• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa - Cặp bài trùng trong lịch sử Việt Nam

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,180
Reaction score
0
Points
36
Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa - Cặp bài trùng trong lịch sử Việt Nam

Các nhà sử học như Keith Taylor trong The Birth of Vietnam hay Liam Kelley, khi nghiên cứu về cấu trúc quyền lực Việt Nam thời cổ - trung đại, đều nhấn mạnh rằng sự tồn tại song song của hai vùng đất có đặc tính khác nhau tạo nên một sự cân bằng động trong lịch sử Việt Nam. Thanh Hóa cung cấp bộ khung quản lý và duy trì nhà nước; Nghệ Tĩnh đóng vai trò như một lực kiểm soát, cảnh báo và kháng cự khi bộ máy nhà nước đi chệch hướng hoặc trở nên áp bức.

William J. Duiker và David G. Marr, khi viết về lịch sử cách mạng Việt Nam, đều nhấn mạnh Nghệ Tĩnh là vùng mang đặc sản địa phương về mặt chính trị: nơi sản sinh những nhà kỹ trị xuất sắc nhất nhưng cũng là nơi sẵn sàng tạo ra những lực lượng đối lập kiên cường nhất nếu trung ương quản lý sai lầm. Đây không phải đặc điểm bất thường mà là hệ quả tất yếu từ cùng một nền tảng: tính kiên định, tính thực tế và tính gắn kết cộng đồng cao. Những phẩm chất đó làm cho họ vừa là chỗ dựa vững chắc nhất, vừa là lực lượng phản kháng quyết liệt nhất, tùy vào cách họ bị đối xử.


1. Thần xứ Nghệ.
Để hiểu tại sao Nghệ An - Hà Tĩnh liên tục xuất hiện trong lịch sử như một tiêu điểm về phản kháng, từ Xô Viết Nghệ Tĩnh đến cuộc nổi dậy chống Cải cách ruộng đất đến xu hướng phản biện mạnh mẽ trong thời hiện đại, các nhà nghiên cứu quốc tế về lịch sử, xã hội học và nhân chủng học thường không quy chiếu về ý thức hệ, mà nhìn qua lăng kính địa - văn hóa, đặc tính cộng đồng và điều kiện kinh tế - xã hội.

Dân gian Việt Nam có câu "gàn xứ Nghệ". Dưới góc nhìn nhân chủng học, cái "gàn" này không mang nghĩa tiêu cực đơn thuần mà phản ánh một kiểu tính cách đặc trưng: kiên định đến mức bướng bỉnh, thẳng thắn, không dễ khuất phục, và có ý thức tự tôn rất cao. Nghệ An trong lịch sử phong kiến là vùng "phên dậu", nơi đầu sóng ngọn gió, phải liên tục đối mặt với thiên tai khắc nghiệt gồm bão lũ, hạn hán, gió Lào khô nóng và nạn ngoại xâm. Hoàn cảnh đó hun đúc nên một cộng đồng có tính gắn kết nội bộ cực kỳ mạnh mẽ, nhưng đồng thời hoài nghi sâu sắc đối với mọi quyền lực đến từ bên ngoài.

Đây cũng là vùng đất hiếu học nhưng nghèo khó. Nhiều vĩ nhân và nhà trí thức có tư tưởng duy tân, phản biện xuất thân từ đây, Phan Bội Châu và Nguyễn Trường Tộ là hai trường hợp tiêu biểu, dù theo hai con đường khác nhau. Phan Bội Châu đối kháng trực tiếp với hệ thống thực dân từ bên ngoài. Nguyễn Trường Tộ ngược lại: ông gửi hàng loạt điều trần cải cách lên triều Nguyễn, phản biện từ bên trong hệ thống bằng lập luận thẳng thắn, chấp nhận làm phật lòng triều đình để bảo vệ điều ông tin là đúng. Hai hình thức khác nhau nhưng cùng một cấu trúc tâm lý: dùng tư duy lý luận để xét đoán tính chính danh của quyền lực, không khuất phục khi nhận ra sai lầm.

Trong văn hóa triều đình xưa, "thần xứ Nghệ" nổi tiếng là những gián quan, tức quan chuyên can ngăn vua, hoặc những vị quan thanh liêm nhưng cứng đầu. Họ không trung thành theo kiểu vâng dạ và nịnh bợ để giữ ghế. Họ trung thành bằng cách nói thẳng, nói thật, chấp nhận làm mất lòng vua, thậm chí chấp nhận bị bãi chức hoặc xử tử để bảo vệ lẽ phải. Người cai trị yếu kém thường coi sự thẳng thắn này là phản nghịch.

Nghệ An và Hà Tĩnh đã sản sinh những vị tướng lĩnh, tể tướng, công thần và nhà tư tưởng xuất sắc như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, những người phò tá và định hình đất nước qua nhiều triều đại. Trường hợp Mai Thúc Loan - Mai Hắc Đế - thuộc một loại hình khác: ông không phải bề tôi phò tá mà là người lãnh đạo khởi nghĩa chống nhà Đường năm 722, tự xưng hoàng đế và lập ra vương triều riêng, minh họa cho tầng nghĩa thứ hai của chữ "thần", tức khí tiết và sức kháng cự, hơn là nghĩa công thần. Nét chung của tất cả những nhân vật này không phải là sự phục tùng mà là tính kiên định với nguyên tắc và sự thẳng thắn.

Cụm từ "thần xứ Nghệ" đặt cạnh lịch sử phản kháng của vùng đất này thoạt nghe như mâu thuẫn. Nhưng sự mâu thuẫn này biến mất khi bóc tách khái niệm "trung thành" theo tâm lý học chính trị. Sự trung thành của người xứ Nghệ không hướng vào thể chế hay cá nhân nắm quyền, mà hướng vào lý tưởng và đạo nghĩa mà họ tin là đúng. Khi chính quyền đại diện cho lý tưởng đó, họ trung thành đến mức tử vì đạo. Khi chính quyền phản bội lý tưởng đó, chính cái lòng trung thành với đạo nghĩa nguyên bản thúc đẩy họ đứng lên phản kháng. Nói cách khác, phản kháng của người xứ Nghệ không phải là sự phủ nhận chữ "trung" mà là hình thức thực thi nó.

Khi đã tin vào một lý tưởng, người xứ Nghệ theo đến cùng. Khi nhận ra sự bất công hoặc dối trá, họ cũng là những người phản kháng quyết liệt nhất. Cơ chế tâm lý này giải thích tại sao cùng một vùng đất vừa có thể là bảo lũy của cách mạng lẫn trung tâm của phản kháng chống lại chính cách mạng đó.

Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 thường được chính quyền Việt Nam mô tả là đỉnh cao của phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Các nhà sử học quốc tế, dựa trên văn khố Pháp và các nghiên cứu độc lập, đưa ra một đọc khác: động lực gốc rễ thúc đẩy nông dân Nghệ Tĩnh nổi dậy là sự khốn cùng kinh tế - cụ thể là thuế khóa nặng nề của thực dân, nạn đói và mất mùa - kết hợp với cấu trúc làng xã có tính tự quản cao. Người nông dân đi theo lý tưởng cộng sản thời sơ khai không phải vì họ đã nội hóa học thuyết Marx-Lenin, mà vì nó hứa hẹn "ruộng đất cho dân cày" và xóa bỏ bất công, những nội dung ăn khớp trực tiếp với nhu cầu sinh tồn cụ thể của họ.

Ngày 12 tháng 9 năm 1930, hơn 8.000 nông dân huyện Hưng Nguyên xuống đường, đoàn biểu tình kéo dài liên tục khi đi về phía thành phố Vinh và lên đến khoảng 30.000 người, xếp hàng dài gần bốn kilomet khi đến gần Vinh. Thực dân Pháp điều máy bay ném bom và xả súng vào đoàn biểu tình; các nguồn ghi nhận 217 người chết và 125 người bị thương, hai làng Lộc Châu và Lộc Hải bị thiêu rụi hoàn toàn. Thay vì dập tắt phong trào, đòn đàn áp đó khiến bộ máy chính quyền thực dân và phong kiến tại nhiều huyện tê liệt hoàn toàn, người dân tự đứng ra điều hành làng xã theo mô hình chính quyền tự quản. Chính quyền Xô viết hình thành ở hàng loạt thôn xã hai tỉnh, nhưng chỉ tồn tại bốn đến năm tháng trước khi bị đàn áp bằng đợt khủng bố quy mô lớn từ giữa năm 1931.

James C. Scott trong tác phẩm The Moral Economy of the Peasant lấy chính phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh làm trường hợp điển hình để xây dựng luận điểm trung tâm: nông dân nổi dậy không phải vì ý thức hệ cao siêu, mà vì chính quyền đã vi phạm "hạn mức sinh tồn tối thiểu" của họ.

Xu hướng ly hương của người Nghệ Tĩnh có nguồn gốc từ đầu thế kỷ 20, và đây là một yếu tố nền quan trọng để hiểu các đợt phản kháng. Áp lực đất chật người đông không phải là hiện tượng mới. Trong thời Pháp thuộc, vùng ven biển Trung Kỳ bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh là một trong những nguồn cung cấp phu mộ chính cho các đồn điền cao su ở Nam Kỳ.

Cảng Bến Thủy ở Nghệ An là một trong bốn điểm tập trung và vận chuyển lao động từ Trung Kỳ vào Nam Kỳ thời thuộc địa, bên cạnh Hải Phòng, Đà Nẵng và Quy Nhơn. Lao động di cư đến các đồn điền của Michelin và các công ty khác chủ yếu đến từ đồng bằng châu thổ Bắc Kỳ và vùng ven biển Trung Kỳ, trong đó Nghệ Tĩnh đóng góp một phần đáng kể.

Những người đi theo hình thức hợp đồng có thời hạn, thường năm năm, trong điều kiện được học giả gọi là "lao động khế ước": về hình thức tự nguyện nhưng thực chất bị ràng buộc bởi cảnh nghèo khó và thông tin bịp bợm của các nhà mộ phu. Không phải tất cả đều trở về: một số ở lại Nam Kỳ, một số chết vì sốt rét và điều kiện lao động khắc nghiệt.

Câu ca lưu truyền trong dân gian thời đó "Cao su đi dễ khó về, khi đi trai tráng khi về bủng beo" phản ánh trực tiếp số phận của thế hệ phu mộ đó. Những người trở về mang theo kinh nghiệm va chạm trực tiếp với hệ thống bóc lột tư bản thuộc địa, đây là một trong những cơ sở giải thích tại sao phong trào Xô Viết 1930 bùng phát mạnh ở một vùng đất vừa trải qua thế hệ công nhân di cư đầu tiên.

Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ 1955-1975 cung cấp điểm kiểm tra ngược lại: khi lý tưởng còn nguyên vẹn và kẻ thù rõ ràng là ngoại xâm, người Nghệ Tĩnh trở lại là lực lượng trung thành và hy sinh không giới hạn.

Nghệ An và Hà Tĩnh là những vùng hứng chịu bom B-52 ác liệt nhất ở miền Bắc, với thành phố Vinh bị san phẳng gần như hoàn toàn và tuyến đường Trường Sơn qua Hà Tĩnh trở thành trọng điểm đánh phá liên tục, nhưng người dân vừa chịu đựng điều đó vừa đóng góp nhân lực cho chiến trường miền Nam ở mức cao so với dân số.

Sang thời hiện đại, xu hướng phản biện tiếp tục biểu hiện qua ít nhất ba yếu tố có thể phân tích độc lập với ngôn ngữ tuyên giáo.

Thứ nhất là sự nhạy cảm đặc biệt với bất công xã hội. Người Nghệ Tĩnh thẳng tính và có truyền thống sĩ phu mạnh. Khi đối mặt với tham nhũng, sự cửa quyền của quan chức địa phương, hoặc các chính sách bị coi là bất hợp lý - điển hình là sự cố môi trường Formosa Hà Tĩnh năm 2016 và các tranh chấp đền bù đất đai - họ phản ứng nhanh, công khai và có tổ chức hơn nhiều vùng khác.

Sở dĩ phản ứng ở đây thường có hình thức và tổ chức là vì cấu trúc làng xã tự quản cao đã tạo sẵn khung phối hợp tập thể ở cấp cơ sở. Không cần ai từ trên xuống dàn dựng, người dân đã có cơ chế ra quyết định chung. Phản kháng ở Nghệ Tĩnh vì thế nhanh và bền hơn ở các vùng làng xã phụ thuộc nhiều hơn vào trung gian nhà nước.

Thứ hai là xu hướng ly hương kéo dài đến hiện đại, chỉ thay đổi điểm đến. Ngày nay Nghệ Tĩnh là một trong những vùng có số lượng người đi xuất khẩu lao động và định cư nước ngoài đông nhất Việt Nam, đến Đông Âu, Tây Âu, Anh, Nhật, Hàn Quốc.

Góc khuất về mức độ di cư đó đã được hé lộ phần nào một cách thảm khốc vào tháng 10 năm 2019, khi 39 người Việt Nam chết trong thùng container đông lạnh tại hạt Essex, Anh.

Trong danh sách 39 nạn nhân được công bố, Nghệ An có 21 người và Hà Tĩnh có 10 người, tức 31 trên 39 nạn nhân, gần 80%, đến từ hai tỉnh này. Họ là những người đã trả từ 10.000 đến 30.000 đô la để được đưa lậu sang Anh, tích cóp từ gia đình và vay mượn, vì không còn con đường nào khác để thoát khỏi cảnh thu nhập thấp ở quê nhà.

Hệ quả là dòng kiều hối lớn đổ về, cùng với đó là sự cọ xát trực tiếp với hệ thống pháp lý, quyền công dân và điều kiện sống ở các xã hội khác. Người trở về mang theo khả năng so sánh có số liệu cụ thể, và sự so sánh đó tự nhiên sản sinh tư duy phản biện độc lập mà truyền thông một chiều không còn đủ sức định hướng. Hiệu ứng này mạnh hơn ở Nghệ Tĩnh so với nhiều vùng cũng có xuất khẩu lao động vì nó va chạm trực tiếp với cái nền tính cách vốn đã thẳng thắn và không dễ chấp nhận bất công.

Thứ ba là vai trò của cộng đồng Công giáo. Trước khi tách thành hai giáo phận vào năm 2018, Giáo phận Vinh có hơn 523.000 giáo dân trên địa bàn ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, là giáo phận có số giáo dân đông thứ ba cả nước. Sau khi tách, riêng Giáo phận Vinh trên địa bàn Nghệ An vẫn có khoảng 300.000 giáo dân, chiếm gần 9% dân số tỉnh, một tỷ lệ rất cao so với mức trung bình toàn quốc. Cộng đồng này có hệ thống giá trị tinh thần tồn tại độc lập với hệ tư tưởng nhà nước. Khi xảy ra va chạm lợi ích, sự gắn kết qua mạng lưới giáo xứ chuyển hóa thành sức kháng cự tập thể có tổ chức. Điển hình là vụ Formosa năm 2016, khi nhà máy thép Đài Loan xả thải độc làm cá chết hàng loạt dọc hơn 200 kilomet bờ biển, ảnh hưởng đến sinh kế của gần 41.000 ngư dân theo báo cáo chính phủ gửi Quốc hội. Hàng nghìn giáo dân trong các giáo xứ ven biển Nghệ An tổ chức được các đoàn kiến nghị, đám đông biểu tình và đơn tập thể lên Quốc hội.

Tài liệu nghiên cứu thường gộp chung "Nghệ Tĩnh" như một thực thể văn hóa thống nhất, nhưng sự phân biệt nội bộ giữa Nghệ An và Hà Tĩnh đáng được ghi nhận.

Hà Tĩnh về mặt văn hóa có phần khép kín và bảo thủ hơn, với tính cộng đồng làng xã đậm đặc và ít chịu ảnh hưởng từ các luồng di dân. Nghệ An, đặc biệt vùng ven biển và đồng bằng sông Lam, nơi tập trung dân số lớn và có mật độ tiếp xúc thương mại cao hơn, năng động hơn về mặt chính trị và dễ tập hợp lực lượng phản kháng có quy mô. Thảm họa Formosa năm 2016 cũng cho thấy sự phân hóa khá rõ: các cuộc biểu tình lớn nhất bùng phát từ các huyện ven biển Nghệ An, trong khi Hà Tĩnh, nơi đặt nhà máy Formosa, phản ứng thông qua kiến nghị và kiện tụng cá nhân nhiều hơn là biểu tình đám đông. Sự khác biệt này không phủ nhận luận điểm chung về bản sắc Nghệ Tĩnh, nhưng cho thấy rằng tính phản kháng không phân bố đều mà tập trung mạnh hơn ở những địa bàn có mật độ va chạm với quyền lực bên ngoài cao nhất.

2. Thanh Hóa: Đất phát tích Vương Triều và tâm lý "hướng Tâm"
Nếu Nghệ Tĩnh là vùng đất phản biện và hoài nghi quyền lực trung ương, thì Thanh Hóa lại có một cá tính chính trị gần như đối lập, dù cả hai nằm liền kề và có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên. Câu dân gian "Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần" hay đầy đủ hơn là "Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ" đúc kết một quan sát lịch sử rất cụ thể: Thanh Hóa là nơi sinh ra nhiều dòng họ quân phiệt và vương triều nhất trong lịch sử Việt Nam.

Nhà Tiền Lê (Lê Hoàn), nhà Hồ (Hồ Quý Ly), nhà Hậu Lê (Lê Lợi), chúa Trịnh, chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng, đều có gốc Thanh Hóa. Tây Đô (nay thuộc Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) từng là kinh đô của nhà Hồ. Lịch sử đó tạo nên một tập quán văn hóa sâu: người Thanh Hóa có xu hướng "hướng tâm", hướng về trung ương, tự hào về tính chính thống, và có tư duy thiết lập trật tự xã hội hơn là phản biện nó.

Địa hình Thanh Hóa kết hợp đồng bằng nhỏ, thung lũng và núi đồi rừng rậm, điển hình là vùng Lam Sơn. Cấu trúc địa lý đó tạo điều kiện cho các dòng họ lớn như họ Lê, họ Trịnh, họ Nguyễn phát triển thành các thế lực hào trưởng có tính tự chủ cao về kinh tế và quân sự. Họ không chấp nhận sự cai trị và tước đoạt trực tiếp từ các quan lại phương Bắc. Và vì sau mỗi lần kháng Bắc thành công, người tổ chức được cuộc kháng chiến là người nắm quyền tối cao, nên Thanh Hóa không chỉ chống ngoại bang mà còn tiến về Thăng Long để làm vua, một quy luật lặp lại nhiều lần trong lịch sử.

Nhận định Thanh Hóa chống phương Bắc quyết liệt hơn vùng lõi Bắc Bộ có cơ sở từ góc độ địa - chính trị và có thể lý giải qua hai yếu tố bổ sung cho nhau.

Yếu tố đầu tiên là khoảng cách địa lý và mức độ bị đồng hóa. Vùng lõi Bắc Bộ, tên gọi cổ là Giao Chỉ, nằm sát biên giới và là nơi chịu làn sóng đồng hóa trực tiếp, liên tục và nặng nề nhất từ các triều đại phương Bắc suốt hàng nghìn năm. Khi có biến cố xâm lược, Bắc Bộ là vùng bị chiếm đóng đầu tiên và chịu sức ép quân sự trực tiếp nhất. Điều đó dẫn đến việc giới tinh hoa Bắc Bộ thời phong kiến phát triển một tư duy ngoại giao thực dụng, mềm dẻo, có xu hướng tìm cách sống chung và hòa hoãn để tồn tại.

Thanh Hóa, tên gọi cổ là Ái Châu, nằm cách biệt qua dãy Tam Điệp, ở vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và miền Trung. Khoảng cách đó đủ xa để không bị đồng hóa triệt để, nhưng đủ gần để chứng kiến và gánh chịu hậu quả của các cuộc xâm lược.

Khi Bắc Bộ thất thủ, Thanh Hóa trở thành bảo lũy tích lũy lực lượng và xây dựng căn cứ kháng chiến. Khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi chống nhà Minh là ví dụ điển hình nhất, nhưng trước đó Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền, cả hai tập hợp hào trưởng từ vùng Ái Châu, cũng theo đúng mô hình này: chờ thời cơ tại Thanh Hóa, tiến ra Bắc đánh bại quân Nam Hán, rồi nắm quyền kiểm soát đất nước.

Trường hợp Triệu Thị Trinh năm 248 có khác biệt: bà nổi dậy trực tiếp tại Cửu Chân dưới ách đô hộ nhà Ngô đang cai trị toàn bộ lãnh thổ, không theo mô hình "tích lũy tại Thanh Hóa rồi tiến ra Bắc", và cuộc khởi nghĩa thất bại sau vài tháng. Bà là biểu tượng kháng cự của vùng đất này, nhưng thuộc một loại hình khởi nghĩa khác.

Xu hướng trung thành với chính quyền hiện tại mà một số quan sát viên ghi nhận ở Thanh Hóa thời Cộng sản không phải là hiện tượng mới xuất hiện, mà là sự tiếp nối của tâm lý tôn trọng trật tự chính thống đó. Thanh Hóa là một trong những tỉnh có số lượng đảng viên và sĩ quan quân đội đóng góp cho trung ương nhiều nhất cả nước.

Đối với người Thanh Hóa, bảo vệ chính quyền hiện tại thường được nhìn nhận là bảo vệ sự ổn định của quốc gia, và qua đó, bảo vệ vị thế chính trị của chính vùng đất này trong cấu trúc quyền lực tổng thể. Thanh Hóa liên tục duy trì được mật độ đại diện trong bộ máy trung ương vượt trội so với quy mô dân số, một thực tế phản ánh trọng lượng chính trị tích lũy qua nhiều thế hệ chứ không chỉ là kết quả của một giai đoạn cụ thể.

Điều này khác về bản chất với sự trung thành đặc trưng hơn của Nghệ Tĩnh, vốn là trung thành hướng lý tưởng: đề cao công lý và đạo nghĩa hơn trật tự thể chế.

Sự gắn kết của người Thanh Hóa biểu hiện qua việc cùng nhau nắm giữ quyền lực trung ương, tính kết phe chính trị cao. Khi có sai lầm, xu hướng của Thanh Hóa là dàn xếp nội bộ, sửa sai trong im lặng để bảo vệ cấu trúc quyền lực tổng thể.

Nghệ Tĩnh thì ngược lại: sự gắn kết của họ hướng vào bảo vệ làng xã và đức tin cá nhân, mang tính tự quản địa phương cao hơn là xây dựng liên minh quyền lực từ trên xuống. Khi bị chèn ép, hệ quả không phải là vận động hành lang kín mà là phản biện công khai và đấu tranh trực diện.
Buddy Up - Văn hóa xã hội
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom