• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Tại sao Afghanistan và Ả Rập lại tham nhũng mạnh khi dân chủ hóa?

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,433
Reaction score
0
Points
36
Tại sao Afghanistan và Ả Rập lại tham nhũng mạnh khi dân chủ hóa?

Tham nhũng bùng nổ hoặc gia tăng mạnh thường được nhắc tới sau các biến động chính trị lớn, từ nhà nước Afghanistan được Mỹ và NATO dựng lại sau năm 2001, đến các cuộc nổi dậy trong Mùa xuân Ả Rập, nhiều nơi không đi theo hướng dân chủ hóa ổn định mà rơi vào phản đảo chính, nội chiến hoặc quay lại độc tài.

Các trường hợp này có điểm chung đáng chú ý, đó là tham nhũng đều gia tăng rõ rệt sau khi trật tự chính trị cũ bị phá vỡ đột ngột mà chưa có thể chế pháp quyền đủ mạnh thay thế.

1. Những nguyên nhân khiến tham nhũng bùng nổ tại thời điểm dân chủ hóa

Dưới thời độc tài hoặc quân phiệt, tham nhũng vốn đã tồn tại nặng nề nhưng được quản lý và phân phối trong nội bộ một nhóm nhỏ, thường là dòng họ của người đứng đầu hoặc giới tinh hoa quân đội, chứ không mang nghĩa là có trật tự tốt đẹp hay ít gây hại hơn cho nền kinh tế.

Nhóm này quyết định ai được chia phần và chia bao nhiêu, nên dòng chảy của tham nhũng dù vẫn tàn phá đất nước vẫn đi theo một trật tự phân cấp nhất định.

Khi bộ máy độc tài bị đập tan trong quá trình chuyển giao mà bộ máy pháp luật mới chưa kịp hình thành đủ mạnh, cơ chế bảo kê và phân chia cũ biến mất trong khi cơ chế kiểm soát mới chưa vận hành được.

Kết quả là tham nhũng trở nên phi tập trung, mọi quan chức từ cấp cao đến cấp địa phương đều tranh thủ vơ vét vì không còn ai răn đe hay quản lý việc phân chia.

Trường hợp Afghanistan giai đoạn 2001 đến 2021 minh họa thêm cho cơ chế này, khi phương Tây bơm hàng trăm tỷ đô la viện trợ quân sự và phát triển vào một đất nước chưa có hạ tầng thể chế tương xứng, trong đó riêng phần hỗ trợ lực lượng an ninh đã lên tới hàng chục tỷ đô la theo các báo cáo của cơ quan giám sát tái thiết Afghanistan của Mỹ.

Bộ máy hành chính sơ khai không đủ năng lực quản lý khối lượng tiền quá lớn này, khiến viện trợ biến chính phủ thành nơi phân phối tiền thay vì nơi tạo ra giá trị, và các hợp đồng thầu khoán quân sự, mua sắm vũ khí, xây dựng hạ tầng trở thành nguồn lợi cho quan chức Kabul và các thủ lĩnh vũ trang địa phương thao túng.

Một trong những hình thức phổ biến nhất là hiện tượng lính ma và cảnh sát ma, khi chỉ huy các đơn vị khai khống quân số để rút tiền lương do Mỹ chi trả, và mức độ này khác nhau đáng kể theo tỉnh và thời điểm, với giới chức tỉnh Helmand từng ước tính có lúc gần một nửa quân số trên giấy tờ ở địa phương này không tồn tại trên thực tế.

Có thể vận dụng một cách loại suy dòng lý thuyết về nhà nước thuê bao của Terry Lynn Karl và Michael Ross, vốn ban đầu được xây dựng chủ yếu cho các nhà nước sống nhờ nguồn thu dầu mỏ, sang trường hợp Afghanistan sống nhờ viện trợ an ninh quốc tế, theo hướng khi một chính quyền không phụ thuộc vào thuế của chính người dân mình để tồn tại, nó cũng mất đi phần nào động lực phải minh bạch hay chịu trách nhiệm giải trình trước người dân đó.

Bên cạnh đó, xây dựng một thể chế dân chủ thực thụ, bao gồm tòa án độc lập, báo chí điều tra, cơ quan chống tham nhũng và bộ máy công chức chuyên nghiệp, là công việc cần nhiều thập kỷ chứ không thể hoàn tất trong vài năm.

Sau các cuộc cách mạng của Mùa xuân Ả Rập tại Libya, Yemen hay Ai Cập, thể chế cũ sụp đổ nhanh chóng nhưng thể chế mới trong nhiều trường hợp chỉ tồn tại trên vỏ bọc hình thức với bầu cử và quốc hội trên danh nghĩa, khiến việc mở cửa kinh tế hay trao quyền hạn mới cho các bên chỉ khiến hành vi hối lộ và lạm quyền diễn ra dễ dàng hơn mà không sợ bị trừng phạt.

Ở nhiều nước Trung Đông và Nam Á, lòng trung thành với bộ tộc, dòng họ hoặc phe phái tôn giáo thường mạnh hơn nhiều so với lòng trung thành với nhà nước hay pháp luật.

Khi bước vào cơ chế bầu cử, các chính khách không tranh thủ cử tri bằng chính sách mà bằng cách phân phát tiền bạc hoặc bổ nhiệm người cùng bộ tộc, dòng họ vào các vị trí béo bở trong bộ máy nhà nước, một hình thức chủ nghĩa vị thân điển hình.

Ở một số cộng đồng theo cấu trúc bộ lạc, việc một quan chức dùng quyền lực để lấy tiền nhà nước chia cho dòng họ đôi khi được nhìn nhận như trách nhiệm với cộng đồng hơn là một hành vi sai trái.

Cuối cùng, các giai đoạn chuyển giao dân chủ thường đi kèm bất ổn an ninh, nổi dậy hoặc nội chiến, như từng diễn ra tại Libya, Iraq và Afghanistan.

Khi tương lai chính trị mờ mịt và chính quyền có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, quan chức và chính khách có xu hướng vơ vét nhanh nhất có thể để chuyển tài sản ra nước ngoài, thường là sang Dubai, Thụy Sĩ hoặc các nước Âu Mỹ, thay vì đầu tư lâu dài trong nước.

2. Điểm tương đồng với Nga hậu Xô Viết thập niên 1990

Hiện tượng tại Afghanistan và các nước Ả Rập có một số điểm tương đồng đáng chú ý về mặt cơ chế với những gì diễn ra ở Nga thập niên 1990 dưới thời Boris Yeltsin.

Nghiên cứu của nhà chính trị học Joel Hellman công bố năm 1998 mô tả cái gọi là bẫy cải cách nửa vời, trong đó nhóm hưởng lợi đầu tiên từ cải cách kinh tế lại chính là những người có động lực mạnh nhất để ngăn cản cải cách đi đến cùng, bởi trạng thái nửa vời cho phép họ tiếp tục trục lợi từ khoảng trống pháp lý.

Tại Nga, nhóm hưởng lợi này là các cựu quan chức, giám đốc doanh nghiệp nhà nước và tài phiệt sơ khai, những người nhanh chóng chiếm lấy tài sản quốc gia qua các chương trình cổ phần hóa.

Tại Afghanistan hay Iraq, vai trò tương tự thuộc về các thủ lĩnh vũ trang địa phương và giới tinh hoa thân hữu mới nổi, những người cũng tận dụng đúng trạng thái luật pháp mập mờ để vừa vơ vét vừa tránh bị kiểm soát.

Nhà nghiên cứu Michael Johnston, trong công trình phân loại các dạng thức tham nhũng công bố năm 2005, xếp trường hợp Nga vào nhóm mà ông gọi là tham nhũng kiểu tài phiệt và phe nhóm, đặc trưng bởi việc tài sản công rơi vào tay một số ít cá nhân thông qua thị trường tự do chưa được kiểm soát.

Tư nhân hóa ở Nga thời Yeltsin diễn ra qua nhiều giai đoạn khác nhau chứ không chỉ một cơ chế duy nhất, bắt đầu bằng chương trình cổ phần hóa bằng phiếu chứng khoán trong các năm 1992 đến 1994 giữa lúc lạm phát phi mã và ngân sách nhà nước gần như kiệt quệ.

Đến năm 1995 và 1996, chính phủ triển khai thêm chương trình cổ phần đổi lấy tiền vay, trong đó các ngân hàng tư nhân cho chính phủ vay tiền để đổi lấy cổ phần trong các doanh nghiệp nhà nước lớn, và khi chính phủ không trả được nợ, cổ phần đó rơi vào tay chính các ngân hàng cho vay với giá thấp hơn nhiều giá trị thực.

Nhờ các cơ chế này mà những tài sản như các tập đoàn dầu khí và khoáng sản khổng lồ của Liên Xô cũ rơi vào tay một số ít cá nhân với giá thấp hơn nhiều giá trị thực, hình thành nên tầng lớp tài phiệt Nga.

Chẳng hạn, tập đoàn dầu khí Yukos rơi vào tay nhóm Menatep của Mikhail Khodorkovsky, còn tập đoàn khoáng sản Norilsk Nickel rơi vào tay nhóm Interros của Vladimir Potanin, hai thương vụ diễn ra theo những cách thức và thời điểm khác nhau chứ không đồng nhất, trong khi tòa án và cảnh sát lúc đó vừa yếu vừa dễ bị mua chuộc nên gần như không có cơ chế nào ngăn cản quá trình này.

Ở Afghanistan và các nước Ả Rập, cơ chế xâu xé nguồn lực tương tự diễn ra chủ yếu qua dòng tiền viện trợ quốc tế thay vì qua tài sản công như trường hợp Nga.

Nhà chính trị học Francis Fukuyama, trong các nghiên cứu về xây dựng nhà nước, nhấn mạnh rằng việc xây dựng bộ máy hành chính và pháp quyền phải đi trước hoặc song song với dân chủ hóa, chứ không thể đến sau.

Tại Nga thập niên 1990, bộ máy an ninh và pháp luật thời Liên Xô bị giải thể hoặc mất uy lực trong khi bộ máy tư pháp mới chưa đủ bản lĩnh, dẫn đến tình trạng luật rừng, trong đó tội phạm có tổ chức kết hợp với quan chức biến hối lộ thành phương thức giao dịch kinh tế mặc định.

Tại Iraq, chính quyền quân sự Mỹ ban hành liên tiếp hai sắc lệnh vào tháng 5 năm 2003, một sắc lệnh cấm đảng Ba'ath dưới mọi hình thức và một sắc lệnh giải tán toàn bộ quân đội cùng các cơ quan an ninh, tình báo của chế độ cũ, khiến khoảng bốn trăm nghìn người mất việc gần như ngay lập tức và góp phần châm ngòi cho một cuộc nổi dậy cùng nội chiến giáo phái kéo dài nhiều năm sau đó.

Tại Libya, sự sụp đổ của chính quyền Gaddafi năm 2011 dẫn tới một mức độ tan rã nhà nước sâu hơn nhiều so với Iraq, khi chính quyền trung ương gần như biến mất hoàn toàn và quyền lực rơi vào tay nhiều nhóm vũ trang địa phương cạnh tranh nhau, và khi nhà nước không thể cung cấp an ninh hay dịch vụ cơ bản, người dân buộc phải hối lộ quan chức hoặc dựa vào các mạng lưới thân hữu, bộ lạc để sống sót qua ngày.

Nghiên cứu của Henry Hale về chính trị thân hữu tại các nước hậu cộng sản và hậu độc tài chỉ ra rằng khi thể chế chính thức như tòa án và chính phủ bị suy yếu, xã hội sẽ vận hành theo mạng lưới phi chính thức dựa trên nguyên tắc ban phát đổi lấy trung thành.

Dưới thời Yeltsin, giữa bối cảnh khủng hoảng tài khóa và cạnh tranh quyền lực gay gắt với phe cộng sản đối lập, tổng thống và nhóm cố vấn đã trao quyền lực và tài sản cho các tài phiệt để đổi lấy sự hỗ trợ tài chính và truyền thông cho các kỳ bầu cử.

Tại Afghanistan và Trung Đông, các chính khách phân phát tiền viện trợ và ghế trong bộ máy nhà nước cho người cùng dòng họ, bộ tộc hay phe phái tôn giáo để tích lũy phiếu bầu và củng cố quyền lực.

Không phải mọi tiến trình chuyển đổi hậu Xô Viết đều dẫn đến kết cục như Nga, và trường hợp Gruzia cho thấy tốc độ cùng mức độ triệt để của cải cách thể chế có thể tạo ra khác biệt lớn.

Sau Cách mạng Hoa hồng tháng 11 năm 2003 khiến Tổng thống Eduard Shevardnadze từ chức, chính quyền mới do Mikheil Saakashvili đứng đầu đã giải thể và xây dựng lại gần như toàn bộ lực lượng cảnh sát vốn nổi tiếng tham nhũng, với các nguồn ghi nhận khoảng mười sáu nghìn nhân viên bị sa thải trong hai năm đầu dù phạm vi chính xác của con số này còn khác nhau giữa các tài liệu.

Nhờ hành động cải cách quyết liệt và gần như tức thời, nạn hối lộ vặt trong đời sống hàng ngày ở Gruzia giảm mạnh chỉ trong vài năm.

Về bản chất, tiến trình chuyển đổi ở Nga là từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường và dân chủ sơ khai, trong khi ở Afghanistan và các nước Mùa xuân Ả Rập là từ chế độ độc tài hoặc quân phiệt sang một nền dân chủ áp đặt từ bên ngoài hoặc hình thành từ cách mạng.

Nguồn gốc của tham nhũng cũng khác nhau về hình thức dù giống nhau về cơ chế, ở Nga là việc xâu xé tài sản công như doanh nghiệp nhà nước, khoáng sản và dầu mỏ, còn ở Afghanistan và thế giới Ả Rập là việc xâu xé tiền viện trợ quốc tế, ngân sách nhà nước và tài nguyên sẵn có.
Bên thao túng chính ở Nga là các tài phiệt và tội phạm có tổ chức, còn ở Afghanistan và Trung Đông là các thủ lĩnh vũ trang địa phương cùng giới tộc trưởng và tinh hoa phe phái.

Hậu quả hệ thống cũng khác nhau, ở Nga là bất bình đẳng gia tăng mạnh và sự mất niềm tin của dân chúng vào khái niệm dân chủ, còn ở một số nước Ả Rập là quay trở lại chế độ độc tài hoặc rơi vào nội chiến kéo dài.

Ở Afghanistan, hậu quả thể hiện trực tiếp nhất vào năm 2021, khi cựu bộ trưởng tài chính nước này công khai thừa nhận rằng phần lớn trong số khoảng ba trăm nghìn quân trên giấy tờ thực chất là lính ma, và chính khoảng trống nhân lực cùng tài chính do nạn tham nhũng này tạo ra là một nguyên nhân trực tiếp khiến quân đội chính phủ sụp đổ gần như không kháng cự trước Taliban.

Điểm chung mà giới nghiên cứu chính trị học chỉ ra là việc đưa các quy trình dân chủ như bầu cử hay nới lỏng kinh tế vào một môi trường chưa có nền tảng pháp quyền không tạo ra một xã hội tự do, mà thường tạo ra một dạng kinh tế tham nhũng vận hành tự do, nơi những bên nắm tiền và vũ khí có điều kiện thâu tóm phần lớn bộ máy nhà nước.
Buddy Up - Văn hóa xã hội
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom