụng hàng chục bản khắc gỗ chồng lên nhau cho cùng một tờ giấy. Thợ khắc Nhật Bản có thể canh tọa độ chính xác tới từng milimet nhờ hệ thống rãnh căn lề (Kento) để tạo ra các kiệt tác tranh Ukiyo-e rực rỡ, tiêu biểu như bộ "Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ" của Hokusai xuất bản năm 1830.
Hơn thế nữa, ngành xuất bản thời Edo hoàn toàn là một ngành kinh tế tư nhân sôi động với các nhà xuất bản (Hanmoto) lừng danh như Tsutaya Juzaburo, cung cấp sách cho hơn 600 cửa hàng sách chỉ tính riêng tại thành Edo. Ở phía ngược lại, mộc bản Đại Việt cho đến tận thế kỷ 19, 20 vẫn chỉ trung thành với kỹ thuật in đơn sắc mực đen xơ xác. Nghề in tại Đại Việt bị độc quyền bởi triều đình (Quốc sử quán) và các trung tâm Phật giáo (chùa Vĩnh Nghiêm, Bổ Đà), phục vụ mục đích chính trị và tôn giáo, hoàn toàn không hình thành được các nhà xuất bản tư nhân hay thị trường sách giải trí đại chúng cho thị dân.

