- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,619
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Phó Đức Chính (1907–1930) - Biểu tượng của Việt Nam Quốc Dân Đảng
Trong lịch sử phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, Phó Đức Chính là một nhân vật có cuộc đời ngắn ngủi nhưng gắn với một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất của thời kỳ thuộc địa: khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.
Ông là một trong những người tham gia sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ), giữ vai trò quan trọng trong công tác tổ chức và được xem là một trong những lãnh đạo chủ chốt của đảng, đứng cùng Nguyễn Thái Học ở vị trí trung tâm của phong trào.
Cuộc đời Phó Đức Chính phản ánh sự chuyển biến của một bộ phận thanh niên trí thức Việt Nam từ cuối thập niên 1920, đi lên từ con đường học vấn và công chức trong hệ thống thuộc địa chuyển sang lựa chọn đấu tranh cách mạng khi nhận thức rằng những phương thức cải cách ôn hòa không đủ để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc.
1. Xuất thân Nho học và thế hệ trí thức trong xã hội thuộc địa
Phó Đức Chính sinh năm 1907 tại làng Đa Ngưu, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông là con út của cụ Duy Chân, có các anh chị là Phó Đức Chỉ, Phó Đức Ước và Phó Thị Quy.
Đầu thế kỷ XX, tầng lớp Nho học truyền thống đang đứng trước sự thay đổi căn bản của xã hội Việt Nam. Hệ thống khoa cử từng là con đường chủ yếu để tiến thân đã suy tàn, trong khi nền giáo dục Pháp - Việt và các trường chuyên môn bắt đầu tạo ra một tầng lớp trí thức mới.
Phó Đức Chính thuộc thế hệ chuyển tiếp giữa hai mô hình ấy, ông có nền tảng văn hóa truyền thống từ gia đình và đồng thời tiếp nhận nền giáo dục hiện đại khi bước vào hệ thống công chức thuộc địa.
Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính, một cơ sở đào tạo nhân lực kỹ thuật phục vụ bộ máy thuộc địa. Sau khi tốt nghiệp, ông được bổ nhiệm làm tham tá công chính và được điều sang Lào công tác.
Phó Đức Chính có một sự nghiệp tương đối ổn định trong bộ máy hành chính. Nhưng thay vì lựa chọn con đường công chức, Phó Đức Chính ngày càng tham gia sâu vào hoạt động chính trị. Đây là một đặc điểm quan trọng của lớp trí thức Việt Nam trẻ trong những năm 1920.
2. Sự hình thành Việt Nam Quốc dân Đảng
Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Việt Nam Quốc dân Đảng được thành lập tại Hà Nội, với Nguyễn Thái Học và một số đồng chí giữ vai trò trung tâm. Phó Đức Chính là một trong những nhân vật tham gia sáng lập tổ chức này.
VNQDĐ chịu ảnh hưởng nhất định từ tư tưởng dân chủ và chủ nghĩa dân tộc cách mạng đương thời, đồng thời tiếp thu một số yếu tố từ mô hình Quốc dân Đảng Trung Quốc của Tôn Trung Sơn. Mục tiêu cơ bản của tổ chức này là giành độc lập dân tộc và xây dựng một nhà nước theo định hướng dân chủ cộng hòa.
Trong một tổ chức cách mạng giai đoạn đầu, phải hoạt động bí mật dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa, khả năng xây dựng mạng lưới cơ sở, tuyển mộ thành viên, giữ liên lạc và bảo đảm bí mật có ý nghĩa sống còn. Phó Đức Chính được giao phụ trách những công việc liên quan đến tổ chức và phát triển lực lượng
3. Từ công chức thuộc địa đến nhà cách mạng
Phó Đức Chính từng là một viên chức được đào tạo để phục vụ hệ thống công chính thuộc địa. Điều này cho thấy sự phân cực ngày càng mạnh trong xã hội Việt Nam lúc đó. Hệ thống thuộc địa tạo ra một tầng lớp trí thức mới thông qua trường học và bộ máy công chức. Nhưng chính tầng lớp trí thức này lại có khả năng tiếp cận những tư tưởng chính trị hiện đại như dân tộc chủ nghĩa, dân chủ, cộng hòa và cách mạng.
Việc ông được điều sang Lào làm việc cũng giúp ông có điều kiện tiếp xúc với mạng lưới hoạt động của VNQDĐ ở ngoài Bắc Kỳ và khu vực Đông Dương. Nhưng tại Lào, ông bị chính quyền Pháp bắt giữ trong quá trình đàn áp VNQDĐ sau vụ ám sát Bazin.
4. Vụ ám sát Bazin và bước ngoặt của VNQDĐ
Ngày 9 tháng 2 năm 1929, Nguyễn Văn Viên, một đảng viên VNQDĐ, ám sát Bazin - giám đốc Tổng văn phòng nhân lực Đông Dương - một cai mộ phu khét tiếng của chính quyền và giới chủ Pháp.
Ngay sau đó, chính quyền thuộc địa mở chiến dịch đàn áp quy mô lớn nhằm vào VNQDĐ. Hàng loạt cơ sở bị khám xét, nhiều đảng viên bị bắt và mạng lưới tổ chức bị phá vỡ. Phó Đức Chính cũng bị bắt tại Lào. Ông bị đưa về nước, nhận án tù treo và bị bãi chức, sau đó được trả tự do vì thiếu chứng cứ
Trước đó NQDĐ vẫn còn khả năng xây dựng lực lượng và mở rộng mạng lưới, thì sau năm 1929, nguy cơ bị tiêu diệt đã hiện rõ. VNQDĐ bắt buộc phải lựa chọn tiếp tục hoạt động bí mật để bảo tồn tổ chức, hay chuyển sang khởi nghĩa vũ trang trước khi hệ thống cơ sở bị chính quyền thuộc địa phá hủy hoàn toàn?
Cuối cùng, phe chủ trương khởi nghĩa chiếm ưu thế. Ông cùng Nguyễn Thái Học đưa ra quyết định phát động cuộc Khởi nghĩa Yên Bái vào tháng 2 năm 1930 nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp.
Ngày 17 tháng 9 năm 1929, Tổng bộ VNQDĐ quyết định chuẩn bị tổng khởi nghĩa, với khẩu hiệu "Không thành công thì cũng thành nhân". Tại Hội nghị Mỹ Xá ở Hải Dương ngày 26 tháng 1 năm 1930, kế hoạch khởi nghĩa được hoàn thiện và ngày 10 tháng 2 được lựa chọn làm thời điểm tổng khởi nghĩa.
5. Diễn biến khởi nghĩa Yên Bái
Ngày 9 và 10 tháng 2 năm 1930, cuộc khởi nghĩa bùng nổ tại Yên Bái và sau đó lan sang một số địa phương khác ở Bắc Kỳ. Mục tiêu của VNQDĐ là sử dụng lực lượng binh lính người Việt trong quân đội thuộc địa kết hợp với các cơ sở cách mạng bên ngoài để chiếm các vị trí quân sự và hành chính, từ đó mở rộng khởi nghĩa.
Phó Đức Chính được phân công trực tiếp lãnh đạo cánh quân đánh chiếm đồn Thông tại Sơn Tây.
Nghĩa quân và các binh lính người Việt giác ngộ cách mạng (binh lính khố đỏ) bắt đầu cải trang thành người đi chợ, bí mật đổ về thị xã Yên Bái. Chiều muộn, họ tập trung tại một khu rừng sơn gần thị xã để làm lễ tế cờ, trang bị vũ khí (chủ yếu là súng trường bẻ nòng, bom thô sơ, dao phát tấu) và phân chia thành các mũi tấn công
Tiếng súng khai hỏa lúc 1 giờ sáng ngày 10/2/1930. Cuộc tấn công đồng loạt mở màn tại thị xã Yên Bái dưới sự chỉ huy của Nguyễn Khắc Nhu và các lãnh tụ Quốc dân đảng. Nghĩa quân chia làm 3 mũi chính áp sát và thâm nhập trực tiếp vào trại lính khố đỏ (Đồn Thấp).
Họ nhanh chóng làm chủ Đồn Thấp, đánh chiếm kho vũ khí. Tại đây, quân khởi nghĩa nổ súng tiêu diệt tại chỗ và làm bị thương hơn một chục sĩ quan, hạ sĩ quan chỉ huy người Pháp, trong đó có những tên sừng sỏ như Quan ba Giuốc-đanh (Jourdan) và Quan hai Rô-be (Robert)
Các mũi tấn công khác nhanh chóng tỏa ra chiếm giữ nhà ga, bưu điện, và một số cơ sở hành chính địa phương. Cờ đế quốc Pháp bị hạ xuống. Lá cờ nửa đỏ nửa vàng của Việt Nam Quốc dân đảng được kéo lên tung bay trên các công sở. Nghĩa quân tổ chức phát truyền đơn khắp thị xã nhằm kêu gọi nhân dân nổi dậy hưởng ứng.
Dù làm chủ được Đồn Thấp và phần lớn thị xã, nghĩa quân lại không chiếm được Đồn Cao - cứ điểm phòng thủ kiên cố nhất do Trung tá Tacon chỉ huy. Lực lượng lính khố xanh tại địa phương cũng dao động và không chịu ngả theo nghĩa quân.
Tuần phủ Yên Bái trốn thoát và báo tin về Hà Nội. Đến 8 giờ sáng ngày 10/2, thực dân Pháp lập tức phản công dữ dội, điều động cả máy bay từ Hà Nội lên ném bom, bắn phá tàn khốc để tái chiếm thị xã. Do chênh lệch lực lượng sâu sắc, quân khởi nghĩa dần tan rã và phải rút lui vào rừng.
Lực lượng khởi nghĩa còn có sự phối hợp của các nhánh quân khác :
- Tại Hà Nội đêm 10/2, các đảng viên tổ chức ném bom phối hợp vào nhà Giám đốc Sở mật thám Arnoux và ngục Hỏa Lò
- Tại Sơn Tây, Phó Đức Chính cấp tốc quay về đồn Thông để tổ chức nổi dậy. Tuy nhiên, kho bom ở Quang Húc bị Pháp phát hiện và tịch thu từ trước, khiến kế hoạch đánh đồn bị bẻ gãy. Ông bị vây bắt ngay sau đó.
- Tại Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình khởi nghĩa cũng nổ ra, nghĩa quân chiếm được vài huyện lỵ nhỏ nhưng nhanh chóng bị thực dân Pháp dập tắt.
7. Từ ngục tù đến máy chém
Từ tháng 2.1930 đến tháng 6.1930 là một chuỗi những ngày tháng đầy bi tráng từ khi ông bị bắt, chịu tra tấn trong lao ngục, cho đến khí phách hiên ngang trên pháp trường Yên Bái.
Sau khi kế hoạch đánh đồn Thông tại Sơn Tây phá sản do kho bom bị lộ, Phó Đức Chính lẩn trốn để tìm cách gây dựng lại lực lượng. Ngày 15 tháng 2 năm 1930, Phó Đức Chính bị thực dân Pháp vây bắt tại Nam Mẫu, Sơn Tây và bị đưa về giam tại Hỏa Lò
Ông bị bắt giải đến ngục Hỏa Lò từ tháng 2 đến tháng 3.1930. Tại đây, mật thám Pháp dùng nhiều cực hình tra tấn dã man nhằm ép ông khai ra các cơ sở bí mật và những lãnh tụ còn lại của Việt Nam Quốc dân đảng. Phó Đức Chính kiên quyết không khai báo. Ông nhận hết trách nhiệm về mình, tự hào khẳng định vai trò thủ lĩnh và tuyên bố hành động vị quốc vong thân của mình là chính nghĩa.
Ngày 23.3.1930, hội đồng Huề tụng (Hội đồng Xét xử Đặc biệt) của thực dân Pháp mở phiên tòa xử ông và các đồng chí. Trước tòa án thực dân, ông không hề xin giảm án hay biện hộ để thoát tội. Hội đồng phán quyết kết án tử hình Phó Đức Chính bằng máy chém. Khi nghe bản án, ông thản nhiên đón nhận và từ chối ký vào đơn xin ân xá gửi Toàn quyền Đông Dương, vì ông cho rằng "đã làm cách mạng chống Pháp thì không bao giờ cầu xin sự bố thí lòng thương hại từ kẻ thù".
Rạng sáng ngày 17.6.1930, thực dân Pháp áp giải Phó Đức Chính cùng Nguyễn Thái Học và 11 đồng chí khác từ Hà Nội lên Yên Bái để hành quyết nhằm răn đe tinh thần yêu nước của nhân dân. Khi bước lên đài chém, Phó Đức Chính là người duy nhất đưa ra một yêu cầu đặc biệt với giám sát viên và đao phủ Pháp: "Cho tôi nằm ngửa để nhìn lưỡi dao rơi xuống".
Ông từ chối bịt mắt và từ chối nằm sấp như những tử tù thông thường. Ông muốn trực tiếp đối diện với cái chết. Lưng đặt trên ván máy chém, mắt nhìn thẳng vào lưỡi dao thép, Phó Đức Chính dùng hết sức bình sinh hô vang khẩu hiệu: "Việt Nam vạn tuế!" trước khi lưỡi dao sập xuống. Lúc đó ông mới tròn 23 tuổi.
Cái chết của Phó Đức Chính cùng câu nói "Không thành công cũng thành nhân" của thế hệ sỹ phu Yên Bái năm 1930 đã trở thành biểu tượng bất tử cho tinh thần yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam.
8. Tầm ảnh hưởng lịch sử của cuộc khởi nghĩa
Phó Đức Chính là một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào dân tộc Việt Nam cuối thập niên 1920. Cuộc đời ông cho thấy sự chuyển biến sâu sắc của xã hội Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa, khi tầng lớp trí thức mới được hình thành bởi chính hệ thống giáo dục hiện đại lại trở thành một trong những lực lượng thách thức chế độ thuộc địa.
Khởi nghĩa Yên Bái thất bại về quân sự, nhưng cái chết của Phó Đức Chính cùng Nguyễn Thái Học và các đồng chí đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tiến trình lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam, trở thành biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạn, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất.
Ngọn lửa Yên Bái còn phá tan bầu không khí khủng bố đen tối của thực dân Pháp, cổ vũ lòng tự tôn dân tộc và chứng minh cho nhân dân thấy rằng ách thống trị của thực dân Pháp hoàn toàn có thể bị lung lay bằng bạo lực cách mạng. Cuộc khởi nghĩa nổ ra ngay trong hàng ngũ binh lính khố đỏ (lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ thuộc địa của Pháp) khiến chính phủ Pháp bất ngờ và lo sợ. Sự kiện này buộc chính giới và dư luận cánh tả tại Pháp phải nhìn nhận lại chính sách cai trị bạo ngược ở Đông Dương. Nhiều cuộc biểu tình, bài báo tại Paris đã lên tiếng phản đối sự đàn áp dã man của chính quyền thực dân đối với các chí sĩ Yên Bái.
Nhà lịch sử học người Pháp Louis Roubaud đã viết cuốn sách Vietnam (1931) ghi lại sự kiện này với sự xúc động và nể trọng trước khí phách của những người tử tù yêu nước.
Tuy nhiên, thất bại của khởi nghĩa Yên Bái đã làm tan rã hoàn toàn hệ thống tổ chức của Việt Nam Quốc dân đảng. Điều này đồng thời đánh dấu sự chấm dứt và bế tắc của khuynh hướng cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản tại Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa cho thấy những hạn chế chí mạng của Quốc dân đảng: tổ chức lỏng lẻo, dễ bị mật thám thâm nhập, không bám rễ vào quần chúng nhân dân (chủ yếu dựa vào binh lính) và khởi sự khi chưa chuẩn bị chín muồi.
Phong trào dân tộc Việt Nam cuối thập niên 1920 không phải là phong trào của một tầng lớp chính trị đã trưởng thành qua nhiều thập niên hoạt động. Nó được thúc đẩy bởi một thế hệ trí thức trẻ đang tìm kiếm một con đường mới trong bối cảnh chế độ thuộc địa ngày càng siết chặt. Họ có nhiệt huyết, lý tưởng và khả năng tổ chức, nhưng thiếu kinh nghiệm chiến tranh cách mạng quy mô lớn, thiếu nguồn lực và chưa có một cơ sở xã hội đủ rộng.
Khi khuynh hướng tư sản thất bại cũng là lúc Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mới ra đời (đầu năm 1930). Giai cấp công nhân và nông dân nhanh chóng tiếp quản ngọn cờ cứu nước, mở ra kỷ nguyên đấu tranh mới theo khuynh hướng vô sản.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các nhà cách mạng sau này đã nghiên cứu rất kỹ bài học xương máu từ Yên Bái để xây dựng một phương pháp luận cách mạng chặt chẽ hơn: phải dựa vào sức mạnh tổng lực của khối đại đoàn kết toàn dân, lấy công nông làm gốc, và chỉ khởi nghĩa khi có thời cơ chín muồi (như Cách mạng Tháng Tám năm 1945).
Trong lịch sử phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, Phó Đức Chính là một nhân vật có cuộc đời ngắn ngủi nhưng gắn với một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất của thời kỳ thuộc địa: khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.
Ông là một trong những người tham gia sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ), giữ vai trò quan trọng trong công tác tổ chức và được xem là một trong những lãnh đạo chủ chốt của đảng, đứng cùng Nguyễn Thái Học ở vị trí trung tâm của phong trào.
Cuộc đời Phó Đức Chính phản ánh sự chuyển biến của một bộ phận thanh niên trí thức Việt Nam từ cuối thập niên 1920, đi lên từ con đường học vấn và công chức trong hệ thống thuộc địa chuyển sang lựa chọn đấu tranh cách mạng khi nhận thức rằng những phương thức cải cách ôn hòa không đủ để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc.
1. Xuất thân Nho học và thế hệ trí thức trong xã hội thuộc địa
Phó Đức Chính sinh năm 1907 tại làng Đa Ngưu, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông là con út của cụ Duy Chân, có các anh chị là Phó Đức Chỉ, Phó Đức Ước và Phó Thị Quy.
Đầu thế kỷ XX, tầng lớp Nho học truyền thống đang đứng trước sự thay đổi căn bản của xã hội Việt Nam. Hệ thống khoa cử từng là con đường chủ yếu để tiến thân đã suy tàn, trong khi nền giáo dục Pháp - Việt và các trường chuyên môn bắt đầu tạo ra một tầng lớp trí thức mới.
Phó Đức Chính thuộc thế hệ chuyển tiếp giữa hai mô hình ấy, ông có nền tảng văn hóa truyền thống từ gia đình và đồng thời tiếp nhận nền giáo dục hiện đại khi bước vào hệ thống công chức thuộc địa.
Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính, một cơ sở đào tạo nhân lực kỹ thuật phục vụ bộ máy thuộc địa. Sau khi tốt nghiệp, ông được bổ nhiệm làm tham tá công chính và được điều sang Lào công tác.
Phó Đức Chính có một sự nghiệp tương đối ổn định trong bộ máy hành chính. Nhưng thay vì lựa chọn con đường công chức, Phó Đức Chính ngày càng tham gia sâu vào hoạt động chính trị. Đây là một đặc điểm quan trọng của lớp trí thức Việt Nam trẻ trong những năm 1920.
2. Sự hình thành Việt Nam Quốc dân Đảng
Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Việt Nam Quốc dân Đảng được thành lập tại Hà Nội, với Nguyễn Thái Học và một số đồng chí giữ vai trò trung tâm. Phó Đức Chính là một trong những nhân vật tham gia sáng lập tổ chức này.
VNQDĐ chịu ảnh hưởng nhất định từ tư tưởng dân chủ và chủ nghĩa dân tộc cách mạng đương thời, đồng thời tiếp thu một số yếu tố từ mô hình Quốc dân Đảng Trung Quốc của Tôn Trung Sơn. Mục tiêu cơ bản của tổ chức này là giành độc lập dân tộc và xây dựng một nhà nước theo định hướng dân chủ cộng hòa.
Trong một tổ chức cách mạng giai đoạn đầu, phải hoạt động bí mật dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa, khả năng xây dựng mạng lưới cơ sở, tuyển mộ thành viên, giữ liên lạc và bảo đảm bí mật có ý nghĩa sống còn. Phó Đức Chính được giao phụ trách những công việc liên quan đến tổ chức và phát triển lực lượng
3. Từ công chức thuộc địa đến nhà cách mạng
Phó Đức Chính từng là một viên chức được đào tạo để phục vụ hệ thống công chính thuộc địa. Điều này cho thấy sự phân cực ngày càng mạnh trong xã hội Việt Nam lúc đó. Hệ thống thuộc địa tạo ra một tầng lớp trí thức mới thông qua trường học và bộ máy công chức. Nhưng chính tầng lớp trí thức này lại có khả năng tiếp cận những tư tưởng chính trị hiện đại như dân tộc chủ nghĩa, dân chủ, cộng hòa và cách mạng.
Việc ông được điều sang Lào làm việc cũng giúp ông có điều kiện tiếp xúc với mạng lưới hoạt động của VNQDĐ ở ngoài Bắc Kỳ và khu vực Đông Dương. Nhưng tại Lào, ông bị chính quyền Pháp bắt giữ trong quá trình đàn áp VNQDĐ sau vụ ám sát Bazin.
4. Vụ ám sát Bazin và bước ngoặt của VNQDĐ
Ngày 9 tháng 2 năm 1929, Nguyễn Văn Viên, một đảng viên VNQDĐ, ám sát Bazin - giám đốc Tổng văn phòng nhân lực Đông Dương - một cai mộ phu khét tiếng của chính quyền và giới chủ Pháp.
Ngay sau đó, chính quyền thuộc địa mở chiến dịch đàn áp quy mô lớn nhằm vào VNQDĐ. Hàng loạt cơ sở bị khám xét, nhiều đảng viên bị bắt và mạng lưới tổ chức bị phá vỡ. Phó Đức Chính cũng bị bắt tại Lào. Ông bị đưa về nước, nhận án tù treo và bị bãi chức, sau đó được trả tự do vì thiếu chứng cứ
Trước đó NQDĐ vẫn còn khả năng xây dựng lực lượng và mở rộng mạng lưới, thì sau năm 1929, nguy cơ bị tiêu diệt đã hiện rõ. VNQDĐ bắt buộc phải lựa chọn tiếp tục hoạt động bí mật để bảo tồn tổ chức, hay chuyển sang khởi nghĩa vũ trang trước khi hệ thống cơ sở bị chính quyền thuộc địa phá hủy hoàn toàn?
Cuối cùng, phe chủ trương khởi nghĩa chiếm ưu thế. Ông cùng Nguyễn Thái Học đưa ra quyết định phát động cuộc Khởi nghĩa Yên Bái vào tháng 2 năm 1930 nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp.
Ngày 17 tháng 9 năm 1929, Tổng bộ VNQDĐ quyết định chuẩn bị tổng khởi nghĩa, với khẩu hiệu "Không thành công thì cũng thành nhân". Tại Hội nghị Mỹ Xá ở Hải Dương ngày 26 tháng 1 năm 1930, kế hoạch khởi nghĩa được hoàn thiện và ngày 10 tháng 2 được lựa chọn làm thời điểm tổng khởi nghĩa.
5. Diễn biến khởi nghĩa Yên Bái
Ngày 9 và 10 tháng 2 năm 1930, cuộc khởi nghĩa bùng nổ tại Yên Bái và sau đó lan sang một số địa phương khác ở Bắc Kỳ. Mục tiêu của VNQDĐ là sử dụng lực lượng binh lính người Việt trong quân đội thuộc địa kết hợp với các cơ sở cách mạng bên ngoài để chiếm các vị trí quân sự và hành chính, từ đó mở rộng khởi nghĩa.
Phó Đức Chính được phân công trực tiếp lãnh đạo cánh quân đánh chiếm đồn Thông tại Sơn Tây.
Nghĩa quân và các binh lính người Việt giác ngộ cách mạng (binh lính khố đỏ) bắt đầu cải trang thành người đi chợ, bí mật đổ về thị xã Yên Bái. Chiều muộn, họ tập trung tại một khu rừng sơn gần thị xã để làm lễ tế cờ, trang bị vũ khí (chủ yếu là súng trường bẻ nòng, bom thô sơ, dao phát tấu) và phân chia thành các mũi tấn công
Tiếng súng khai hỏa lúc 1 giờ sáng ngày 10/2/1930. Cuộc tấn công đồng loạt mở màn tại thị xã Yên Bái dưới sự chỉ huy của Nguyễn Khắc Nhu và các lãnh tụ Quốc dân đảng. Nghĩa quân chia làm 3 mũi chính áp sát và thâm nhập trực tiếp vào trại lính khố đỏ (Đồn Thấp).
Họ nhanh chóng làm chủ Đồn Thấp, đánh chiếm kho vũ khí. Tại đây, quân khởi nghĩa nổ súng tiêu diệt tại chỗ và làm bị thương hơn một chục sĩ quan, hạ sĩ quan chỉ huy người Pháp, trong đó có những tên sừng sỏ như Quan ba Giuốc-đanh (Jourdan) và Quan hai Rô-be (Robert)
Các mũi tấn công khác nhanh chóng tỏa ra chiếm giữ nhà ga, bưu điện, và một số cơ sở hành chính địa phương. Cờ đế quốc Pháp bị hạ xuống. Lá cờ nửa đỏ nửa vàng của Việt Nam Quốc dân đảng được kéo lên tung bay trên các công sở. Nghĩa quân tổ chức phát truyền đơn khắp thị xã nhằm kêu gọi nhân dân nổi dậy hưởng ứng.
Dù làm chủ được Đồn Thấp và phần lớn thị xã, nghĩa quân lại không chiếm được Đồn Cao - cứ điểm phòng thủ kiên cố nhất do Trung tá Tacon chỉ huy. Lực lượng lính khố xanh tại địa phương cũng dao động và không chịu ngả theo nghĩa quân.
Tuần phủ Yên Bái trốn thoát và báo tin về Hà Nội. Đến 8 giờ sáng ngày 10/2, thực dân Pháp lập tức phản công dữ dội, điều động cả máy bay từ Hà Nội lên ném bom, bắn phá tàn khốc để tái chiếm thị xã. Do chênh lệch lực lượng sâu sắc, quân khởi nghĩa dần tan rã và phải rút lui vào rừng.
Lực lượng khởi nghĩa còn có sự phối hợp của các nhánh quân khác :
- Tại Hà Nội đêm 10/2, các đảng viên tổ chức ném bom phối hợp vào nhà Giám đốc Sở mật thám Arnoux và ngục Hỏa Lò
- Tại Sơn Tây, Phó Đức Chính cấp tốc quay về đồn Thông để tổ chức nổi dậy. Tuy nhiên, kho bom ở Quang Húc bị Pháp phát hiện và tịch thu từ trước, khiến kế hoạch đánh đồn bị bẻ gãy. Ông bị vây bắt ngay sau đó.
- Tại Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình khởi nghĩa cũng nổ ra, nghĩa quân chiếm được vài huyện lỵ nhỏ nhưng nhanh chóng bị thực dân Pháp dập tắt.
7. Từ ngục tù đến máy chém
Từ tháng 2.1930 đến tháng 6.1930 là một chuỗi những ngày tháng đầy bi tráng từ khi ông bị bắt, chịu tra tấn trong lao ngục, cho đến khí phách hiên ngang trên pháp trường Yên Bái.
Sau khi kế hoạch đánh đồn Thông tại Sơn Tây phá sản do kho bom bị lộ, Phó Đức Chính lẩn trốn để tìm cách gây dựng lại lực lượng. Ngày 15 tháng 2 năm 1930, Phó Đức Chính bị thực dân Pháp vây bắt tại Nam Mẫu, Sơn Tây và bị đưa về giam tại Hỏa Lò
Ông bị bắt giải đến ngục Hỏa Lò từ tháng 2 đến tháng 3.1930. Tại đây, mật thám Pháp dùng nhiều cực hình tra tấn dã man nhằm ép ông khai ra các cơ sở bí mật và những lãnh tụ còn lại của Việt Nam Quốc dân đảng. Phó Đức Chính kiên quyết không khai báo. Ông nhận hết trách nhiệm về mình, tự hào khẳng định vai trò thủ lĩnh và tuyên bố hành động vị quốc vong thân của mình là chính nghĩa.
Ngày 23.3.1930, hội đồng Huề tụng (Hội đồng Xét xử Đặc biệt) của thực dân Pháp mở phiên tòa xử ông và các đồng chí. Trước tòa án thực dân, ông không hề xin giảm án hay biện hộ để thoát tội. Hội đồng phán quyết kết án tử hình Phó Đức Chính bằng máy chém. Khi nghe bản án, ông thản nhiên đón nhận và từ chối ký vào đơn xin ân xá gửi Toàn quyền Đông Dương, vì ông cho rằng "đã làm cách mạng chống Pháp thì không bao giờ cầu xin sự bố thí lòng thương hại từ kẻ thù".
Rạng sáng ngày 17.6.1930, thực dân Pháp áp giải Phó Đức Chính cùng Nguyễn Thái Học và 11 đồng chí khác từ Hà Nội lên Yên Bái để hành quyết nhằm răn đe tinh thần yêu nước của nhân dân. Khi bước lên đài chém, Phó Đức Chính là người duy nhất đưa ra một yêu cầu đặc biệt với giám sát viên và đao phủ Pháp: "Cho tôi nằm ngửa để nhìn lưỡi dao rơi xuống".
Ông từ chối bịt mắt và từ chối nằm sấp như những tử tù thông thường. Ông muốn trực tiếp đối diện với cái chết. Lưng đặt trên ván máy chém, mắt nhìn thẳng vào lưỡi dao thép, Phó Đức Chính dùng hết sức bình sinh hô vang khẩu hiệu: "Việt Nam vạn tuế!" trước khi lưỡi dao sập xuống. Lúc đó ông mới tròn 23 tuổi.
Cái chết của Phó Đức Chính cùng câu nói "Không thành công cũng thành nhân" của thế hệ sỹ phu Yên Bái năm 1930 đã trở thành biểu tượng bất tử cho tinh thần yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam.
8. Tầm ảnh hưởng lịch sử của cuộc khởi nghĩa
Phó Đức Chính là một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào dân tộc Việt Nam cuối thập niên 1920. Cuộc đời ông cho thấy sự chuyển biến sâu sắc của xã hội Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa, khi tầng lớp trí thức mới được hình thành bởi chính hệ thống giáo dục hiện đại lại trở thành một trong những lực lượng thách thức chế độ thuộc địa.
Khởi nghĩa Yên Bái thất bại về quân sự, nhưng cái chết của Phó Đức Chính cùng Nguyễn Thái Học và các đồng chí đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tiến trình lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam, trở thành biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạn, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất.
Ngọn lửa Yên Bái còn phá tan bầu không khí khủng bố đen tối của thực dân Pháp, cổ vũ lòng tự tôn dân tộc và chứng minh cho nhân dân thấy rằng ách thống trị của thực dân Pháp hoàn toàn có thể bị lung lay bằng bạo lực cách mạng. Cuộc khởi nghĩa nổ ra ngay trong hàng ngũ binh lính khố đỏ (lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ thuộc địa của Pháp) khiến chính phủ Pháp bất ngờ và lo sợ. Sự kiện này buộc chính giới và dư luận cánh tả tại Pháp phải nhìn nhận lại chính sách cai trị bạo ngược ở Đông Dương. Nhiều cuộc biểu tình, bài báo tại Paris đã lên tiếng phản đối sự đàn áp dã man của chính quyền thực dân đối với các chí sĩ Yên Bái.
Nhà lịch sử học người Pháp Louis Roubaud đã viết cuốn sách Vietnam (1931) ghi lại sự kiện này với sự xúc động và nể trọng trước khí phách của những người tử tù yêu nước.
Tuy nhiên, thất bại của khởi nghĩa Yên Bái đã làm tan rã hoàn toàn hệ thống tổ chức của Việt Nam Quốc dân đảng. Điều này đồng thời đánh dấu sự chấm dứt và bế tắc của khuynh hướng cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản tại Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa cho thấy những hạn chế chí mạng của Quốc dân đảng: tổ chức lỏng lẻo, dễ bị mật thám thâm nhập, không bám rễ vào quần chúng nhân dân (chủ yếu dựa vào binh lính) và khởi sự khi chưa chuẩn bị chín muồi.
Phong trào dân tộc Việt Nam cuối thập niên 1920 không phải là phong trào của một tầng lớp chính trị đã trưởng thành qua nhiều thập niên hoạt động. Nó được thúc đẩy bởi một thế hệ trí thức trẻ đang tìm kiếm một con đường mới trong bối cảnh chế độ thuộc địa ngày càng siết chặt. Họ có nhiệt huyết, lý tưởng và khả năng tổ chức, nhưng thiếu kinh nghiệm chiến tranh cách mạng quy mô lớn, thiếu nguồn lực và chưa có một cơ sở xã hội đủ rộng.
Khi khuynh hướng tư sản thất bại cũng là lúc Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mới ra đời (đầu năm 1930). Giai cấp công nhân và nông dân nhanh chóng tiếp quản ngọn cờ cứu nước, mở ra kỷ nguyên đấu tranh mới theo khuynh hướng vô sản.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các nhà cách mạng sau này đã nghiên cứu rất kỹ bài học xương máu từ Yên Bái để xây dựng một phương pháp luận cách mạng chặt chẽ hơn: phải dựa vào sức mạnh tổng lực của khối đại đoàn kết toàn dân, lấy công nông làm gốc, và chỉ khởi nghĩa khi có thời cơ chín muồi (như Cách mạng Tháng Tám năm 1945).

