- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,462
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Những giới hạn của "Tại sao các quốc gia thất bại"
Cuốn "Tại sao các quốc gia thất bại" (Why Nations Fail) của Daron Acemoglu và James Robinson là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của kinh tế học thể chế trong hai thập niên qua.
Luận điểm trung tâm của hai tác giả là thể chế kinh tế và chính trị, chứ không phải địa lý, khí hậu hay đặc điểm văn hóa, mới là nguyên nhân quyết định vì sao một số quốc gia giàu còn một số quốc gia nghèo.
Để chứng minh, Acemoglu và Robinson dựa vào các "thí nghiệm tự nhiên", tức những trường hợp cùng một cộng đồng dân cư nhưng bị chia cắt bởi một đường biên giới thể chế.
- Thành phố Nogales bị chia đôi bởi biên giới Mỹ - Mexico là ví dụ tiêu biểu nhất: cùng một vùng đất, cùng một gốc gác dân cư, nhưng nửa thuộc bang Arizona có thu nhập bình quân cao hơn hẳn nửa thuộc Mexico.
- Bán đảo Triều Tiên là ví dụ thứ hai: trước năm 1945, người dân hai miền Nam Bắc có chung nguồn gốc dân tộc, chung nền văn hóa Nho giáo, nhưng sau vài thập niên bị chia tách bởi hai thể chế đối lập, khoảng cách thu nhập giữa hai miền đã giãn ra hàng chục lần.
Từ đó, hai tác giả kết luận rằng khi giữ nguyên yếu tố con người mà chỉ thay đổi luật chơi thể chế, kết quả phát triển vẫn thay đổi triệt để, nên thể chế mới là biến số quyết định ở cấp độ vĩ mô.
1. Rào cản của các tiếp cận thuần thể chế trong học thuật Phương Tây
"Tại sao các quốc gia thất bại" thực ra không lờ đi giả thuyết văn hóa mà dành hẳn một chương để trực tiếp bác bỏ nó, dùng chính trường hợp Triều Tiên làm ví dụ trung tâm: hai miền từng chung một nền văn hóa Nho giáo trước năm 1945 nhưng lại phát triển khác hẳn nhau sau khi bị chia tách bởi thể chế, nên theo hai tác giả, văn hóa không thể là biến số giải thích chính.
Cách hai tác giả bác bỏ giả thuyết văn hóa, cũng như giả thuyết địa lý và giả thuyết thiếu hiểu biết của giới lãnh đạo, bằng cách chọn ra những cặp so sánh có lợi cho lập luận thể chế của mình, tự nó cũng phản ánh một xu hướng chung của khoa học xã hội phương Tây từ sau Thế chiến hai.
Sau các phong trào dân quyền và sự sụp đổ của các học thuyết ưu sinh từng bị chủ nghĩa thực dân và phát xít lợi dụng, việc gán cho một cộng đồng hay quốc gia những đặc tính như lười biếng, kém kỷ luật hay yếu kém về văn hóa trở thành điều gần như cấm kỵ trong giới hàn lâm, vì nó dễ bị quy kết là phân biệt chủng tộc hoặc biện minh cho bất bình đẳng có sẵn.
Bên cạnh đó còn có lý do thực dụng về mặt chính sách: nếu kết luận một quốc gia nghèo vì thể chế độc tài hay chiếm đoạt, nhà hoạch định chính sách có một hướng đi rõ ràng là cải cách thể chế, còn nếu kết luận nguyên nhân nằm ở văn hóa hay năng lực con người, sẽ không có công cụ chính sách nào can thiệp trực tiếp được.
Hệ quả là phần lớn khoa học xã hội chính thống phương Tây trong vài thập niên qua nghiêng hẳn về việc giải thích bất bình đẳng bằng cấu trúc xã hội, coi con người ở mọi nơi về cơ bản là những đơn vị đồng nhất, còn khác biệt về kết quả hoàn toàn do hoàn cảnh khách quan áp đặt.
Điều này không chỉ diễn ra ở cấp độ so sánh giữa các quốc gia mà cả ở cấp độ cá nhân: một người giàu hơn thường được mặc định là nhờ điều kiện gia đình, còn một người nghèo hơn được mặc định là do hoàn cảnh, trong khi khả năng người thứ nhất đơn giản là chăm chỉ và có năng lực hơn người thứ hai hiếm khi được đặt ra như một giả thuyết nghiêm túc.
Chỉ cần nêu câu hỏi liệu một cá nhân có thể giàu hơn một cá nhân khác vì chăm chỉ hơn, người nêu câu hỏi đó cũng dễ bị quy kết ngay là đang phân biệt chủng tộc hoặc thiếu nhân văn, bất kể câu hỏi đó có nhắc đến chủng tộc hay không.
2. Những trường phái phản biện cách giải thích thuần thể chế
Nhiều nhà kinh tế học và sử học từng lập luận theo hướng khác với cách tiếp cận thuần thể chế của Acemoglu và Robinson, dù phần lớn các tác phẩm của họ ra đời trước hoặc cùng thời điểm với "Tại sao các quốc gia thất bại" (xuất bản năm 2012) nên không phải là những phản biện trực tiếp nhắm vào cuốn sách này, mà là các dòng nghiên cứu độc lập về vai trò của văn hóa và vốn xã hội trong phát triển.
Nhà kinh tế học Thomas Sowell, sử gia David Landes qua cuốn "The Wealth and Poverty of Nations" xuất bản năm 1998, hay nhà xã hội học Robert Putnam, lập luận rằng thể chế không tự sinh ra từ hư không mà chính con người và văn hóa của họ tạo nên thể chế.
Theo trường phái này, một cộng đồng coi trọng việc học, tính tiết kiệm, kỷ luật lao động và niềm tin xã hội cao, như nhiều cộng đồng gốc Đông Á hay cộng đồng Do Thái, khi đặt vào bất kỳ thể chế nào cũng có xu hướng vươn lên nhanh hơn, còn nếu đem một thể chế tiên tiến kiểu Thụy Sĩ áp vào một xã hội thiếu niềm tin và coi thường luật pháp, thể chế đó cũng có nguy cơ biến chất thành tham nhũng.
Trường phái địa lý và sinh thái, với đại diện là nhà địa lý học Jared Diamond qua cuốn "Súng, vi trùng và thép" và nhà kinh tế học Jeffrey Sachs, phản bác rằng Acemoglu và Robinson đã gạt yếu tố địa lý ra khỏi phương trình một cách gượng ép. Theo họ, khí hậu nhiệt đới với dịch bệnh nặng nề, đất đai kém phong hóa và thiếu đường giao thương đường thủy tự nhiên tạo ra những cái bẫy nghèo đói mang tính cấu trúc tự nhiên, tồn tại độc lập với việc thể chế đó dân chủ hay độc tài.
Mô hình phát triển của Trung Quốc, Singapore hay Hàn Quốc dưới thời Park Chung-hee cũng thường được nêu ra như một thách thức với lý thuyết thuần thể chế. Trung Quốc vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong khi vẫn duy trì một thể chế chính trị tập quyền, thuộc loại mà chính Acemoglu và Robinson xếp vào nhóm "thể chế chiếm đoạt".
Bản thân hai tác giả cũng dành riêng một chương để bàn về khả năng tăng trưởng dưới thể chế chiếm đoạt, thừa nhận rằng những mô hình huy động vốn và lao động tập trung kiểu Liên Xô thời Stalin hay Trung Quốc hiện nay có thể tạo ra tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng dự đoán kiểu tăng trưởng này khó bền vững về dài hạn vì thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo rộng rãi.
Giới phê bình cho rằng dự đoán này vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ trong thực tế, khi Trung Quốc đã duy trì tăng trưởng cao suốt nhiều thập niên, nên đây vẫn là một điểm còn để ngỏ hơn là một khiếm khuyết bị hai tác giả bỏ qua.
3. Thomas Showell và quan điểm văn hóa, vốn con người
Thomas Sowell, nhà kinh tế học lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Chicago dưới sự hướng dẫn của George Stigler và thuộc trường phái kinh tế học Chicago, từng giảng dạy tại Cornell, Amherst và UCLA trước khi trở thành học giả cao cấp tại Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, là một trong những tiếng nói phản biện quyết liệt nhất đối với xu hướng giải thích bất bình đẳng thuần bằng cấu trúc xã hội.
Trong cuốn "A Conflict of Visions" xuất bản năm 1987, Sowell chia tư duy chính trị xã hội thành hai nhóm đối lập.
- Nhóm thứ nhất, mà ông gọi là "tầm nhìn không bị ràng buộc", coi bản chất con người có thể nhào nặn được, nên mọi bất bình đẳng về kết quả đều là bất thường, là hệ quả của một xã hội vận hành sai lệch, bị áp bức hoặc phân biệt đối xử, và muốn sửa thì phải dùng nhà nước để tái cấu trúc xã hội.
- Nhóm thứ hai, mà ông gọi là "tầm nhìn bị ràng buộc" và tự nhận mình thuộc về, cho rằng con người có những giới hạn cố định về năng lực và thiên hướng, nên khác biệt về kết quả giữa các cá nhân và các nhóm là trạng thái tự nhiên của thế giới chứ không phải hiện tượng bất thường cần tìm thủ phạm để đổ lỗi.
Trong các tác phẩm như "Black Rednecks and White Liberals", "Race and Culture" hay "Discrimination and Disparities", Sowell định nghĩa văn hóa không phải là âm nhạc hay ẩm thực mà là tập hợp các kỹ năng, thói quen lao động, thái độ với giáo dục, tính tiết kiệm, kỷ luật và khả năng trì hoãn hưởng thụ. Ô
ng cho rằng chính sự khác biệt về những yếu tố này, chứ không phải nạn phân biệt đối xử, mới giải thích được phần lớn chênh lệch thu nhập giữa các cộng đồng.
Dẫn chứng ông thường nêu là cộng đồng người Do Thái và người Hoa: dù di cư đến đâu, châu Âu, Đông Nam Á hay Bắc Mỹ, họ đều từng gặp sự bài xích, kỳ thị và cả những rào cản pháp lý bất lợi, nhưng ở hầu hết những nơi họ định cư, họ vẫn vươn lên nhóm có thu nhập cao nhờ nền tảng văn hóa coi trọng học vấn, buôn bán và tiết kiệm.
Một dẫn chứng khác trong "Ethnic America" là sự khác biệt giữa người da đen nhập cư từ vùng Caribbean và người da đen sinh ra tại Mỹ: theo số liệu ông trích dẫn, nhóm nhập cư Caribbean có thu nhập, trình độ học vấn và tỷ lệ sở hữu doanh nghiệp cao hơn đáng kể so với nhóm bản địa, dù họ cùng màu da và sống dưới cùng một hệ thống luật pháp, và Sowell quy sự khác biệt này về thái độ lao động và văn hóa ứng xử mà nhóm nhập cư mang theo.
Theo Sowell, tiền bạc không phải của cải thực sự mà chỉ là thước đo năng lực tạo ra giá trị cho người khác, nên một cá nhân hay cộng đồng chấp nhận làm việc nhiều giờ hơn, đầu tư nhiều năm để học những kỹ năng khó, tự nhiên sẽ có thu nhập cao hơn nhóm chỉ muốn công việc nhẹ nhàng.
Ông cũng phản đối cách nhiều nhà xã hội học phương Tây quy toàn bộ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm sắc tộc cho nạn phân biệt đối xử mà bỏ qua sự khác biệt về độ tuổi trung bình, nơi cư trú hay số năm kinh nghiệm giữa các cộng đồng.
Sowell dẫn ví dụ độ tuổi trung bình của người Mỹ gốc Nhật cao hơn khá nhiều so với người Mỹ gốc Latinh, nên nhóm gốc Nhật có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tích lũy hơn và thu nhập bình quân theo đó cũng cao hơn, một khoảng cách hoàn toàn có thể giải thích bằng cơ cấu tuổi tác chứ không cần viện đến giả thuyết áp bức có hệ thống.
4. Phê phán của Sowell về phúc lợi xã hội và dịch chuyển tầng lớp
Ngoài chính sách ưu đãi tuyển sinh, Sowell còn nhắm vào một huyền thoại khác của cánh tả học thuật, cho rằng giải pháp cho bất bình đẳng nằm ở tái phân phối và mở rộng phúc lợi xã hội.
Ông lập luận rằng chính sự mở rộng mạnh mẽ của nhà nước phúc lợi Mỹ từ thập niên 1960, chứ không phải di sản của chế độ nô lệ, mới là nguyên nhân trực tiếp phá vỡ cấu trúc gia đình da đen.
Theo số liệu ông trích dẫn, năm 1960, trước khi các chương trình phúc lợi thời kỳ "chiến tranh với nghèo đói" được mở rộng, khoảng 22% trẻ em da đen tại Mỹ sống chỉ với một phụ huynh, nhưng đến giữa thập niên 1980, tỷ lệ này đã tăng lên thành đa số trẻ em da đen.
Sowell cho rằng các quy định trợ cấp phúc lợi từng gắn điều kiện hưởng trợ cấp với việc không có người cha trong gia đình đã vô tình khuyến khích sự tan vỡ gia đình, và ông đối chiếu điều này với thực tế tỷ lệ hộ gia đình da đen có đầy đủ cha mẹ từng ở mức cao trong nhiều thập niên trước đó, kể cả trong giai đoạn ngay sau khi chế độ nô lệ chấm dứt.
Về bất bình đẳng cá nhân, Sowell cũng phản đối cách giới xã hội học phương Tây dùng khung "kẻ thắng, người thua" để mô tả nền kinh tế như một trò chơi chia phần cố định.
Ông dẫn các nghiên cứu theo dõi cùng một nhóm người qua nhiều năm cho thấy phần lớn những người nằm trong nhóm thu nhập thấp nhất khi còn trẻ đã dịch chuyển lên các nhóm thu nhập cao hơn khi họ lớn tuổi và tích lũy được kinh nghiệm, kỹ năng cùng thâm niên làm việc.
Từ đó ông lập luận rằng việc coi người nghèo là một nhóm cố định bị kẹt lại suốt đời không phản ánh đúng thực tế dịch chuyển xã hội, mà chỉ phục vụ cho một cách đóng khung mang tính chính trị.
5. Bằng chứng của Sowell về tác hại của chính sách ưu đãi sắc tộc
Trong hai cuốn "Affirmative Action Around the World: An Empirical Study" xuất bản năm 2004 và "Preferential Policies: An International Perspective" xuất bản năm 1990, Sowell dùng phương pháp so sánh thực chứng dựa trên dữ liệu của Mỹ, Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka và Nigeria để lập luận rằng các chính sách ưu đãi dựa trên chủng tộc hay nhóm sắc tộc thường không đạt được mục tiêu ban đầu và nhiều khi gây ra tác dụng ngược.
Bằng chứng thường được viện dẫn nhiều nhất là trường hợp Đại học California.
Trước năm 1998, hệ thống UC áp dụng ưu tiên chủng tộc trong tuyển sinh, và tỷ lệ trúng tuyển của sinh viên da đen vào UC Berkeley có thời điểm lên tới hơn một nửa số hồ sơ nộp, cao hơn hẳn tỷ lệ trúng tuyển chung.
Năm 1996, cử tri California thông qua Dự luật 209, cấm dùng chủng tộc làm tiêu chí tuyển sinh tại các trường công, và chính sách này có hiệu lực từ năm 1998.
Ngay năm đầu tiên, tỷ lệ trúng tuyển và số sinh viên da đen được nhận vào Berkeley và UCLA giảm mạnh, có nguồn thống kê cho thấy mức giảm lên tới khoảng 40 đến 60% tùy theo cách tính.
Điều những người ủng hộ giả thuyết "lệch tầng năng lực" của Sowell chú ý không phải là số lượng sụt giảm, mà là diễn biến sau đó: một bộ phận sinh viên da đen và gốc Latinh không vào được Berkeley hay UCLA đã chuyển sang các trường khác trong cùng hệ thống UC có mức độ cạnh tranh phù hợp hơn với năng lực đầu vào của họ, và trong khoảng một thập niên sau đó, tỷ lệ tốt nghiệp của sinh viên da đen tại chính Berkeley và UCLA tăng lên đáng kể so với trước năm 1998, số người tốt nghiệp thuộc các nhóm thiểu số trong toàn hệ thống UC cũng tăng, kể cả ở các ngành đòi hỏi khắt khe như khoa học và kỹ thuật.
Sowell dùng dữ liệu này để lập luận rằng việc hạ tiêu chuẩn đưa một sinh viên vào ngôi trường vượt quá năng lực thực tế của họ không giúp họ giỏi lên mà đẩy họ vào nguy cơ bỏ học, còn nếu học đúng tầm, họ hoàn toàn có thể tốt nghiệp và thành công.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giả thuyết lệch tầng năng lực không phải là kết luận được toàn bộ giới nghiên cứu kinh tế học giáo dục hiện nay đồng thuận.
Một nghiên cứu định lượng công phu hơn, dùng dữ liệu từng cá nhân sinh viên trong toàn hệ thống UC, do nhà kinh tế học Zachary Bleemer công bố năm 2020, đưa ra bức tranh phức tạp hơn nhiều so với những gì các số liệu tổng hợp cho thấy.
Nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ tốt nghiệp chung của các nhóm thiểu số có tăng sau khi Dự luật 209 có hiệu lực, nhưng đồng thời cũng chỉ ra rằng việc mất ưu tiên chủng tộc khiến nhiều ứng viên thuộc nhóm thiểu số phải chuyển sang các trường đại học công và tư có chất lượng thấp hơn, làm giảm tỷ lệ họ tốt nghiệp ngành khoa học kỹ thuật và giảm khả năng học lên sau đại học, kéo theo mức thu nhập trung bình của nhóm ứng viên bị ảnh hưởng giảm khoảng 5% mỗi năm trong độ tuổi từ 24 đến 34 so với kịch bản còn ưu tiên chủng tộc.
Nói cách khác, bằng chứng thống kê về trường hợp California hiện nay được cả hai phía dùng để bảo vệ lập luận của mình, và mức độ đúng đắn của giả thuyết lệch tầng năng lực vẫn là một câu hỏi thực nghiệm chưa khép lại trong giới kinh tế học giáo dục.
Một luận điểm khác của Sowell là chính sách ưu đãi lấy danh nghĩa giúp đỡ người nghèo hoặc nhóm bị áp bức, nhưng phần lớn lợi ích thực tế lại rơi vào tay những cá nhân đã thuộc tầng lớp khá giả trong chính nhóm được ưu đãi.
- Tại Mỹ, ông chỉ ra rằng nhiều sinh viên da đen trúng tuyển vào các trường thuộc nhóm Ivy League nhờ chính sách ưu đãi không phải là con em gia đình nghèo khó, mà thường là con em tầng lớp trung lưu, thượng lưu da đen hoặc con em người da đen nhập cư từ châu Phi và vùng Caribbean.
- Ở Ấn Độ, chính sách dành ngạch cho tầng lớp Dalit chủ yếu được hưởng bởi con em của những gia đình đã có vị thế xã hội, nhóm mà báo chí Ấn Độ gọi là "tầng lớp kem", trong khi phần đông người Dalit nghèo nhất không có đủ điều kiện học vấn tối thiểu để nộp đơn xin hưởng ưu đãi.
- Tại Malaysia, chính sách kinh tế mới từ thập niên 1970 ưu đãi người Mã Lai bản địa chủ yếu làm giàu cho giới tinh hoa chính trị và kinh doanh Mã Lai, trong khi phần lớn nông dân Mã Lai nghèo vẫn nghèo, đồng thời gây ra sự bất mãn kéo dài trong cộng đồng người Hoa và người Ấn tại nước này.
Sowell cũng cho rằng chính sách ưu đãi nhóm làm suy giảm động lực phấn đấu của cả hai phía.
- Đối với nhóm được ưu đãi, khi biết mình được nhận vào học hay được tuyển dụng một phần nhờ hạn ngạch chứ không hoàn toàn nhờ điểm số hay năng lực, động lực rèn luyện có xu hướng giảm.
- Đối với nhóm không được ưu đãi, những cá nhân xuất sắc dù cố gắng vẫn có thể bị gạt ra để nhường chỗ cho chỉ tiêu, dẫn tới sự bất mãn và xói mòn niềm tin vào tính công bằng của hệ thống.
Sowell mở rộng nghiên cứu sang nhiều quốc gia để chỉ ra rằng chính sách ưu đãi nhóm hiếm khi kết thúc êm đẹp mà nhiều khi làm trầm trọng thêm chia rẽ xã hội.
- Tại Sri Lanka, từ đầu thập niên 1970, chính quyền do người Sinhalese chiếm đa số áp đặt chính sách "chuẩn hóa" tuyển sinh đại học, yêu cầu học sinh người Tamil phải đạt điểm cao hơn học sinh Sinhalese mới được vào cùng một ngành học, nhằm điều chỉnh tỷ lệ sinh viên Tamil vốn có kết quả học tập cao hơn tại các ngành khoa học và y khoa.
Chính sách này, cùng với đạo luật năm 1956 chỉ công nhận tiếng Sinhalese là ngôn ngữ chính thức, làm gia tăng sự phẫn uất của thanh niên Tamil và góp phần châm ngòi cho phong trào ly khai vũ trang. Nội chiến Sri Lanka bùng nổ năm 1983 và kéo dài đến năm 2009, khiến hơn 100.000 người thiệt mạng.
- Tại Nigeria, sau khi giành độc lập, xung đột sắc tộc giữa các cộng đồng Hausa-Fulani, Yoruba và Igbo đã dẫn tới cuộc nội chiến Biafra kéo dài từ năm 1967 đến năm 1970, với số người chết ước tính từ vài trăm nghìn đến khoảng ba triệu người, phần lớn do nạn đói gây ra bởi lệnh phong tỏa của chính quyền liên bang.
Sau chiến tranh, Nigeria áp dụng nguyên tắc "tính chất liên bang" trong hiến pháp, phân bổ vị trí trong bộ máy nhà nước theo hạn ngạch vùng miền và sắc tộc nhằm cân bằng quyền lực giữa các nhóm.
Sowell dùng chính sách hạn ngạch hậu chiến này, chứ không phải bản thân cuộc nội chiến, làm ví dụ cho thấy việc phân bổ vị trí nhà nước theo sắc tộc thay vì năng lực có xu hướng làm giảm hiệu quả quản trị và duy trì thay vì hóa giải căng thẳng sắc tộc tại Nigeria.
Sowell cho rằng chính sách ưu đãi gây tổn hại tâm lý nặng nề nhất cho những người thuộc nhóm thiểu số thực sự có năng lực xuất sắc. Khi một chính sách quy định rằng một chủng tộc cần được ưu đãi mới vào được một vị trí nhất định, xã hội có xu hướng hoài nghi năng lực của tất cả những người thuộc chủng tộc đó đang ở vị trí ấy, kể cả những người đạt được vị trí đó hoàn toàn bằng thực lực.
Theo Sowell, điều này vô tình tước đi niềm tự hào chính đáng về thành quả của chính những cá nhân mà chính sách ưu đãi tuyên bố là muốn giúp đỡ.
6. Hai cấp độ của cuộc tranh luận
Nhìn tổng thể, cuộc tranh luận giữa Acemoglu, Robinson và những người phản biện như Sowell, Landes hay Diamond phản ánh hai cấp độ phân tích khác nhau của cùng một câu hỏi về nguồn gốc bất bình đẳng.
Ở cấp độ quốc gia, thể chế được xem là yếu tố quyết định giới hạn trần phát triển mà một xã hội có thể vươn tới.
Ở cấp độ cộng đồng và cá nhân, phái ủng hộ vai trò văn hóa và năng lực cho rằng chính thói quen lao động, kỷ luật và vốn con người mới quyết định một cộng đồng có chạm tới cái trần đó hay không, và sự khác biệt về kết quả giữa các cá nhân trong cùng một xã hội hoàn toàn có thể bắt nguồn từ khác biệt về nỗ lực và lựa chọn cá nhân chứ không nhất thiết phải là dấu hiệu của bất công hệ thống.
Theo Sowell và những người cùng quan điểm, việc mặc định mọi chênh lệch kết quả giữa các cá nhân hay cộng đồng là bằng chứng của áp bức hoặc phân biệt đối xử, trong khi bỏ qua khả năng khác biệt đến từ nỗ lực, kỷ luật và lựa chọn thực sự của con người, chính là điểm mù đang chi phối phần lớn khoa học xã hội phương Tây hiện nay.
Cuốn "Tại sao các quốc gia thất bại" (Why Nations Fail) của Daron Acemoglu và James Robinson là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của kinh tế học thể chế trong hai thập niên qua.
Luận điểm trung tâm của hai tác giả là thể chế kinh tế và chính trị, chứ không phải địa lý, khí hậu hay đặc điểm văn hóa, mới là nguyên nhân quyết định vì sao một số quốc gia giàu còn một số quốc gia nghèo.
Để chứng minh, Acemoglu và Robinson dựa vào các "thí nghiệm tự nhiên", tức những trường hợp cùng một cộng đồng dân cư nhưng bị chia cắt bởi một đường biên giới thể chế.
- Thành phố Nogales bị chia đôi bởi biên giới Mỹ - Mexico là ví dụ tiêu biểu nhất: cùng một vùng đất, cùng một gốc gác dân cư, nhưng nửa thuộc bang Arizona có thu nhập bình quân cao hơn hẳn nửa thuộc Mexico.
- Bán đảo Triều Tiên là ví dụ thứ hai: trước năm 1945, người dân hai miền Nam Bắc có chung nguồn gốc dân tộc, chung nền văn hóa Nho giáo, nhưng sau vài thập niên bị chia tách bởi hai thể chế đối lập, khoảng cách thu nhập giữa hai miền đã giãn ra hàng chục lần.
Từ đó, hai tác giả kết luận rằng khi giữ nguyên yếu tố con người mà chỉ thay đổi luật chơi thể chế, kết quả phát triển vẫn thay đổi triệt để, nên thể chế mới là biến số quyết định ở cấp độ vĩ mô.
1. Rào cản của các tiếp cận thuần thể chế trong học thuật Phương Tây
"Tại sao các quốc gia thất bại" thực ra không lờ đi giả thuyết văn hóa mà dành hẳn một chương để trực tiếp bác bỏ nó, dùng chính trường hợp Triều Tiên làm ví dụ trung tâm: hai miền từng chung một nền văn hóa Nho giáo trước năm 1945 nhưng lại phát triển khác hẳn nhau sau khi bị chia tách bởi thể chế, nên theo hai tác giả, văn hóa không thể là biến số giải thích chính.
Cách hai tác giả bác bỏ giả thuyết văn hóa, cũng như giả thuyết địa lý và giả thuyết thiếu hiểu biết của giới lãnh đạo, bằng cách chọn ra những cặp so sánh có lợi cho lập luận thể chế của mình, tự nó cũng phản ánh một xu hướng chung của khoa học xã hội phương Tây từ sau Thế chiến hai.
Sau các phong trào dân quyền và sự sụp đổ của các học thuyết ưu sinh từng bị chủ nghĩa thực dân và phát xít lợi dụng, việc gán cho một cộng đồng hay quốc gia những đặc tính như lười biếng, kém kỷ luật hay yếu kém về văn hóa trở thành điều gần như cấm kỵ trong giới hàn lâm, vì nó dễ bị quy kết là phân biệt chủng tộc hoặc biện minh cho bất bình đẳng có sẵn.
Bên cạnh đó còn có lý do thực dụng về mặt chính sách: nếu kết luận một quốc gia nghèo vì thể chế độc tài hay chiếm đoạt, nhà hoạch định chính sách có một hướng đi rõ ràng là cải cách thể chế, còn nếu kết luận nguyên nhân nằm ở văn hóa hay năng lực con người, sẽ không có công cụ chính sách nào can thiệp trực tiếp được.
Hệ quả là phần lớn khoa học xã hội chính thống phương Tây trong vài thập niên qua nghiêng hẳn về việc giải thích bất bình đẳng bằng cấu trúc xã hội, coi con người ở mọi nơi về cơ bản là những đơn vị đồng nhất, còn khác biệt về kết quả hoàn toàn do hoàn cảnh khách quan áp đặt.
Điều này không chỉ diễn ra ở cấp độ so sánh giữa các quốc gia mà cả ở cấp độ cá nhân: một người giàu hơn thường được mặc định là nhờ điều kiện gia đình, còn một người nghèo hơn được mặc định là do hoàn cảnh, trong khi khả năng người thứ nhất đơn giản là chăm chỉ và có năng lực hơn người thứ hai hiếm khi được đặt ra như một giả thuyết nghiêm túc.
Chỉ cần nêu câu hỏi liệu một cá nhân có thể giàu hơn một cá nhân khác vì chăm chỉ hơn, người nêu câu hỏi đó cũng dễ bị quy kết ngay là đang phân biệt chủng tộc hoặc thiếu nhân văn, bất kể câu hỏi đó có nhắc đến chủng tộc hay không.
2. Những trường phái phản biện cách giải thích thuần thể chế
Nhiều nhà kinh tế học và sử học từng lập luận theo hướng khác với cách tiếp cận thuần thể chế của Acemoglu và Robinson, dù phần lớn các tác phẩm của họ ra đời trước hoặc cùng thời điểm với "Tại sao các quốc gia thất bại" (xuất bản năm 2012) nên không phải là những phản biện trực tiếp nhắm vào cuốn sách này, mà là các dòng nghiên cứu độc lập về vai trò của văn hóa và vốn xã hội trong phát triển.
Nhà kinh tế học Thomas Sowell, sử gia David Landes qua cuốn "The Wealth and Poverty of Nations" xuất bản năm 1998, hay nhà xã hội học Robert Putnam, lập luận rằng thể chế không tự sinh ra từ hư không mà chính con người và văn hóa của họ tạo nên thể chế.
Theo trường phái này, một cộng đồng coi trọng việc học, tính tiết kiệm, kỷ luật lao động và niềm tin xã hội cao, như nhiều cộng đồng gốc Đông Á hay cộng đồng Do Thái, khi đặt vào bất kỳ thể chế nào cũng có xu hướng vươn lên nhanh hơn, còn nếu đem một thể chế tiên tiến kiểu Thụy Sĩ áp vào một xã hội thiếu niềm tin và coi thường luật pháp, thể chế đó cũng có nguy cơ biến chất thành tham nhũng.
Trường phái địa lý và sinh thái, với đại diện là nhà địa lý học Jared Diamond qua cuốn "Súng, vi trùng và thép" và nhà kinh tế học Jeffrey Sachs, phản bác rằng Acemoglu và Robinson đã gạt yếu tố địa lý ra khỏi phương trình một cách gượng ép. Theo họ, khí hậu nhiệt đới với dịch bệnh nặng nề, đất đai kém phong hóa và thiếu đường giao thương đường thủy tự nhiên tạo ra những cái bẫy nghèo đói mang tính cấu trúc tự nhiên, tồn tại độc lập với việc thể chế đó dân chủ hay độc tài.
Mô hình phát triển của Trung Quốc, Singapore hay Hàn Quốc dưới thời Park Chung-hee cũng thường được nêu ra như một thách thức với lý thuyết thuần thể chế. Trung Quốc vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong khi vẫn duy trì một thể chế chính trị tập quyền, thuộc loại mà chính Acemoglu và Robinson xếp vào nhóm "thể chế chiếm đoạt".
Bản thân hai tác giả cũng dành riêng một chương để bàn về khả năng tăng trưởng dưới thể chế chiếm đoạt, thừa nhận rằng những mô hình huy động vốn và lao động tập trung kiểu Liên Xô thời Stalin hay Trung Quốc hiện nay có thể tạo ra tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng dự đoán kiểu tăng trưởng này khó bền vững về dài hạn vì thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo rộng rãi.
Giới phê bình cho rằng dự đoán này vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ trong thực tế, khi Trung Quốc đã duy trì tăng trưởng cao suốt nhiều thập niên, nên đây vẫn là một điểm còn để ngỏ hơn là một khiếm khuyết bị hai tác giả bỏ qua.
3. Thomas Showell và quan điểm văn hóa, vốn con người
Thomas Sowell, nhà kinh tế học lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Chicago dưới sự hướng dẫn của George Stigler và thuộc trường phái kinh tế học Chicago, từng giảng dạy tại Cornell, Amherst và UCLA trước khi trở thành học giả cao cấp tại Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, là một trong những tiếng nói phản biện quyết liệt nhất đối với xu hướng giải thích bất bình đẳng thuần bằng cấu trúc xã hội.
Trong cuốn "A Conflict of Visions" xuất bản năm 1987, Sowell chia tư duy chính trị xã hội thành hai nhóm đối lập.
- Nhóm thứ nhất, mà ông gọi là "tầm nhìn không bị ràng buộc", coi bản chất con người có thể nhào nặn được, nên mọi bất bình đẳng về kết quả đều là bất thường, là hệ quả của một xã hội vận hành sai lệch, bị áp bức hoặc phân biệt đối xử, và muốn sửa thì phải dùng nhà nước để tái cấu trúc xã hội.
- Nhóm thứ hai, mà ông gọi là "tầm nhìn bị ràng buộc" và tự nhận mình thuộc về, cho rằng con người có những giới hạn cố định về năng lực và thiên hướng, nên khác biệt về kết quả giữa các cá nhân và các nhóm là trạng thái tự nhiên của thế giới chứ không phải hiện tượng bất thường cần tìm thủ phạm để đổ lỗi.
Trong các tác phẩm như "Black Rednecks and White Liberals", "Race and Culture" hay "Discrimination and Disparities", Sowell định nghĩa văn hóa không phải là âm nhạc hay ẩm thực mà là tập hợp các kỹ năng, thói quen lao động, thái độ với giáo dục, tính tiết kiệm, kỷ luật và khả năng trì hoãn hưởng thụ. Ô
ng cho rằng chính sự khác biệt về những yếu tố này, chứ không phải nạn phân biệt đối xử, mới giải thích được phần lớn chênh lệch thu nhập giữa các cộng đồng.
Dẫn chứng ông thường nêu là cộng đồng người Do Thái và người Hoa: dù di cư đến đâu, châu Âu, Đông Nam Á hay Bắc Mỹ, họ đều từng gặp sự bài xích, kỳ thị và cả những rào cản pháp lý bất lợi, nhưng ở hầu hết những nơi họ định cư, họ vẫn vươn lên nhóm có thu nhập cao nhờ nền tảng văn hóa coi trọng học vấn, buôn bán và tiết kiệm.
Một dẫn chứng khác trong "Ethnic America" là sự khác biệt giữa người da đen nhập cư từ vùng Caribbean và người da đen sinh ra tại Mỹ: theo số liệu ông trích dẫn, nhóm nhập cư Caribbean có thu nhập, trình độ học vấn và tỷ lệ sở hữu doanh nghiệp cao hơn đáng kể so với nhóm bản địa, dù họ cùng màu da và sống dưới cùng một hệ thống luật pháp, và Sowell quy sự khác biệt này về thái độ lao động và văn hóa ứng xử mà nhóm nhập cư mang theo.
Theo Sowell, tiền bạc không phải của cải thực sự mà chỉ là thước đo năng lực tạo ra giá trị cho người khác, nên một cá nhân hay cộng đồng chấp nhận làm việc nhiều giờ hơn, đầu tư nhiều năm để học những kỹ năng khó, tự nhiên sẽ có thu nhập cao hơn nhóm chỉ muốn công việc nhẹ nhàng.
Ông cũng phản đối cách nhiều nhà xã hội học phương Tây quy toàn bộ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm sắc tộc cho nạn phân biệt đối xử mà bỏ qua sự khác biệt về độ tuổi trung bình, nơi cư trú hay số năm kinh nghiệm giữa các cộng đồng.
Sowell dẫn ví dụ độ tuổi trung bình của người Mỹ gốc Nhật cao hơn khá nhiều so với người Mỹ gốc Latinh, nên nhóm gốc Nhật có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tích lũy hơn và thu nhập bình quân theo đó cũng cao hơn, một khoảng cách hoàn toàn có thể giải thích bằng cơ cấu tuổi tác chứ không cần viện đến giả thuyết áp bức có hệ thống.
4. Phê phán của Sowell về phúc lợi xã hội và dịch chuyển tầng lớp
Ngoài chính sách ưu đãi tuyển sinh, Sowell còn nhắm vào một huyền thoại khác của cánh tả học thuật, cho rằng giải pháp cho bất bình đẳng nằm ở tái phân phối và mở rộng phúc lợi xã hội.
Ông lập luận rằng chính sự mở rộng mạnh mẽ của nhà nước phúc lợi Mỹ từ thập niên 1960, chứ không phải di sản của chế độ nô lệ, mới là nguyên nhân trực tiếp phá vỡ cấu trúc gia đình da đen.
Theo số liệu ông trích dẫn, năm 1960, trước khi các chương trình phúc lợi thời kỳ "chiến tranh với nghèo đói" được mở rộng, khoảng 22% trẻ em da đen tại Mỹ sống chỉ với một phụ huynh, nhưng đến giữa thập niên 1980, tỷ lệ này đã tăng lên thành đa số trẻ em da đen.
Sowell cho rằng các quy định trợ cấp phúc lợi từng gắn điều kiện hưởng trợ cấp với việc không có người cha trong gia đình đã vô tình khuyến khích sự tan vỡ gia đình, và ông đối chiếu điều này với thực tế tỷ lệ hộ gia đình da đen có đầy đủ cha mẹ từng ở mức cao trong nhiều thập niên trước đó, kể cả trong giai đoạn ngay sau khi chế độ nô lệ chấm dứt.
Về bất bình đẳng cá nhân, Sowell cũng phản đối cách giới xã hội học phương Tây dùng khung "kẻ thắng, người thua" để mô tả nền kinh tế như một trò chơi chia phần cố định.
Ông dẫn các nghiên cứu theo dõi cùng một nhóm người qua nhiều năm cho thấy phần lớn những người nằm trong nhóm thu nhập thấp nhất khi còn trẻ đã dịch chuyển lên các nhóm thu nhập cao hơn khi họ lớn tuổi và tích lũy được kinh nghiệm, kỹ năng cùng thâm niên làm việc.
Từ đó ông lập luận rằng việc coi người nghèo là một nhóm cố định bị kẹt lại suốt đời không phản ánh đúng thực tế dịch chuyển xã hội, mà chỉ phục vụ cho một cách đóng khung mang tính chính trị.
5. Bằng chứng của Sowell về tác hại của chính sách ưu đãi sắc tộc
Trong hai cuốn "Affirmative Action Around the World: An Empirical Study" xuất bản năm 2004 và "Preferential Policies: An International Perspective" xuất bản năm 1990, Sowell dùng phương pháp so sánh thực chứng dựa trên dữ liệu của Mỹ, Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka và Nigeria để lập luận rằng các chính sách ưu đãi dựa trên chủng tộc hay nhóm sắc tộc thường không đạt được mục tiêu ban đầu và nhiều khi gây ra tác dụng ngược.
Bằng chứng thường được viện dẫn nhiều nhất là trường hợp Đại học California.
Trước năm 1998, hệ thống UC áp dụng ưu tiên chủng tộc trong tuyển sinh, và tỷ lệ trúng tuyển của sinh viên da đen vào UC Berkeley có thời điểm lên tới hơn một nửa số hồ sơ nộp, cao hơn hẳn tỷ lệ trúng tuyển chung.
Năm 1996, cử tri California thông qua Dự luật 209, cấm dùng chủng tộc làm tiêu chí tuyển sinh tại các trường công, và chính sách này có hiệu lực từ năm 1998.
Ngay năm đầu tiên, tỷ lệ trúng tuyển và số sinh viên da đen được nhận vào Berkeley và UCLA giảm mạnh, có nguồn thống kê cho thấy mức giảm lên tới khoảng 40 đến 60% tùy theo cách tính.
Điều những người ủng hộ giả thuyết "lệch tầng năng lực" của Sowell chú ý không phải là số lượng sụt giảm, mà là diễn biến sau đó: một bộ phận sinh viên da đen và gốc Latinh không vào được Berkeley hay UCLA đã chuyển sang các trường khác trong cùng hệ thống UC có mức độ cạnh tranh phù hợp hơn với năng lực đầu vào của họ, và trong khoảng một thập niên sau đó, tỷ lệ tốt nghiệp của sinh viên da đen tại chính Berkeley và UCLA tăng lên đáng kể so với trước năm 1998, số người tốt nghiệp thuộc các nhóm thiểu số trong toàn hệ thống UC cũng tăng, kể cả ở các ngành đòi hỏi khắt khe như khoa học và kỹ thuật.
Sowell dùng dữ liệu này để lập luận rằng việc hạ tiêu chuẩn đưa một sinh viên vào ngôi trường vượt quá năng lực thực tế của họ không giúp họ giỏi lên mà đẩy họ vào nguy cơ bỏ học, còn nếu học đúng tầm, họ hoàn toàn có thể tốt nghiệp và thành công.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giả thuyết lệch tầng năng lực không phải là kết luận được toàn bộ giới nghiên cứu kinh tế học giáo dục hiện nay đồng thuận.
Một nghiên cứu định lượng công phu hơn, dùng dữ liệu từng cá nhân sinh viên trong toàn hệ thống UC, do nhà kinh tế học Zachary Bleemer công bố năm 2020, đưa ra bức tranh phức tạp hơn nhiều so với những gì các số liệu tổng hợp cho thấy.
Nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ tốt nghiệp chung của các nhóm thiểu số có tăng sau khi Dự luật 209 có hiệu lực, nhưng đồng thời cũng chỉ ra rằng việc mất ưu tiên chủng tộc khiến nhiều ứng viên thuộc nhóm thiểu số phải chuyển sang các trường đại học công và tư có chất lượng thấp hơn, làm giảm tỷ lệ họ tốt nghiệp ngành khoa học kỹ thuật và giảm khả năng học lên sau đại học, kéo theo mức thu nhập trung bình của nhóm ứng viên bị ảnh hưởng giảm khoảng 5% mỗi năm trong độ tuổi từ 24 đến 34 so với kịch bản còn ưu tiên chủng tộc.
Nói cách khác, bằng chứng thống kê về trường hợp California hiện nay được cả hai phía dùng để bảo vệ lập luận của mình, và mức độ đúng đắn của giả thuyết lệch tầng năng lực vẫn là một câu hỏi thực nghiệm chưa khép lại trong giới kinh tế học giáo dục.
Một luận điểm khác của Sowell là chính sách ưu đãi lấy danh nghĩa giúp đỡ người nghèo hoặc nhóm bị áp bức, nhưng phần lớn lợi ích thực tế lại rơi vào tay những cá nhân đã thuộc tầng lớp khá giả trong chính nhóm được ưu đãi.
- Tại Mỹ, ông chỉ ra rằng nhiều sinh viên da đen trúng tuyển vào các trường thuộc nhóm Ivy League nhờ chính sách ưu đãi không phải là con em gia đình nghèo khó, mà thường là con em tầng lớp trung lưu, thượng lưu da đen hoặc con em người da đen nhập cư từ châu Phi và vùng Caribbean.
- Ở Ấn Độ, chính sách dành ngạch cho tầng lớp Dalit chủ yếu được hưởng bởi con em của những gia đình đã có vị thế xã hội, nhóm mà báo chí Ấn Độ gọi là "tầng lớp kem", trong khi phần đông người Dalit nghèo nhất không có đủ điều kiện học vấn tối thiểu để nộp đơn xin hưởng ưu đãi.
- Tại Malaysia, chính sách kinh tế mới từ thập niên 1970 ưu đãi người Mã Lai bản địa chủ yếu làm giàu cho giới tinh hoa chính trị và kinh doanh Mã Lai, trong khi phần lớn nông dân Mã Lai nghèo vẫn nghèo, đồng thời gây ra sự bất mãn kéo dài trong cộng đồng người Hoa và người Ấn tại nước này.
Sowell cũng cho rằng chính sách ưu đãi nhóm làm suy giảm động lực phấn đấu của cả hai phía.
- Đối với nhóm được ưu đãi, khi biết mình được nhận vào học hay được tuyển dụng một phần nhờ hạn ngạch chứ không hoàn toàn nhờ điểm số hay năng lực, động lực rèn luyện có xu hướng giảm.
- Đối với nhóm không được ưu đãi, những cá nhân xuất sắc dù cố gắng vẫn có thể bị gạt ra để nhường chỗ cho chỉ tiêu, dẫn tới sự bất mãn và xói mòn niềm tin vào tính công bằng của hệ thống.
Sowell mở rộng nghiên cứu sang nhiều quốc gia để chỉ ra rằng chính sách ưu đãi nhóm hiếm khi kết thúc êm đẹp mà nhiều khi làm trầm trọng thêm chia rẽ xã hội.
- Tại Sri Lanka, từ đầu thập niên 1970, chính quyền do người Sinhalese chiếm đa số áp đặt chính sách "chuẩn hóa" tuyển sinh đại học, yêu cầu học sinh người Tamil phải đạt điểm cao hơn học sinh Sinhalese mới được vào cùng một ngành học, nhằm điều chỉnh tỷ lệ sinh viên Tamil vốn có kết quả học tập cao hơn tại các ngành khoa học và y khoa.
Chính sách này, cùng với đạo luật năm 1956 chỉ công nhận tiếng Sinhalese là ngôn ngữ chính thức, làm gia tăng sự phẫn uất của thanh niên Tamil và góp phần châm ngòi cho phong trào ly khai vũ trang. Nội chiến Sri Lanka bùng nổ năm 1983 và kéo dài đến năm 2009, khiến hơn 100.000 người thiệt mạng.
- Tại Nigeria, sau khi giành độc lập, xung đột sắc tộc giữa các cộng đồng Hausa-Fulani, Yoruba và Igbo đã dẫn tới cuộc nội chiến Biafra kéo dài từ năm 1967 đến năm 1970, với số người chết ước tính từ vài trăm nghìn đến khoảng ba triệu người, phần lớn do nạn đói gây ra bởi lệnh phong tỏa của chính quyền liên bang.
Sau chiến tranh, Nigeria áp dụng nguyên tắc "tính chất liên bang" trong hiến pháp, phân bổ vị trí trong bộ máy nhà nước theo hạn ngạch vùng miền và sắc tộc nhằm cân bằng quyền lực giữa các nhóm.
Sowell dùng chính sách hạn ngạch hậu chiến này, chứ không phải bản thân cuộc nội chiến, làm ví dụ cho thấy việc phân bổ vị trí nhà nước theo sắc tộc thay vì năng lực có xu hướng làm giảm hiệu quả quản trị và duy trì thay vì hóa giải căng thẳng sắc tộc tại Nigeria.
Sowell cho rằng chính sách ưu đãi gây tổn hại tâm lý nặng nề nhất cho những người thuộc nhóm thiểu số thực sự có năng lực xuất sắc. Khi một chính sách quy định rằng một chủng tộc cần được ưu đãi mới vào được một vị trí nhất định, xã hội có xu hướng hoài nghi năng lực của tất cả những người thuộc chủng tộc đó đang ở vị trí ấy, kể cả những người đạt được vị trí đó hoàn toàn bằng thực lực.
Theo Sowell, điều này vô tình tước đi niềm tự hào chính đáng về thành quả của chính những cá nhân mà chính sách ưu đãi tuyên bố là muốn giúp đỡ.
6. Hai cấp độ của cuộc tranh luận
Nhìn tổng thể, cuộc tranh luận giữa Acemoglu, Robinson và những người phản biện như Sowell, Landes hay Diamond phản ánh hai cấp độ phân tích khác nhau của cùng một câu hỏi về nguồn gốc bất bình đẳng.
Ở cấp độ quốc gia, thể chế được xem là yếu tố quyết định giới hạn trần phát triển mà một xã hội có thể vươn tới.
Ở cấp độ cộng đồng và cá nhân, phái ủng hộ vai trò văn hóa và năng lực cho rằng chính thói quen lao động, kỷ luật và vốn con người mới quyết định một cộng đồng có chạm tới cái trần đó hay không, và sự khác biệt về kết quả giữa các cá nhân trong cùng một xã hội hoàn toàn có thể bắt nguồn từ khác biệt về nỗ lực và lựa chọn cá nhân chứ không nhất thiết phải là dấu hiệu của bất công hệ thống.
Theo Sowell và những người cùng quan điểm, việc mặc định mọi chênh lệch kết quả giữa các cá nhân hay cộng đồng là bằng chứng của áp bức hoặc phân biệt đối xử, trong khi bỏ qua khả năng khác biệt đến từ nỗ lực, kỷ luật và lựa chọn thực sự của con người, chính là điểm mù đang chi phối phần lớn khoa học xã hội phương Tây hiện nay.
Last edited:

