- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,588
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Những kế hoạch điên rồ trong lịch sử loài người: Giấc mơ định cư trên Sao Hỏa
Bản dịch giữ nguyên lập luận của tác giả, một số chi tiết khoa học nên được đối chiếu thêm từ nhiều nguồn.
1. “Huỳnh Hoặc”
Ngôi sao dữ mà các bậc đế vương xưa kiêng dè nhất mang tên “Huỳnh Hoặc”.
“Huỳnh” là ánh sáng rực như lửa, “Hoặc” là hành tung khó lường. Nếu ngôi sao dữ ấy đi vào chòm Bọ Cạp, đó sẽ là điềm đại hung trong sử sách, báo hiệu vận số của một triều đại sắp tận.
Từ cái chết của Tần Thủy Hoàng, việc Vương Mãng soán ngôi, đến loạn chính thời Tùy Dạng Đế, các sử quan đã hết lần này đến lần khác dùng nét bút run rẩy ghi lại dấu vết của Huỳnh Hoặc, rồi hoang mang ngước nhìn bầu trời.
Trong khoảng không cách Trái Đất hàng trăm triệu kilômét, Sao Hỏa là ngôi sao mà người xưa gọi là Huỳnh Hoặc, hoàn toàn không biết đến sự hoang mang và ngu muội của những sinh vật nhỏ bé trên hành tinh láng giềng. Nó lạnh lùng di chuyển trên quỹ đạo elip dài 716,07 triệu kilômét, tuần hoàn không dứt.
Cứ mỗi 15-17 năm, nó lại đến gần Trái Đất nhất, thời điểm ấy được gọi là “xung đối lớn của Sao Hỏa”. Nó tựa một con tàu khổng lồ vượt qua thời gian vô tận, đúng hẹn mà đến, lặng lẽ chờ đợi, rồi lại im lìm rời đi.
*Xung đối: thời điểm Trái Đất nằm giữa Mặt Trời và Sao Hỏa, khi đó Sao Hỏa thường sáng rõ và quan sát được suốt đêm
Con người Trái Đất từng hoàn toàn không hay biết điều đó, họ vội vã diễn trọn cuộc đời ngắn ngủi của mình. Trong hết lần xung đối lớn này đến lần khác, nước Anh bận áp dụng thuế tem, Càn Long bận du ngoạn Giang Nam, Hồng Tú Toàn bận truyền giáo giữa núi rừng Quảng Tây, không ai rảnh ngước nhìn vòm trời.
*Hồng Tú Toàn: lãnh tụ khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc thế kỷ XIX. Đầu thập niên 1840, ông truyền đạo và lập tổ chức Bái Thượng Đế Hội tại vùng núi Quảng Tây
2. Những tấm màn được vén lên
Mãi đến năm 1877, sau vài đợt sốt thiên văn lan khắp châu Âu, nhà thiên văn học người Ý Giovanni Schiaparelli mới dùng một chiếc kính thiên văn nguyên thủy dài 20 cm hướng về Sao Hỏa. Ông bị mù màu, trên bề mặt Sao Hỏa qua ống kính hiện ra những đường đen mảnh hẹp. Ông gọi chúng là “dòng chảy”.
Khi thông tin truyền đến Anh, có người dịch “dòng chảy” thành “kênh đào”, rồi dần biến thành câu chuyện người Ý đã phát hiện sinh vật trên Sao Hỏa đào kênh.
Quan sát ấy khơi lên tranh luận vô tận, cuối cùng khiến Lowell, một nhà tài phiệt ở Boston ở Mỹ, xây dựng hẳn một đài thiên văn tư nhân. Bắt đầu từ lần Sao Hỏa xung đối lớn năm 1894, Lowell từ bỏ toàn bộ công việc kinh doanh để quan sát Sao Hỏa trong 15 năm.
Ông chụp hàng nghìn bức ảnh, vẽ bản đồ chi tiết của Sao Hỏa, đánh dấu 500 “con kênh” cùng những “ốc đảo” tại nơi chúng giao nhau. Ông tin rằng sự thay đổi sáng tối trong các bức ảnh là dấu hiệu mùa màng sinh trưởng rồi lụi tàn.
Năm 1897, nhà văn Anh H. G. Wells xuất bản Đại chiến các thế giới. Bốn mươi mốt năm sau, đài phát thanh Mỹ chuyển tác phẩm thành kịch truyền thanh, kết quả là cả nước Mỹ hoảng loạn.
Chương trình mô phỏng bản tin thời sự, khiến hàng triệu người Mỹ và Canada tin là thật, đường phố hỗn loạn như tận thế. Sao Hỏa, bằng một cách khác, đã trở thành nhân vật chính.
3. Từ giấc mơ đến những kế hoạch điên rồ dần thành hiện thực
Người ta bắt đầu lên kế hoạch bước lên ngôi sao khổng lồ ấy.
Cha đẻ tên lửa Wernher von Braun từng là sĩ quan Đức, sau cuộc chiến dài, ông và các cộng sự đầu hàng Mỹ. Năm 1948, trong thời gian bị giám sát nghiêm ngặt và không có việc gì làm, ông chuyên tâm viết một cuốn sách mang tên Dự án Sao Hỏa.
Đó không phải tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, mà là một phương án khoa học hoàn chỉnh, từ thiết kế quỹ đạo, công thức tính toán, phương pháp đo đạc đến bản vẽ kỹ thuật. Trong sách, một con tàu khổng lồ nặng 4.000 tấn sẽ khởi hành vào năm Sao Hỏa xung đối lớn, vượt qua 56 triệu kilômét, rồi cuối cùng hạ cánh xuống chỏm băng ở cực Sao Hỏa.
Trong phòng giam, ngoài những bức tường xi măng nhợt nhạt chỉ có Sao Hỏa như một điểm sáng nhỏ bé. Nhưng không gì có thể ngăn được giấc mơ ấy.
Năm 1964, Mỹ phóng tàu thăm dò Mariner 4, nó bay lướt qua Sao Hỏa ở độ cao 9.846 km, chụp được 21 bức ảnh. Tổng dung lượng ảnh là 5,2 megabit, mất hơn 6 tiếng mới truyền từ không gian về Trái Đất. Lần đầu tiên, con người nhìn thấy diện mạo thật của Sao Hỏa.
Các bức ảnh ghép lại thành một vùng hoang mạc, không có dấu vết của nền văn minh. Không lâu sau khi hoàn thành nhiệm vụ chụp ảnh, Mariner 4 trượt vào không gian đen kịt.
Sau đó, các tàu thuộc chương trình Mariner nối tiếp nhau khám phá Sao Hỏa, phát hiện những hẻm núi khổng lồ, các hố va chạm và dấu vết nghi là dòng nước cổ.
Năm 1969, von Braun chủ trì hoàn thành chương trình Apollo.
Danh tiếng đang lên, ông cho rằng Mặt Trăng chỉ là điểm khởi đầu của một hành trình vĩ đại hơn. Ông xin Quốc hội cho chế tạo hai tàu vũ trụ chạy bằng năng lượng hạt nhân, nhưng các chính trị gia chẳng buồn để tâm. Trong mắt họ, tàu con thoi và vệ tinh do thám mới có giá trị, một công trình tiêu tốn nhiệm kỳ của nhiều đời tổng thống thì chẳng có ý nghĩa gì.
Trên hành tinh này, những câu chuyện vụn vặt vẫn tiếp diễn. Sau khi nhân loại bước được một bước nhỏ, họ lại quanh quẩn không tiến thêm.
Năm 1977, von Braun qua đời. Ngôi mộ của ông rất giản dị, trên bia mộ là câu Kinh Thánh gửi gắm tâm nguyện còn dang dở: “Các tầng trời rao truyền vinh quang của Đức Chúa Trời, bầu trời loan báo công việc tay Ngài.”
Cũng trong năm ấy, nhân loại phóng Voyager 1 và Voyager 2.
Hai tàu thăm dò ấy không còn mang tham vọng chinh phục, chỉ còn chất thơ của biểu tượng. Mỗi tàu đều mang theo một đĩa ghi âm mạ vàng, một máy phát đĩa chuyên dụng và kim đọc đĩa. Trên vỏ đĩa khắc hướng dẫn cách phát. Trong đĩa lưu tiếng gió, mưa, sấm, chớp; âm thanh động vật, nhạc cổ điển và lời chào bằng 55 ngôn ngữ, trong đó có khúc nhạc cổ Trung Quốc Cao sơn lưu thủy.
Đĩa vàng liên sao do các nhà thiên văn và tác giả phổ biến khoa học dẫn đầu thực hiện. Nhóm chế tác nói: “Chúng tôi hiểu rất rõ rằng hành tinh này cùng toàn bộ cư dân trên đó chỉ là một hạt cực nhỏ trong vũ trụ. Chúng tôi gửi nó đi với lòng khiêm nhường và hy vọng.”
Khi Voyager 2 bay qua Sao Hỏa, một nhóm kỹ sư NASA lập ra tổ chức dân sự mang tên “Mars Underground” (Phong trào ngầm vì Sao Hỏa). Cứ ba năm họ lại họp một lần, bàn về việc xây dựng căn cứ thường trực trên Sao Hỏa. Những cuộc thảo luận ấy kéo dài suốt 15 năm.
Năm 1995, vào kỳ Sao Hỏa xung đối lớn, Mỹ cuối cùng khởi động lại chương trình thăm dò Sao Hỏa. Hai năm sau, Pathfinder hạ cánh xuống hành tinh đỏ, nó thả ra một xe tự hành chỉ lớn bằng lò vi sóng. Chiếc xe trị giá 25 triệu USD, tốc độ tối đa 60 cm mỗi phút. Vài chục ngày sau, nó ngừng hoạt động, nằm im giữa gió cát Sao Hỏa.
Năm 2002, NASA tổ chức cuộc thi đặt tên cho hai xe tự hành sắp phóng. Tên gọi của một bé gái người Nga 9 tuổi đã được chọn. Cô bé sinh ra ở Siberia, đến Mỹ khi còn nhỏ.
Cô viết: “Trước đây em sống trong cô nhi viện tối tăm, lạnh lẽo và cô độc. Mỗi khi đêm xuống, em luôn ngước nhìn những ngôi sao để xua đi nỗi buồn, mơ rằng một ngày nào đó mình sẽ bay vào vũ trụ. Cảm ơn vì đã cho em Tinh thần và Cơ hội.”
Năm 2004, Spirit và Opportunity đến Sao Hỏa. Trong ngày hạ cánh, trang chủ NASA đạt hơn một tỷ lượt truy cập. Trên thân chúng có một lớp bảo vệ dây cáp đặc biệt, làm từ kim loại tìm thấy trong đống đổ nát sau sự kiện 11/9. Nhân loại cuối cùng cũng đã cố gắng bước ra khỏi những tàn tích ấy.
Những xe tự hành bắt đầu hành trình rong ruổi trên Sao Hỏa. Chúng thu năng lượng Mặt Trời, mỗi ngày tạo được khoảng nửa kilowatt-giờ điện, tốc độ “phóng xe” là 5 cm mỗi giây. Cứ đi 10 giây, chúng lại dừng 20 giây để kiểm tra địa hình.
Tuổi thọ thiết kế của cả hai chỉ là 90 ngày, nhưng Spirit hoạt động suốt 7 năm, còn Opportunity bền bỉ trong 15 năm.
Opportunity dần già đi giữa gió cát. Máy tính của nó thường xuyên khởi động lại, cứ làm việc một lúc thì dữ liệu lưu trữ tự động bị xóa sạch, giống chứng hay quên ở tuổi xế chiều.
Con người không nỡ để nó rời đi, vẫn cầu mong phép màu tiếp tục che chở. Nó từng mắc kẹt trong cồn cát. Các nhà khoa học trên Trái Đất đã dựng lại địa hình tương tự, mô phỏng suốt hơn một tháng rưỡi mới tìm được cách giúp nó thoát ra. Cồn cát ấy được đặt tên là “Cồn cát Địa ngục”.
Năm 2018, một cơn bão bụi khổng lồ quét khắp Sao Hỏa. Opportunity bị cát bụi vùi lấp và rơi vào giấc ngủ. Nó gửi về Trái Đất câu cuối cùng: “Trời tối rồi, pin của tôi sắp cạn.”
(My battery is low and it’s getting dark)
Các kỹ sư trên Trái Đất chờ đợi phép màu thêm hơn tám tháng. Họ gửi hơn 1.000 lời gọi, và vào mỗi buổi bình minh trên Sao Hỏa, lại gửi một bài hát để khích lệ Opportunity.
Ngày 12/2/2019, NASA dùng ăng-ten Mars Station dài 70 m để gửi đến Opportunity ca khúc đánh thức cuối cùng, I’ll Be Seeing You.
Một ngày sau, NASA tuyên bố Opportunity kết thúc nhiệm vụ.
Trong 15 năm, nó đã đi được 45 km trên Sao Hỏa, rồi chìm vào giấc ngủ tại Thung lũng Perseverance, trở thành một tượng đài của nhân loại.
Một kỹ sư NASA nói rằng ngày hôm ấy đầy buồn thương, nhưng đó không phải kết thúc của câu chuyện: “Chúng tôi và Opportunity sẽ gặp lại nhau trong tương lai.”
Năm 2017, Trump tuyên bố các phi hành gia Mỹ sẽ trở lại Mặt Trăng, rồi cuối cùng tiến đến Sao Hỏa. Có truyền thông nhận định, luôn có người nghĩ Sao Hỏa là nhiệm vụ của thế hệ sau, thật ra chúng ta đã nắm trong tay công nghệ cần thiết để khởi hành.
“Tổng năng lực tính toán của toàn bộ máy tính trên tàu đổ bộ Mặt Trăng năm xưa cộng lại cũng chỉ tương đương một chiếc iPhone ngày nay.”
Có tác giả hình dung đó là một cuộc Đại hải hành nữa: “Chuyến đi một chiều đến Sao Hỏa mất 6 tháng, nghe có vẻ dài. Nhưng vào thế kỷ XIX, người châu Âu di cư bằng đường biển sang Australia cũng mất chừng ấy thời gian.”
Các quốc gia đều bắt đầu những kế hoạch khám phá không gian. Năm 2013, sau khi Hằng Nga 3 được phóng, Lưu Từ Hân viết về ý nghĩa của thám hiểm:
“Không lâu trước đây, Ấn Độ phóng tàu thăm dò Sao Hỏa. Có truyền thông phương Tây chất vấn: Một phần ba người nghèo trên thế giới ở đất nước các bạn, tại sao còn bỏ nhiều tiền làm việc này?
Người phát ngôn chính phủ Ấn Độ trả lời, nếu chúng tôi không có những giấc mơ vĩ đại, chúng tôi sẽ mãi chỉ là những người đốn củi và gánh nước. Câu trả lời ấy khiến người ta nghiêm trang, có được giấc mơ vĩ đại thực sự là phẩm giá lớn nhất của một quốc gia và một dân tộc.”
*Lưu Từ Hân: nhà văn khoa học viễn tưởng Trung Quốc, nổi tiếng nhất với bộ tiểu thuyết Tam thể.
Năm 2011, Robert Zubrin, chủ tịch Mars Society, xuất bản bản sửa đổi của cuốn The Case for Mars. Ở cuối chương sáu, ông viết:
“Tôi viết những dòng này vào năm 2011. Nếu chúng ta khởi hành vào tháng 10 năm 2022, đoàn khảo sát đầu tiên của loài người sẽ đến Sao Hỏa vào ngày 9/4/2023. Theo lịch địa phương, đó là ngày 15 tháng Sư Tử, năm 34, mùa xuân đang về ở phía bắc Sao Hỏa.
Đó là thời điểm thời tiết đẹp nhất, bầu trời trong trẻo, gió nhẹ thổi qua. Họ đang gọi chúng ta đến. Đã đến lúc rồi.”
BÌNH LUẬN
1. Bạn biết không? Tốc độ di chuyển của xe tự hành Sao Hỏa chỉ khoảng 5 cm mỗi giây.
-> Thế mà nó vẫn đi được 46 km.
2. Đọc đến đoạn Spirit và Opportunity mà tôi lại khóc luôn
3. Câu chuyện vẫn đang tiếp diễn. NASA chế tạo xe tự hành Sao Hỏa; còn khoảng một năm nữa là phóng.
8. Nếu gạt các yếu tố khác sang một bên, tôi nghĩ bất kể ai là người lần nữa đặt chân lên Sao Hỏa, cũng nên đưa hai “người tiên phong” ấy trở về. Không nên để họ cô độc nằm lại ở đó.
Bản dịch giữ nguyên lập luận của tác giả, một số chi tiết khoa học nên được đối chiếu thêm từ nhiều nguồn.
1. “Huỳnh Hoặc”
Ngôi sao dữ mà các bậc đế vương xưa kiêng dè nhất mang tên “Huỳnh Hoặc”.
“Huỳnh” là ánh sáng rực như lửa, “Hoặc” là hành tung khó lường. Nếu ngôi sao dữ ấy đi vào chòm Bọ Cạp, đó sẽ là điềm đại hung trong sử sách, báo hiệu vận số của một triều đại sắp tận.
Từ cái chết của Tần Thủy Hoàng, việc Vương Mãng soán ngôi, đến loạn chính thời Tùy Dạng Đế, các sử quan đã hết lần này đến lần khác dùng nét bút run rẩy ghi lại dấu vết của Huỳnh Hoặc, rồi hoang mang ngước nhìn bầu trời.
Trong khoảng không cách Trái Đất hàng trăm triệu kilômét, Sao Hỏa là ngôi sao mà người xưa gọi là Huỳnh Hoặc, hoàn toàn không biết đến sự hoang mang và ngu muội của những sinh vật nhỏ bé trên hành tinh láng giềng. Nó lạnh lùng di chuyển trên quỹ đạo elip dài 716,07 triệu kilômét, tuần hoàn không dứt.
Cứ mỗi 15-17 năm, nó lại đến gần Trái Đất nhất, thời điểm ấy được gọi là “xung đối lớn của Sao Hỏa”. Nó tựa một con tàu khổng lồ vượt qua thời gian vô tận, đúng hẹn mà đến, lặng lẽ chờ đợi, rồi lại im lìm rời đi.
*Xung đối: thời điểm Trái Đất nằm giữa Mặt Trời và Sao Hỏa, khi đó Sao Hỏa thường sáng rõ và quan sát được suốt đêm
Con người Trái Đất từng hoàn toàn không hay biết điều đó, họ vội vã diễn trọn cuộc đời ngắn ngủi của mình. Trong hết lần xung đối lớn này đến lần khác, nước Anh bận áp dụng thuế tem, Càn Long bận du ngoạn Giang Nam, Hồng Tú Toàn bận truyền giáo giữa núi rừng Quảng Tây, không ai rảnh ngước nhìn vòm trời.
*Hồng Tú Toàn: lãnh tụ khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc thế kỷ XIX. Đầu thập niên 1840, ông truyền đạo và lập tổ chức Bái Thượng Đế Hội tại vùng núi Quảng Tây
2. Những tấm màn được vén lên
Mãi đến năm 1877, sau vài đợt sốt thiên văn lan khắp châu Âu, nhà thiên văn học người Ý Giovanni Schiaparelli mới dùng một chiếc kính thiên văn nguyên thủy dài 20 cm hướng về Sao Hỏa. Ông bị mù màu, trên bề mặt Sao Hỏa qua ống kính hiện ra những đường đen mảnh hẹp. Ông gọi chúng là “dòng chảy”.
Khi thông tin truyền đến Anh, có người dịch “dòng chảy” thành “kênh đào”, rồi dần biến thành câu chuyện người Ý đã phát hiện sinh vật trên Sao Hỏa đào kênh.
Quan sát ấy khơi lên tranh luận vô tận, cuối cùng khiến Lowell, một nhà tài phiệt ở Boston ở Mỹ, xây dựng hẳn một đài thiên văn tư nhân. Bắt đầu từ lần Sao Hỏa xung đối lớn năm 1894, Lowell từ bỏ toàn bộ công việc kinh doanh để quan sát Sao Hỏa trong 15 năm.
Ông chụp hàng nghìn bức ảnh, vẽ bản đồ chi tiết của Sao Hỏa, đánh dấu 500 “con kênh” cùng những “ốc đảo” tại nơi chúng giao nhau. Ông tin rằng sự thay đổi sáng tối trong các bức ảnh là dấu hiệu mùa màng sinh trưởng rồi lụi tàn.
Năm 1897, nhà văn Anh H. G. Wells xuất bản Đại chiến các thế giới. Bốn mươi mốt năm sau, đài phát thanh Mỹ chuyển tác phẩm thành kịch truyền thanh, kết quả là cả nước Mỹ hoảng loạn.
Chương trình mô phỏng bản tin thời sự, khiến hàng triệu người Mỹ và Canada tin là thật, đường phố hỗn loạn như tận thế. Sao Hỏa, bằng một cách khác, đã trở thành nhân vật chính.
3. Từ giấc mơ đến những kế hoạch điên rồ dần thành hiện thực
Người ta bắt đầu lên kế hoạch bước lên ngôi sao khổng lồ ấy.
Cha đẻ tên lửa Wernher von Braun từng là sĩ quan Đức, sau cuộc chiến dài, ông và các cộng sự đầu hàng Mỹ. Năm 1948, trong thời gian bị giám sát nghiêm ngặt và không có việc gì làm, ông chuyên tâm viết một cuốn sách mang tên Dự án Sao Hỏa.
Đó không phải tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, mà là một phương án khoa học hoàn chỉnh, từ thiết kế quỹ đạo, công thức tính toán, phương pháp đo đạc đến bản vẽ kỹ thuật. Trong sách, một con tàu khổng lồ nặng 4.000 tấn sẽ khởi hành vào năm Sao Hỏa xung đối lớn, vượt qua 56 triệu kilômét, rồi cuối cùng hạ cánh xuống chỏm băng ở cực Sao Hỏa.
Trong phòng giam, ngoài những bức tường xi măng nhợt nhạt chỉ có Sao Hỏa như một điểm sáng nhỏ bé. Nhưng không gì có thể ngăn được giấc mơ ấy.
Năm 1964, Mỹ phóng tàu thăm dò Mariner 4, nó bay lướt qua Sao Hỏa ở độ cao 9.846 km, chụp được 21 bức ảnh. Tổng dung lượng ảnh là 5,2 megabit, mất hơn 6 tiếng mới truyền từ không gian về Trái Đất. Lần đầu tiên, con người nhìn thấy diện mạo thật của Sao Hỏa.
Các bức ảnh ghép lại thành một vùng hoang mạc, không có dấu vết của nền văn minh. Không lâu sau khi hoàn thành nhiệm vụ chụp ảnh, Mariner 4 trượt vào không gian đen kịt.
Sau đó, các tàu thuộc chương trình Mariner nối tiếp nhau khám phá Sao Hỏa, phát hiện những hẻm núi khổng lồ, các hố va chạm và dấu vết nghi là dòng nước cổ.
Năm 1969, von Braun chủ trì hoàn thành chương trình Apollo.
Danh tiếng đang lên, ông cho rằng Mặt Trăng chỉ là điểm khởi đầu của một hành trình vĩ đại hơn. Ông xin Quốc hội cho chế tạo hai tàu vũ trụ chạy bằng năng lượng hạt nhân, nhưng các chính trị gia chẳng buồn để tâm. Trong mắt họ, tàu con thoi và vệ tinh do thám mới có giá trị, một công trình tiêu tốn nhiệm kỳ của nhiều đời tổng thống thì chẳng có ý nghĩa gì.
Trên hành tinh này, những câu chuyện vụn vặt vẫn tiếp diễn. Sau khi nhân loại bước được một bước nhỏ, họ lại quanh quẩn không tiến thêm.
Năm 1977, von Braun qua đời. Ngôi mộ của ông rất giản dị, trên bia mộ là câu Kinh Thánh gửi gắm tâm nguyện còn dang dở: “Các tầng trời rao truyền vinh quang của Đức Chúa Trời, bầu trời loan báo công việc tay Ngài.”
Cũng trong năm ấy, nhân loại phóng Voyager 1 và Voyager 2.
Hai tàu thăm dò ấy không còn mang tham vọng chinh phục, chỉ còn chất thơ của biểu tượng. Mỗi tàu đều mang theo một đĩa ghi âm mạ vàng, một máy phát đĩa chuyên dụng và kim đọc đĩa. Trên vỏ đĩa khắc hướng dẫn cách phát. Trong đĩa lưu tiếng gió, mưa, sấm, chớp; âm thanh động vật, nhạc cổ điển và lời chào bằng 55 ngôn ngữ, trong đó có khúc nhạc cổ Trung Quốc Cao sơn lưu thủy.
Đĩa vàng liên sao do các nhà thiên văn và tác giả phổ biến khoa học dẫn đầu thực hiện. Nhóm chế tác nói: “Chúng tôi hiểu rất rõ rằng hành tinh này cùng toàn bộ cư dân trên đó chỉ là một hạt cực nhỏ trong vũ trụ. Chúng tôi gửi nó đi với lòng khiêm nhường và hy vọng.”
Khi Voyager 2 bay qua Sao Hỏa, một nhóm kỹ sư NASA lập ra tổ chức dân sự mang tên “Mars Underground” (Phong trào ngầm vì Sao Hỏa). Cứ ba năm họ lại họp một lần, bàn về việc xây dựng căn cứ thường trực trên Sao Hỏa. Những cuộc thảo luận ấy kéo dài suốt 15 năm.
Năm 1995, vào kỳ Sao Hỏa xung đối lớn, Mỹ cuối cùng khởi động lại chương trình thăm dò Sao Hỏa. Hai năm sau, Pathfinder hạ cánh xuống hành tinh đỏ, nó thả ra một xe tự hành chỉ lớn bằng lò vi sóng. Chiếc xe trị giá 25 triệu USD, tốc độ tối đa 60 cm mỗi phút. Vài chục ngày sau, nó ngừng hoạt động, nằm im giữa gió cát Sao Hỏa.
Năm 2002, NASA tổ chức cuộc thi đặt tên cho hai xe tự hành sắp phóng. Tên gọi của một bé gái người Nga 9 tuổi đã được chọn. Cô bé sinh ra ở Siberia, đến Mỹ khi còn nhỏ.
Cô viết: “Trước đây em sống trong cô nhi viện tối tăm, lạnh lẽo và cô độc. Mỗi khi đêm xuống, em luôn ngước nhìn những ngôi sao để xua đi nỗi buồn, mơ rằng một ngày nào đó mình sẽ bay vào vũ trụ. Cảm ơn vì đã cho em Tinh thần và Cơ hội.”
Năm 2004, Spirit và Opportunity đến Sao Hỏa. Trong ngày hạ cánh, trang chủ NASA đạt hơn một tỷ lượt truy cập. Trên thân chúng có một lớp bảo vệ dây cáp đặc biệt, làm từ kim loại tìm thấy trong đống đổ nát sau sự kiện 11/9. Nhân loại cuối cùng cũng đã cố gắng bước ra khỏi những tàn tích ấy.
Những xe tự hành bắt đầu hành trình rong ruổi trên Sao Hỏa. Chúng thu năng lượng Mặt Trời, mỗi ngày tạo được khoảng nửa kilowatt-giờ điện, tốc độ “phóng xe” là 5 cm mỗi giây. Cứ đi 10 giây, chúng lại dừng 20 giây để kiểm tra địa hình.
Tuổi thọ thiết kế của cả hai chỉ là 90 ngày, nhưng Spirit hoạt động suốt 7 năm, còn Opportunity bền bỉ trong 15 năm.
Opportunity dần già đi giữa gió cát. Máy tính của nó thường xuyên khởi động lại, cứ làm việc một lúc thì dữ liệu lưu trữ tự động bị xóa sạch, giống chứng hay quên ở tuổi xế chiều.
Con người không nỡ để nó rời đi, vẫn cầu mong phép màu tiếp tục che chở. Nó từng mắc kẹt trong cồn cát. Các nhà khoa học trên Trái Đất đã dựng lại địa hình tương tự, mô phỏng suốt hơn một tháng rưỡi mới tìm được cách giúp nó thoát ra. Cồn cát ấy được đặt tên là “Cồn cát Địa ngục”.
Năm 2018, một cơn bão bụi khổng lồ quét khắp Sao Hỏa. Opportunity bị cát bụi vùi lấp và rơi vào giấc ngủ. Nó gửi về Trái Đất câu cuối cùng: “Trời tối rồi, pin của tôi sắp cạn.”
(My battery is low and it’s getting dark)
Các kỹ sư trên Trái Đất chờ đợi phép màu thêm hơn tám tháng. Họ gửi hơn 1.000 lời gọi, và vào mỗi buổi bình minh trên Sao Hỏa, lại gửi một bài hát để khích lệ Opportunity.
Ngày 12/2/2019, NASA dùng ăng-ten Mars Station dài 70 m để gửi đến Opportunity ca khúc đánh thức cuối cùng, I’ll Be Seeing You.
Một ngày sau, NASA tuyên bố Opportunity kết thúc nhiệm vụ.
Trong 15 năm, nó đã đi được 45 km trên Sao Hỏa, rồi chìm vào giấc ngủ tại Thung lũng Perseverance, trở thành một tượng đài của nhân loại.
Một kỹ sư NASA nói rằng ngày hôm ấy đầy buồn thương, nhưng đó không phải kết thúc của câu chuyện: “Chúng tôi và Opportunity sẽ gặp lại nhau trong tương lai.”
Năm 2017, Trump tuyên bố các phi hành gia Mỹ sẽ trở lại Mặt Trăng, rồi cuối cùng tiến đến Sao Hỏa. Có truyền thông nhận định, luôn có người nghĩ Sao Hỏa là nhiệm vụ của thế hệ sau, thật ra chúng ta đã nắm trong tay công nghệ cần thiết để khởi hành.
“Tổng năng lực tính toán của toàn bộ máy tính trên tàu đổ bộ Mặt Trăng năm xưa cộng lại cũng chỉ tương đương một chiếc iPhone ngày nay.”
Có tác giả hình dung đó là một cuộc Đại hải hành nữa: “Chuyến đi một chiều đến Sao Hỏa mất 6 tháng, nghe có vẻ dài. Nhưng vào thế kỷ XIX, người châu Âu di cư bằng đường biển sang Australia cũng mất chừng ấy thời gian.”
Các quốc gia đều bắt đầu những kế hoạch khám phá không gian. Năm 2013, sau khi Hằng Nga 3 được phóng, Lưu Từ Hân viết về ý nghĩa của thám hiểm:
“Không lâu trước đây, Ấn Độ phóng tàu thăm dò Sao Hỏa. Có truyền thông phương Tây chất vấn: Một phần ba người nghèo trên thế giới ở đất nước các bạn, tại sao còn bỏ nhiều tiền làm việc này?
Người phát ngôn chính phủ Ấn Độ trả lời, nếu chúng tôi không có những giấc mơ vĩ đại, chúng tôi sẽ mãi chỉ là những người đốn củi và gánh nước. Câu trả lời ấy khiến người ta nghiêm trang, có được giấc mơ vĩ đại thực sự là phẩm giá lớn nhất của một quốc gia và một dân tộc.”
*Lưu Từ Hân: nhà văn khoa học viễn tưởng Trung Quốc, nổi tiếng nhất với bộ tiểu thuyết Tam thể.
Năm 2011, Robert Zubrin, chủ tịch Mars Society, xuất bản bản sửa đổi của cuốn The Case for Mars. Ở cuối chương sáu, ông viết:
“Tôi viết những dòng này vào năm 2011. Nếu chúng ta khởi hành vào tháng 10 năm 2022, đoàn khảo sát đầu tiên của loài người sẽ đến Sao Hỏa vào ngày 9/4/2023. Theo lịch địa phương, đó là ngày 15 tháng Sư Tử, năm 34, mùa xuân đang về ở phía bắc Sao Hỏa.
Đó là thời điểm thời tiết đẹp nhất, bầu trời trong trẻo, gió nhẹ thổi qua. Họ đang gọi chúng ta đến. Đã đến lúc rồi.”
BÌNH LUẬN
1. Bạn biết không? Tốc độ di chuyển của xe tự hành Sao Hỏa chỉ khoảng 5 cm mỗi giây.
-> Thế mà nó vẫn đi được 46 km.
2. Đọc đến đoạn Spirit và Opportunity mà tôi lại khóc luôn
3. Câu chuyện vẫn đang tiếp diễn. NASA chế tạo xe tự hành Sao Hỏa; còn khoảng một năm nữa là phóng.
8. Nếu gạt các yếu tố khác sang một bên, tôi nghĩ bất kể ai là người lần nữa đặt chân lên Sao Hỏa, cũng nên đưa hai “người tiên phong” ấy trở về. Không nên để họ cô độc nằm lại ở đó.

