• KIDS GARAGE SALE | WHEN: Sat & Sun, Aug 29-30, 8:30 AM - 3:00 PM | WHERE: Ponita Cafe, 198B Nguyen Van Huong, Thao Dien

Nhà Nguyễn chống quân Xiêm xâm lược 1833-1834

Tài liệu 
  • Thread starter Thread starter BuddyUp
  • Start date Start date
  • Replies 0
  • Views 19

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,639
Reaction score
0
Points
36
Nhà Nguyễn chống quân Xiêm xâm lược 1833-1834

1. Mỗi quan hệ mật thiết giữa Xiêm với Chân Lạp

Từ khi Chao Phraya Chakri lên ngôi năm 1782 - sau đó lấy hiệu là Rama I - cho đến khi Nguyễn Ánh xưng đế, lấy hiệu là Gia Long năm 1802, trong giai đoạn đầu những năm 1800, Xiêm gần như độc quyền thao túng, chi phối tình hình chính trị, quân sự ở Chân Lạp, trong khi Việt Nam đang trong tình trạng nội chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn.

- Khoảng thời gian này quốc hiệu của Việt Nam là Việt Nam. Sau đó đổi tên thành Đại Nam từ năm 1838 đến 1945, dưới thời nhà Nguyễn, từ vua Minh Mạng đến vua Bảo Đại.
- Quốc hiệu của Campuchia là Chân Lạp. Thời nhà Nguyễn được gọi với tên phổ biến hơn là Cao Miên. Đổi tên thành Trấn Tây Thành từ cuối năm 1834 đến đầu năm 1835, do vua Minh Mạng đã sáp nhập phần lớn lãnh thổ Campuchia vào nước Việt Nam khi đó.
- Quốc hiệu Thái Lan là Xiêm ( hay còn gọi là Xiêm La ). Đổi tên thành Thái Lan từ năm 1939.


Năm 1796, Rama I đưa hoàng tử Ang Chan (sử nhà Nguyễn thường gọi là Nặc Chăn), con trai của vua Ang Eng, lên làm vua Chân Lạp khi mới 5 tuổi. Xiêm còn cử một viên quan Chân Lạp thân Xiêm tên là Pok làm quan nhiếp chính cho Chân Lạp mà hầu như không gặp cản trở gì.

Trước đó, vua Ang Eng cũng được nuôi dưỡng tại Bangkok từ nhỏ. Các con của ông gồm Ang Chan, Ang Snuong, Ang Em, Ang Duong cũng được triều đình Bangkok nuôi dưỡng.

Một trong những chính sách được thực hiện từ lâu trong lịch sử quan hệ Xiêm - Chân Lạp là nuôi dưỡng, đào tạo các hoàng tử Khmer thân Xiêm để đưa lên ngôi vua Chân Lạp khi có điều kiện thuận lợi, nhằm gây ảnh hưởng và thao túng vương quốc này.

Kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu về sau, các chúa Nguyễn dần lấy hết đất Chiêm Thành, lại lấn sang đất Chân Lạp. Do đó, theo Việt Nam sử lược thì:
Người Xiêm La có ý muốn ngăn trở để giữ lấy Chân Lạp làm của mình. Nhưng vì thế chúa Nguyễn mạnh hơn, cho nên phải chịu để chúa Nguyễn sang bảo hộ Chân Lạp. Tuy vậy, nước Xiêm La thường hay dùng những người phản đối với vua Chân Lạp, rồi giúp binh lực cho về làm loạn trong nước.

Nhiều khi quân Việt phải sang đánh đuổi quân Xiêm La để giúp quốc vương Chân Lạp. Cũng có khi quân Xiêm La sang đánh ở đất Hà Tiên, như năm Ất Mùi (1715), Tân Mão (1771)... Lại có khi sang sinh sự với những nước ở Lào. Hễ khi nào Xiêm và Lào đánh nhau thì nhà vua sai quan quân phòng giữ những chỗ biên thùy và sang cứu viện những nước bị người Xiêm bắt nạt, như năm Đinh Hợi (1827)...

Do bị kìm kẹp giữa hai quốc gia hùng mạnh, vua Ang Chan phải thi hành chính sách “chư hầu kép”: đồng thời thần phục cả Xiêm lẫn Việt Nam.

Năm 1807, Ang Chan quyết định ngả hẳn sang phía Việt Nam bằng cách xin vua Gia Long cho thụ phong và cống nạp. Điều này được Việt Nam chấp nhận, còn Xiêm tỏ ra khiên cưỡng, vì nó khiến ảnh hưởng của Xiêm tại Chân Lạp bị giảm sút nghiêm trọng.

Từ thời vua Ang Eng cho đến khi vua Ang Chan lên ngôi, Xiêm đã tốn công nuôi dưỡng và xây dựng hệ thống quan lại Chân Lạp thân Xiêm, nay lại bị Việt Nam gây ảnh hưởng. Tuy nhiên, vua Rama I và Gia Long vốn có mối thâm tình từ thuở trước, nên cả hai bên đã chấp nhận chia sẻ quyền lực tại Chân Lạp.

Sau khi vua Rama I mất (1809), vua Rama II lên nối ngôi, đã cho quân Xiêm hỗ trợ các em trai thân Xiêm của Ang Chan trở lại tranh giành ngôi vua Chân Lạp vào những năm 1812–1813 và 1814, nhằm phá bỏ cục diện nói trên để giành lại ảnh hưởng ở Chân Lạp, nhưng không thành công.

Bên cạnh đó, do còn phải đương đầu với Miến Điện ở phía tây, Xiêm không thể tập trung sức lực vào việc cạnh tranh ảnh hưởng với Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi Miến Điện thua Anh trong cuộc chiến 1824–1826, Xiêm quay sang bành trướng về hướng đông.

Từ sau khi các vua Rama I, Rama II và Gia Long mất, quan hệ Xiêm - Việt không còn mối ràng buộc hữu nghị nữa. Các vua nối ngôi ở hai nước là Rama III và Minh Mạng đã đẩy quan hệ hai nước tới bờ vực chiến tranh.

Vua Xiêm mới là Rama III đã thẳng tay bình định cuộc nổi dậy của Chậu A Nụ (Anouvong, 1827–1829), biến Lào thành một tỉnh của Xiêm (1831). Đồng thời, Xiêm cũng chờ cơ hội thuận tiện để can thiệp quân sự vào Việt Nam.

2. Cuộc tấn công của quân Xiêm

Tháng 6 năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi khởi binh chống vua Minh Mạng ở đất Gia Định. Vài tháng sau, vì yếu thế, Lê Văn Khôi cho người sang cầu cứu Xiêm La. Không bỏ lỡ cơ hội, vua Rama III liền sai tướng (Chiêu) Phi Nhã Chất Tri (còn gọi là tướng Bodin, Chao Phraya Bodindecha) và Phi Nhã Phật Lăng (Phra Klang, Tish Bunnag) dẫn hàng nghìn quân thủy, bộ, chia thành 5 đạo sang đánh Việt Nam.

Phía Xiêm La, gồm 5 đạo quân, có nhiệm vụ như sau:
- Đạo thứ nhất từ tỉnh Battambang, theo đường bộ tiến vào Chân Lạp, chiếm Nam Vang, rồi đi dọc sông Mê Kông xuống Châu Đốc để tiến tới Gia Định. Đây là cánh quân quan trọng nhất, do Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya Bodin Decha, còn gọi là Bodin) chỉ huy, gồm khoảng 40.000 quân bộ binh.

- Đạo thứ hai tiến bằng đường thủy, từ Chanthaburi qua vịnh Thái Lan, đánh vào Hà Tiên, với khoảng 10.000 quân thủy, do Phi Nhã Phật Lăng chỉ huy. (còn gọi là Lord Phra Klang, Là đại quý tộc của Xiêm - tên Tish Bunnag - với tước hiệu Prayurawongse, là người nắm quyền toàn bộ chính sách đối ngoại của Xiêm).

- Đạo thứ ba theo đường bộ đánh chiếm Cam Lộ (Quảng Trị).

- Đạo thứ tư theo đường bộ đánh chiếm Nghệ An.

- Đạo thứ năm theo đường bộ đánh chiếm Trấn Ninh.


Tuy năm đạo quân cùng tiến, nhưng mục đích chính của Xiêm là đánh chiếm Chân Lạp và các tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam. Vì vậy, chỉ đạo quân thứ nhất và thứ hai có lực lượng đông đảo, hùng mạnh; các đạo quân còn lại chủ yếu nhằm phân tán lực lượng quân Việt Nam.

Trong cánh quân do tướng Bodin chỉ huy có hai hoàng tử Chân Lạp là Ang Em và Ang Duong đi cùng. Họ từng chạy sang Xiêm cùng với người anh là Ang Suguon (Nặc Ong Nguyên) và sống tại Bangkok từ năm 1812. Ang Suguon sau đó qua đời tại Xiêm vào năm 1822.

Ngoài ra, còn có sự tham gia tích cực của hai viên quan người Chân Lạp là Kâu và Preah Ang Kêv Ma. Hai người này đã rời bỏ Chân Lạp, chạy sang tị nạn tại triều đình Bangkok từ một năm trước đó.

Bốn người này được giao chỉ huy bốn phân đội tiến công vào Chân Lạp. Nhiệm vụ của các đội quân này là “quét hết quân đội Việt Nam trong đất Chân Lạp”, sau đó tuyển thêm người Khmer để bổ sung lực lượng. Tiếp đó, họ vượt qua Chân Lạp, đánh chiếm thành Châu Đốc, nằm ở cửa kênh Vĩnh Tế, nhằm phối hợp với cánh quân thủy của Phra Klang sẽ tiến đến đây.

Việt Nam ngay sau khi nhận được tin cấp báo, vua Minh Mạng lập tức xuống chiếu sai quan quân phòng ngự các nơi.
- Phía Tây Nam: Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lấy quân ở Gia Định, giữ mặt An Giang. Sau đó, Tống Phước Lương và Phạm Hữu Tâm cũng đem binh đến chi viện.
- Phía Tây Bắc: Lê Văn Thụy giữ mặt Cam Lộ, thuộc Quảng Trị.
- Phía Nghệ An: Phạm Văn Điển trấn giữ.
- Phía Trấn Ninh: Nguyễn Văn Xuân trấn giữ.


3. Diễn biến chiến sự hai bên
Về phía quân Xiêm:

Quân của Bodin tiến vào Chân Lạp khá dễ dàng, quân Việt Nam đóng tại đây đã rút về nước để tăng cường lực lượng chống Lê Văn Khôi. Quân Xiêm chỉ gặp một cuộc chống cự đáng kể tại trận Kampong Chhnang, nơi quân Chân Lạp đã gấp rút tổ chức lực lượng nhằm cố gắng chặn đứng quân Xiêm, nhưng không thành công.

Sau trận đánh này, vua Ang Chan phải rời bỏ thủ đô Nam Vang, chạy đến ẩn náu tại dinh Long Hồ, Vĩnh Long. Bodin cho hoàng tử Ang Em đóng quân tại thành Oudong, còn Ang Duong đóng quân tại thành Nam Vang để thu phục dân chúng Chân Lạp.

Trong đợt tấn công đầu tiên, quân Xiêm làm chủ tình thế.

Tháng 11, quân Xiêm chiếm được thành Nam Vang rồi chia quân thành hai đạo tiến vào Việt Nam. Cánh quân của Phra Klang tràn vào Hà Tiên, hầu như không gặp phải sự kháng cự đáng kể nào.

Tháng 1 năm 1834. Tại mặt trận Hà Tiên, quân của Ngô Văn Loan đánh chìm được ba tàu chiến của quân Xiêm, cầm chân đối phương trong vài ngày, nhưng cuối cùng thành Hà Tiên vẫn thất thủ. Quân nhà Nguyễn bị yếu thế, rút lui về củng cố hệ thống phòng ngự quy mô ở Sa Đéc.

Phra Klang để lại tại Hà Tiên một đội pháo nhỏ, rồi theo kênh Vĩnh Tế tiến lên phía thành Châu Đốc để hội quân với Bodin, lúc này đang từ Nam Vang theo sông Hậu tiến xuống. Tỉnh An Giang nhanh chóng thất thủ.

Quân Xiêm thừa thắng, từ Ba Nam, Chân Lạp, cho chiến thuyền xuôi xuống theo sông Tiền, tập trung quân và lập nhiều đồn trại ở hai bên sông Thuận Cảng ( sông Vàm Nao, An Giang ngày nay).

Về phía quân Việt Nam:
Tin cấp báo về đến Huế cho biết quân Xiêm đang tấn công ồ ạt vào Hà Tiên, nhưng cả triều đình lẫn vua Minh Mạng vẫn còn “bán tín bán nghi”. Tuy nhiên, nhà vua vẫn khẩn cấp điều động một đơn vị cấm quân cùng 500 hương dũng, dùng thuyền tiến vào Nam Bộ.

Đồng thời, vua Minh Mạng cấp cho tỉnh An Giang 10 chiến thuyền; các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường và Hà Tiên, mỗi tỉnh từ 5 đến 7 chiếc; cấp cho Vĩnh Long 3.000 cân thuốc súng; An Giang và Định Tường, mỗi tỉnh 2.000 cân; Hà Tiên 1.000 cân. Nhà vua cũng cấp đại bác cho mỗi tỉnh từ 5 đến 10 khẩu, mỗi khẩu có 100 viên đạn.

Việc điều động được tiến hành một cách bí mật để tránh khiến dân chúng hoang mang, lo sợ. Ngoài ra, vua Minh Mạng còn lệnh cho các tỉnh An Giang, Hà Tiên và Định Tường bổ sung từ 200 đến 500 hương dũng, nhằm chuẩn bị lực lượng tiến đến đóng giữ Nam Vang.

Sau đó, tại kinh đô Huế, Minh Mạng còn cấp tốc điều động hai đơn vị thủy quân và lục quân, cùng nhiều thuyền lớn, voi chiến, súng đạn; đồng thời huy động gần 10.000 quân từ các tỉnh tiến vào Gia Định để phối hợp với lực lượng tại chỗ chống lại quân Xiêm.

Cuối tháng 12 năm 1833, quân Việt Nam do Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân chỉ huy tiến tới An Giang, giao chiến với quân Xiêm tại Thuận Cảng. Quân Đại Nam sau đó lui về sông Cổ Hỗ để ngăn chặn quân Xiêm. Hai bên cầm cự và tiếp tục giao tranh trên sông.

Cùng thời điểm đó, quân Xiêm huy động quân Vạn Tượng, với hơn 1.000 quân, tiến vào đất Quảng Trị. Minh Mạng cho rằng đây chỉ là động thái hư trương thanh thế, trong khi chiến trường chính vẫn nằm ở phía Nam, nên sai Vệ úy Lê Văn Thụy ra phòng giữ.

Vài ngày sau, quân Xiêm tiếp tục lấn vào Trấn Ninh, thuộc Nghệ An. Quân Việt Nam do Nguyễn Đức Long chỉ huy lui về giữ động Giăng Màn.

Quân Xiêm tiến đến đóng tại khe Nhự Ổi, rồi tiến vào bờ sông Hiển Bôn. Dân các huyện Cam Cát (tức Khăm Cợt hay Khamkeuth, thuộc tỉnh Bolikhamxai ngày nay) và Cam Môn báo tin cho trấn thủ Ngàn Phố (tức Hà Tĩnh). Bố chánh Nguyễn Đình Tân và Án sát Võ Đĩnh liền mang quân ra phòng giữ. Quân Xiêm cũng án binh, không tiến thêm.

Nhằm phân tán lực lượng quân Nguyễn, đồng thời tạo điều kiện để Xiêm tập trung lực lượng giành thắng lợi tại chiến trường chính ở Hà Tiên và Chân Lạp, Rama III ra lệnh cho các đơn vị quân Xiêm – Lào từ Luang Prabang và Nông Khai (Nong Khai, Thái Lan) tập trung tại Trấn Ninh, Xiêng Khoảng và các vùng biên giới Việt Nam từ Nghệ An đến Quảng Trị để tiến hành tấn công, quấy phá và bắt người đưa về Xiêm.

Quân Xiêm tăng cường các hoạt động quấy phá những bản mường dọc biên giới Việt – Lào trên quy mô lớn, đồng thời thực hiện chính sách di dời người Phuôn, chủ yếu ở Trấn Ninh. Những hoạt động này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh vùng biên giới của Việt Nam, buộc các quan lại địa phương, thậm chí có lúc cả triều đình Nguyễn, phải tìm cách ứng phó và giải quyết.

Theo Đại Nam thực lục, vào cuối tháng 12 năm 1833, Xiêm cho quân xâm chiếm đất Trấn Tĩnh thuộc Nghệ An, đưa thư yêu cầu Trấn Ninh giao nộp những người dân Viêng Chăn còn lưu lại ở đó.

Mặt khác, quân Xiêm tấn công phủ Trấn Định, xâm phạm các huyện Cam Lộ, Cam Cát và Cam Môn. Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1834, Xiêm tiếp tục tăng cường các hoạt động tấn công, quấy phá và bắt người tại những vùng nói trên.

Đến ngày 29/1/1834 ( năm Giáp Ngọv), thủy quân Xiêm từ Thuận Cảng (tức sông Vàm Nao) tiến đánh quân Việt Nam đang đóng tại rạch Củ Hủ. Khi ấy, lợi dụng lúc nước xuống, quân Xiêm men theo bờ sông, phóng hỏa đốt bè nhằm ngăn trở thủy quân Việt Nam, rồi tiến lên tấn công. Quản vệ Phạm Hữu Tâm đốc binh chống trả từ giờ Dần đến giờ Tỵ, chém nhiều quân Xiêm.

Cuộc đụng độ quân sự lớn đã diễn ra tại đây, nơi 2 cuộc tấn công thủy - bộ quy mô của Xiêm bị quân Việt Nam bẻ gãy. Thất bại này đã giáng đòn mạnh vào hàng ngũ chỉ huy của quân Xiêm. Đã có sự tranh cãi lớn giữa 2 nhóm quân thủy - bộ. Trong khi Chao Phraya Bodin yêu cầu chỉnh đốn lại hàng ngũ, trừng phạt những người sai phạm và tiếp tục tiến quân thì chỉ huy quân thủy yêu cầu rút lui.

Đề cập đến chiến công này, Minh Mạng chính yếu chép:
“Giặc Xiêm dẫn binh thuyền hơn trăm chiếc, từ Thuận Cảng xuôi xuống, dàn ngang giữa dòng sông để chống lại thuyền của quân ta, lại đánh đồn của ta đóng bên tả ngạn. Quản vệ giữ đồn là Phạm Hữu Tâm chống đánh, chém kẻ cầm đầu của giặc là Phi Nhã Khổ Lặc. Giặc dựng trại đối diện đồn, ngày đêm dùng đại bác bắn phá. Ta chờ quân chi viện. Nhưng giặc ở phía thượng nguồn bèn nhân đêm tối, thừa lúc nước ròng, men theo hai bên tả hữu bờ sông, phóng lửa đốt thuyền quân ta, rồi đem quân đến đồn phía tả ngạn mà đánh từ giờ Dần đến giờ Tỵ. Quân giặc chết nhiều, thây chồng lên nhau. Giặc liền lui...”

Đại Nam thực lục chép chi tiết hơn:
“Trước kia, bọn Giảng từ Thuận Cảng lui đóng ở sông Cổ Hỗ, đặt đồn ở hai bên bờ làm thế ỷ giốc. Sau đó vài ngày, Tướng quân Tống Phước Lương lại đến. Giặc Xiêm dẫn hơn 100 binh thuyền từ Thuận Cảng xuống, dàn ngang giữa dòng sông, cầm cự chu sư của ta, lại vây đánh đồn ở bờ bên tả. Quản vệ giữ đồn là Phạm Hữu Tâm cự chiến, chém được tên đại đầu mục giặc là Phi Nhã Khổ Lạc và hơn 20 đầu giặc. Giặc dựng trại đối diện với lũy ta, ngày đêm bắn đại bác. Quân ta có người bị thương và chết. Bọn Giảng cho rằng thế giặc đương dữ tợn, hung hăng, bèn phi tư cho quân thứ Gia Định phái thêm binh thuyền đến tiếp ứng. Bấy giờ vừa gặp Tham tán Hồ Văn Khuê đến quân thứ. Trần Văn Năng liền bàn, ủy Văn Khuê đi giúp việc quân. Lại phái Phó vệ úy vệ Hậu thủy Nguyễn Tiến Khoan đem hơn 300 binh dõng và 7 chiếc thuyền, đồng thời cùng tiến. Rồi đem việc tâu lên.”

4. Tình hình chiến sự tại Chân Lạp và các mặt trận phía Tây
Quân Xiêm tiếp tục củng cố lực lượng tại khu vực biên giới Chân Lạp – Xiêm, đồng thời đưa Ang Chan trở lại ngôi vua.

Cho đến đầu tháng 3 năm 1834, tướng Xiêm Bodin mới trở về được Battambang với khoảng 3.000 tàn quân, sau khi đã chịu tổn thất nặng nề. Toán quân này được chia làm bốn nơi đóng giữ tại Battambang, không trở về Xiêm.

Em của vua Rama III là Thôn-kha-long-danh-hoà từ Bangkok đem 2.000 quân đến đóng tại Bồn Khương để hỗ trợ, đồng thời truyền hịch thúc giục Bodin trở về.

Tuy nhiên, Bodin không chịu về, lấy lý do rằng: “Quyết lấy cho được Chân Lạp, thề chẳng về nước Xiêm”. Theo sử liệu triều Nguyễn, Bodin không chịu trở về chẳng qua vì ông “sợ bại trận trở về chẳng được người nước Xiêm đếm xỉa đến nữa”.

Trong khi đó, tại mặt trận Quảng Trị, Vệ úy trấn giữ Cam Lộ của Việt Nam là Lê Văn Thụy ra quân đánh quân Xiêm ở Thú Kê và giành thắng lợi. Lê Văn Thụy tiếp tục tiến đánh các đồn Tầm Bồn và Mang Bổng, khiến quân Xiêm phải bỏ đồn chạy về.

Quân Xiêm chưa chịu ngừng chiến, lại đem 5.000 quân đánh đồn Công Nhạc thuộc châu Mang Bổng và đạo Cam Lộ. Lê Văn Thụy tiếp tục xuất quân đánh lui quân địch, bắt được tướng Xiêm là Mạc Sát Khôn La Mân và tướng Khiếu, đồng thời thu được nhiều súng.

Tháng 2 năm 1834, quân Xiêm lại tiến đánh châu Ba Lan ở Cam Lộ, nhưng cũng bị Lê Văn Thụy, Phạm Phi, Nguyễn Cửu Đức và các tướng khác đánh lui.

Tại Trấn Ninh, Nghệ An, Phạm Văn Điển được lệnh đem quân ra chi viện cho Nguyễn Đức Long và Lê Thuận Tĩnh.

Tháng 2 năm 1834, Lê Thuận Tĩnh giao chiến với quân Xiêm tại động Giăng Màn nhưng bị thất bại, tướng Phan Văn Sĩ tử trận. Quân Việt Nam phải lui về giữ Trú Cẩm. Sau đó, Minh Mạng lại cử Nguyễn Văn Xuân đem quân ra chi viện và đánh lui quân Xiêm.

Đánh giá về trận thủy chiến chính trong cuộc đối đầu này, nhà văn Sơn Nam viết:
“Trận thủy chiến trên Vàm Nao là trận ác chiến, mang tầm chiến lược quan trọng. Quân Xiêm dùng hỏa công, thả bè lửa theo nước ròng (thủy triều rút ra biển) chảy xiết để đốt chiến thuyền quân Việt. Trận chiến kéo dài từ khoảng 3 giờ khuya đến 10 giờ trưa mới dứt. Nếu quân Việt không ngăn được, quân Xiêm sẽ xuống Sa Đéc rồi Rạch Gầm, Mỹ Tho...”

Quân Xiêm tiến đánh Việt Nam lần thứ hai từ tháng 1 năm Giáp Ngọ (1834). Đến tháng 5 cùng năm, quân nhà Nguyễn đã bình định xong các mặt trận. Vua Minh Mạng mừng rỡ, ban thưởng cho các tướng sĩ và bố cáo cho mọi nơi đều biết.

Quân Xiêm rút lui, trong khi quân nổi dậy của Lê Văn Khôi tại thành Phiên An cũng không còn lực lượng hỗ trợ, chỉ có thể cố thủ trong thành cho đến khi thành bị hạ vào tháng 9 năm 1835.

Khi rút chạy, Phra Klang cướp thuyền biển, đưa theo khoảng 2.000 người Việt, phần lớn theo đạo Thiên Chúa và ít nhiều có liên hệ với cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, về sinh sống ở vùng ngoại thành Bangkok. Về sau, Xiêm sử dụng một bộ phận trong số những người này để gây rối ở khu vực biên giới Việt Nam – Chân Lạp.

Trước khi rời bỏ Nam Vang, quân Xiêm đốt phá dinh thự của vua Ang Chan. Đồng thời, lợi dụng tình thế rút lui, quân Xiêm bắt nhiều người Khmer sinh sống dọc sông Tonlé Sap và một số nơi khác đưa về Xiêm.

Cuộc tấn công bất ngờ của Xiêm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ bang giao giữa hai nước. Việt Nam và Xiêm cắt đứt quan hệ, mở ra một thời kỳ căng thẳng, xung đột và chiến tranh trên đất Chân Lạp kéo dài hơn 10 năm, từ cuối năm 1833 đến đầu năm 1847.

Thắng lợi trong cuộc chiến này tạo điều kiện để Việt Nam dưới thời vua Minh Mạng khôi phục và củng cố quyền bảo hộ đối với phần lớn lãnh thổ Chân Lạp. Sau chiến thắng, Minh Mạng quyết định sáp nhập toàn bộ vùng đất Chân Lạp nằm dưới quyền bảo hộ của Việt Nam vào lãnh thổ Việt Nam và đặt tên là Trấn Tây thành, sau khi vua Ang Chan II qua đời mà không có con trai nối dõi.

Cơ mật viện nhà Nguyễn sau đó đã biên tập 15 quyển phương lược, dựa trên ghi chép về các tấu sớ và chỉ dụ của Minh Mệnh liên quan tới cuộc chiến này. Đoạn dưới đây là nhận định của nhà vua về cuộc chiến đó:
“Trước kia Nam Kỳ ngẫu nhiên có giặc Xiêm đến lấn, quan quân ở Gia Định đến nơi đánh. Lần đầu đánh nhau đã đem hơn 1 vạn giặc Xiêm giết tan, mũi nhọn quân ta lừng lẫy, đi đến đâu không ai ngăn trở được, bọn giặc sợ binh uy ta, chưa đầy tháng đều đã nghe tin chạy vỡ. Các nơi Châu Đốc, Hà Tiên, Nam Vang lần lượt thu phục, đã là không phiền binh lực mà giặc đã dẹp yên, công ấy chẳng nhỏ.”

Năm Minh Mạng thứ 16 (1836), Trương Minh Giảng dâng biểu xin vua Minh Mạng chia Cao Miên thành 33 phủ, gồm: Nam Vang, Kỳ Tô (Thời Thâu), Tầm Đôn (Tầm Giun), Tuy Lạp (Xui Rạp), Ba Nam (Ba Cầu Nam), Ba Lại (Ba Lầy), Bình Tiêm (Bông Xiêm), Kha Bát (Lợi Ỷ Bát), Lư Viên, Hải Đông (Bông Xui), Hải Tây (Phủ Lật), Kim Trường, Thâu Trung (phủ Trung), Ca Âu (Ca Khu), Vọng Vân, Trung Hà, Trưng Lai (Trưng Lệ), Sơn Phủ, Sơn Bốc, Tầm Vu (Mạt Tầm Vu), Khai Biên, Kha Lâm (Ca Rừng), Ca Thê, Lạp Cẩm, Bài Lô, Việt Long, Tôn Quảng, Biên Hóa, Di Chấn Tài, Ý Dĩ (Phủ Phủ), Chân Thành (Châu Chiêm; về sau thuộc huyện Hà Dương, An Giang), Mật Luật (về sau thuộc huyện Tây Xuyên, An Giang), Ô Môn (về sau thuộc huyện Phong Phú, An Giang), cùng hai man là Cân Chế và Cân Dò.

Sau đó, triều Nguyễn cử quan lại đến cai trị. Các tước hiệu và chức quan bản địa của Chân Lạp bị bãi bỏ, thay vào đó áp dụng quan chế của nhà Nguyễn. Lê Đại Cương (sau được thay bằng Dương Văn Phong) được cử làm Tham tán đại thần; đồng thời triều đình cắt đặt các chức Hiệp tán, Đề đốc, Lãnh binh, Lang trung, Viên ngoại lang, Giáo thụ, Huấn đạo.

Nhờ có thắng lợi này mà cán cân quyền lực ở Đông Nam Á lục địa cân bằng trở lại, và vì thế duy trì sự tồn tại của Lào và Campuchia như vùng đệm cho tới khi chủ nghĩa thực dân Pháp xác lập trên bán đảo Đông Dương.
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom