- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,156
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Tây Ban Nha và nghịch lý của nước ăn theo trong hệ thống Châu Âu.
Có thực sự ăn theo không ?
Khi nhìn vào bản đồ kinh tế châu Âu, rất dễ nảy sinh cảm giác rằng một số quốc gia, Tây Ban Nha, Bỉ, Áo, hay các nước Đông Âu, chỉ đang hưởng lợi nhờ nằm sát vách các đầu tàu như Đức, Pháp. Nhưng câu chuyện không đơn giản như vậy, và sự phân biệt giữa "ăn theo" và "có nền tảng" thực ra là một phân biệt sai.
Lấy Tây Ban Nha làm ví dụ. Nhiều người nghĩ họ giàu lên nhờ bãi biển và du lịch. Thực tế, Tây Ban Nha thường nằm trong top 3-4 nước sản xuất ô tô nhiều nhất châu Âu theo số lượng xe mỗi năm, cạnh Đức, Pháp và Ý. Dù các thương hiệu như SEAT thuộc sở hữu của Volkswagen, toàn bộ hệ sinh thái phụ tùng, nhà máy lắp ráp và lực lượng kỹ sư của họ vận hành theo tiêu chuẩn cực cao.
Iberdrola là một trong những tập đoàn năng lượng tái tạo lớn nhất thế giới, thường xuyên trúng thầu các dự án đường sắt cao tốc và tàu điện ngầm từ Mỹ đến Trung Đông. Inditex, tập đoàn sở hữu Zara và Massimo Dutti, đã định hình lại toàn bộ mô hình logistics và bán lẻ thời trang toàn cầu. Đây không phải là dịch vụ thụ động, mà là năng lực công nghiệp và tổ chức thực sự.
Điều quan trọng hơn là hiểu bản chất của sự phân công lao động trong châu Âu. Đây là mô hình cộng sinh, không phải ký sinh.
- Đức và Pháp nắm R&D, thiết kế, quản trị thương hiệu và tài chính.
- Tây Ban Nha và miền Bắc Italy sản xuất linh kiện phức tạp và lắp ráp chất lượng cao. Đông Âu, gồm Ba Lan và Séc, cung cấp chi phí tối ưu và logistics trung chuyển.
Nếu Đức là bộ não thì Tây Ban Nha là cơ bắp chất lượng cao. Nếu không có hệ thống tay nghề, hạ tầng kết nối và môi trường pháp lý minh bạch của các nước này, các tập đoàn Đức không thể tối ưu hóa chi phí để cạnh tranh với Mỹ hay Trung Quốc.
Hàn Quốc như một mốc so sánh.
Lý do Nhật Bản và Hàn Quốc trông có vẻ "thành công về cấu trúc" hơn là vì họ xây dựng theo mô hình Chaebol và Keiretsu, tự chủ từ gốc đến ngọn. Hàn Quốc như một ốc đảo về địa kinh tế, phía bắc bị chặn bởi Triều Tiên và xung quanh là biển, không có một láng giềng giàu có nào để nương tựa. Họ bắt buộc phải tự xây toàn bộ hệ sinh thái từ R&D đến sản phẩm đầu ra, từ con chip đến cái tàu thủy. Samsung, Hyundai, LG, SK Hynix là những cơ bắp lộ ra ngoài, nhìn vào ai cũng thấy ngay.
Các nước Nam Âu và Tây Âu không cần đi theo con đường đó vì họ có một thứ mà Hàn Quốc không có: thị trường chung châu Âu. Tây Ban Nha không cần một tập đoàn điện thoại đủ sức đánh lại Samsung. Họ có thể chọn trở thành nhà cung cấp độc quyền một loại linh kiện cơ khí chính xác trong máy sản xuất chip, hoặc trở thành nhà xuất khẩu dầu ô liu lớn nhất thế giới. Mắt xích thay vì tổng thể là một chiến lược hoàn toàn hợp lý khi đứng trong một chuỗi cung ứng không biên giới.
Nếu xét thuần túy về động lực kinh tế, lợi thế tích hợp địa chính trị, tức là lợi thế từ việc nằm trong hệ sinh thái châu Âu, chiếm khoảng 60% thành công của các nước như Tây Ban Nha, còn ở Hàn Quốc tỷ trọng tự chủ cấu trúc và thương hiệu quốc gia lên tới 90%. Nếu bốc Tây Ban Nha đặt vào vị trí địa lý của Hàn Quốc, nền kinh tế họ sẽ gặp khủng hoảng ngay lập tức vì cấu trúc của họ không được thiết kế để chiến đấu độc lập.
Ngành ô tô, một trong những trụ cột công nghiệp chế tạo và xuất khẩu lớn nhất của Tây Ban Nha, phần lớn thuộc sở hữu nước ngoài. Nếu mất đi chuỗi cung ứng chung EU, các tập đoàn Đức và Pháp sẽ rút nhà máy về nước hoặc chuyển sang Đông Âu ngay lập tức.
Nền kinh tế dịch vụ chiếm hơn 70% GDP của Tây Ban Nha, với lõi là du lịch và bất động sản. Mỗi năm nước này đón lượng khách du lịch gần gấp đôi dân số của họ, chủ yếu là người Anh, Đức, Pháp. Đây là thứ chỉ thịnh vượng khi hàng xóm giàu và biên giới mở cửa, và sẽ sụp đổ một nửa chỉ trong vài năm nếu đứng độc lập. Ngược lại, công nghiệp chế tạo chiếm gần 30% GDP của Hàn Quốc, một tỷ lệ cực cao đối với một nước phát triển, cho thấy năng lực tạo ra của cải vật chất từ thô đến tinh của họ mạnh đến mức nào.
Sự khác biệt về mức độ phụ thuộc bên ngoài cũng phản ánh qua chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Vì xung quanh toàn đối thủ mạnh như Trung Quốc và Nhật Bản, cùng mối đe dọa thường trực từ Triều Tiên, Hàn Quốc sống trong trạng thái thường trực của một hội chứng lo âu sinh tồn. Nhà nước và các Chaebol đổ hàng chục tỷ USD vào R&D, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về tỷ lệ chi cho R&D trên GDP.
Tây Ban Nha, nằm dưới chiếc ô an ninh của NATO và chiếc ô kinh tế của EU, không có áp lực sinh tử kiểu đó. Chi cho R&D của họ chỉ tương đương một phần nhỏ so với Hàn Quốc, và giới trẻ có xu hướng chọn làm công chức, làm dịch vụ hay mở nhà hàng hơn là lao vào các ngành công nghệ đầy rủi ro.
Tuy nhiên, 40% còn lại, phần mà Hàn Quốc thiếu, là thứ các nước Tây Âu tầm trung hoàn toàn tự có: thể chế pháp luật được hoàn thiện qua hàng trăm năm, hệ thống an sinh xã hội mạnh, doanh nghiệp vừa và nhỏ làm xương sống thay vì phụ thuộc vào một vài tập đoàn độc quyền, và vốn tích lũy tài sản qua nhiều thế hệ. Đây là lý do họ giữ được sự thịnh vượng dài hạn dù không có Samsung hay Hyundai.
Hình ảnh dễ nhất để nắm bắt sự khác biệt này là so sánh Hàn Quốc với một chiến binh độc hành được rèn luyện trong khắc nghiệt, cơ bắp cuồn cuộn, có thể ném vào bất kỳ khu rừng rậm nào cũng sống sót. Tây Ban Nha giống một vận động viên đua xe đạp chuyên nghiệp trong một đội đua, đạp rất nhanh và kỹ thuật rất tốt, nhưng có đồng đội cản gió phía trước là Đức và Pháp, và có xe hậu cần tiếp tế phía sau là Ngân hàng Trung ương châu Âu.
Tây Ban Nha - Quốc gia phát triển muộn nằm ở Tây Âu.
Một chi tiết quan trọng thường bị bỏ qua là Tây Ban Nha không có một lộ trình phát triển êm ả hay thể chế dân chủ lâu đời như Anh hay Pháp. Họ thực chất là một đóa hoa nở muộn của Tây Âu, và dòng thời gian chuyển mình của họ gần như trùng khớp một cách đáng kinh ngạc với Hàn Quốc.
Tây Ban Nha trải qua nền độc tài của Francisco Franco từ 1939 đến 1975, kết thúc cuộc nội chiến tàn khốc. Trong giai đoạn này, Tây Ban Nha bị cô lập hoàn toàn khỏi châu Âu, thậm chí không được tham gia Kế hoạch Marshall của Mỹ sau Thế chiến II. Đến thập niên 1960, Franco thực hiện "Phép màu Tây Ban Nha" bằng cách đưa các nhà kỹ trị lên nắm quyền, mở cửa kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa. Khi Franco mất năm 1975, quá trình chuyển giao dân chủ bắt đầu và hoàn thành bằng hiến pháp năm 1978.
Hàn Quốc đi theo một đường song song. Tướng Park Chung-hee nắm quyền sau đảo chính năm 1961, thiết lập chế độ quân sự sắt đá, dùng bàn tay sắt để ép cả nước làm việc và tạo ra "Phép màu sông Hàn". Hàn Quốc chuyển giao sang dân chủ hoàn toàn vào năm 1987. Như vậy, cuối thập niên 1980, cả hai quốc gia đều bước vào kỷ nguyên dân chủ với nền tảng công nghiệp sơ khai được xây dựng bởi các chính quyền độc tài.
Sự khác biệt xuất hiện ở bước tiếp theo. Năm 1986, Tây Ban Nha gia nhập Liên minh châu Âu. Ngay lập tức, họ nhận được hàng chục tỷ đô-la từ Quỹ gắn kết để xây dựng mạng lưới đường cao tốc, sân bay và hệ thống tàu cao tốc AVE hiện đại bậc nhất châu Âu.
Các tập đoàn ô tô Đức nhảy vào mua lại các hãng xe nội địa và biến Tây Ban Nha thành công xưởng lắp ráp lớn. Tây Ban Nha giàu lên rất nhanh không phải vì tự mò mẫm tạo ra luật chơi, mà vì thể chế của họ hòa nhập ngay vào một hệ thống đã có sẵn tiêu chuẩn cực cao.
Hàn Quốc không có lựa chọn đó. Không có một liên minh khu vực nào ở Đông Á để gia nhập, họ phải tự nâng cấp thể chế quản trị để gia nhập OECD năm 1996. Khi khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 ập đến, Hàn Quốc phải chấp nhận các điều kiện ngặt nghèo của IMF, tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, và ép các tập đoàn Chaebol phải tự bơi ra biển lớn toàn cầu để sống sót.
Điểm cốt lõi là Tây Ban Nha đã đổi mới thể chế chính trị trước để làm tấm vé thông hành vào EU, từ đó tạo nền tảng để "ăn theo" kinh tế một cách hợp pháp và bền vững. Khi Franco mất, giới tinh hoa Tây Ban Nha thực hiện cuộc chuyển giao hòa bình, gọi là La Transición, từ độc tài sang quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện mà không để xảy ra nội chiến hay đảo chính.
Họ đập đi xây lại hệ thống pháp luật, từ luật sở hữu trí tuệ, luật lao động, minh bạch tài chính đến hệ thống tư pháp độc lập, để khớp với bộ tiêu chuẩn khắt khe của châu Âu, gọi là Acquis Communautaire. Bản thân việc đổi mới thể chế đó không đẻ ra tiền ngay, nhưng nó là điều kiện bắt buộc để các đối tác lớn chịu nói chuyện. Nếu thể chế của Tây Ban Nha sau năm 1975 rơi vào bất ổn hoặc tham nhũng, như một số nước Nam Mỹ cũng thoát độc tài cùng thời điểm, thì dù có nằm sát vách nước Đức, họ cũng không bao giờ giàu lên được.
Khi cái vỏ thể chế đã chuẩn Âu, Tây Ban Nha kích hoạt ba dòng "ăn theo" song song. Ngân sách EU rót vào hạ tầng, dòng vốn FDI từ Đức và Pháp đến biến Tây Ban Nha thành công xưởng lắp ráp, và dòng tiền du lịch khổng lồ từ hàng triệu người Anh, Đức, Pháp đổ sang nghỉ dưỡng và mua bất động sản nhờ thị trường chung không biên giới.
Người dân Tây Ban Nha không cần sống chết làm việc như người Hàn. Họ vẫn có thời gian nghỉ trưa, hưởng thụ an sinh xã hội tốt, nhưng kinh tế vẫn lọt top thế giới.
Hàn Quốc đi theo con đường ngược lại, ép người dân làm việc 14 đến 16 tiếng một ngày, tích lũy từng đồng ngoại tệ từ xuất khẩu thô để đổ vào R&D công nghệ lõi. Ngày nay họ có Samsung và Hyundai, nhưng xã hội vắt kiệt sức, tỷ lệ trầm cảm cao và tỷ lệ sinh thấp kỷ lục thế giới.
Các nước lớn đang gánh EU và thu lại gấp bội.
Đức và Pháp đúng là nhà tài trợ ròng lớn nhất của EU. Có những năm Đức đóng góp ròng lên tới 15 đến 20 tỷ Euro, Pháp đứng thứ hai. Nam Âu và Đông Âu luôn là bên nhận nhiều hơn đóng. Nhưng nếu gọi đây là sự hi sinh hay từ thiện thì chưa đủ, vì các nước lớn thu lại từ cơ chế đó những lợi ích vượt xa con số bỏ ra.
Thứ nhất là thị trường chung không biên giới. Khi Tây Ban Nha và Ba Lan giàu lên nhờ tiền trợ cấp EU, việc đầu tiên họ làm là mua ô tô Volkswagen và BMW, mua máy bay Airbus, mua máy móc Siemens. Hàng hóa Đức chảy sang các nước này không tốn một đồng thuế quan nào. Số tiền kinh tế Đức kiếm được nhờ xuất khẩu sang các nước EU lớn gấp hàng chục lần số tiền chính phủ Đức bỏ ra đóng góp ngân sách.
Thứ hai là đồng Euro yếu hơn năng lực thực tế của Đức. Nếu Đức dùng đồng tiền riêng, sức mạnh kinh tế của họ sẽ đẩy đồng tiền tăng giá phi mã, làm hàng hóa Đức quá đắt trên thị trường quốc tế. Bằng cách dùng chung đồng Euro với các nền kinh tế yếu hơn như Tây Ban Nha hay Hy Lạp, giá trị đồng Euro bị kéo ghì xuống, giúp hàng hóa "Made in Germany" cực kỳ cạnh tranh khi bán sang Mỹ, Trung Quốc hay Đông Nam Á.
Cái giá Đức phải trả cho lợi thế này là chính sách tiền tệ chung của Ngân hàng Trung ương châu Âu không phải lúc nào cũng khớp với chu kỳ kinh tế riêng của Đức. Đức phải gánh một phần rủi ro tài chính mỗi khi các nước Nam Âu gặp khủng hoảng nợ, như đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đầu những năm 2010. Nhưng xét tổng thể, phần lợi từ xuất khẩu vẫn lớn hơn phần rủi ro phải gánh.
Thứ ba là quyền tự do dịch chuyển lao động, cho phép Đức và Pháp hút chất xám từ khắp châu Âu mà không tốn chi phí đào tạo. Các kỹ sư, bác sĩ và lao động tay nghề cao từ Tây Ban Nha, Ý, Ba Lan có thể sang làm việc mà không cần visa.
Thứ tư là quyền lực địa chính trị. Đức có GDP khoảng 4.500 tỷ USD, Pháp khoảng 3.000 tỷ USD, và đứng một mình thì họ chỉ là những quốc gia tầm trung trên bàn cờ quốc tế, dễ bị Mỹ hay Trung Quốc dùng chiến thuật bẻ từng chiếc đũa để chèn ép. Với tư cách lãnh đạo khối EU có GDP tổng cộng gần 19.000 tỷ USD, họ có vị thế ngang hàng để đàm phán thương mại và ép các tập đoàn công nghệ Mỹ phải tuân thủ luật bảo vệ dữ liệu hay dùng chung cổng sạc.
EU vì thế hoạt động giống một hệ thống nhượng quyền thương hiệu khổng lồ. Đức và Pháp là chủ thương hiệu, bỏ tiền xây dựng hệ thống và hỗ trợ vốn ban đầu cho các đại lý để chúng vận hành theo quy chuẩn của mình. Khoản chi này là chi phí bảo trì, không phải từ thiện.
Tại sao người dân Pháp không cảm thấy giàu hơn?
Nếu nước Pháp thu lợi lớn đến vậy từ EU, tại sao người dân Pháp lại không giàu hơn các nước "ăn theo" rõ rệt. GDP đầu người của Pháp chỉ nhỉnh hơn Tây Ban Nha một chút, thậm chí trong một số giai đoạn còn thua Bỉ, Áo hay Hà Lan. Câu trả lời nằm ở chỗ cái giàu của nước Pháp là cái giàu của thể chế và tập đoàn, không phải của người dân đại chúng.
Pháp vận hành theo mô hình phúc lợi xã hội cực đoan nhất trong số các nước lớn, với tỷ lệ thu thuế và đóng góp xã hội chiếm khoảng 45 đến 47% GDP, thuộc top đầu OECD. Khi một người Pháp kiếm tiền, một phần lớn đã bị nhà nước cắt ngọn trước khi kịp vào túi họ. Số tiền đó được chuyển hóa thành hệ thống y tế gần như miễn phí, giáo dục đại học miễn phí, trợ cấp thất nghiệp cao và hệ thống hưu trí an toàn. Thu nhập khả dụng thực tế của người dân Pháp vì thế trông không cao, dù nền kinh tế tổng thể rất mạnh.
Đồng thời, vì Pháp là đầu tàu kinh tế, dòng tiền tập trung rất mạnh vào các trung tâm như Paris, đẩy chi phí sinh hoạt lên mức rất cao so với Tây Ban Nha hay các nước Đông Âu. Một người làm văn phòng ở Paris có thể kiếm lương cao gấp đôi người ở Madrid, nhưng sau khi trừ tiền thuê nhà và sinh hoạt phí, số tiền tích lũy được có khi bằng nhau.
Quan trọng hơn, lợi ích từ EU và toàn cầu hóa không chia đều cho mọi người dân Pháp. Nó chảy chủ yếu vào các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ như LVMH, TotalEnergies, Airbus, L'Oréal, và vào giới tinh hoa tài chính ở các thành phố lớn.
Tầng lớp lao động phổ thông ở các vùng công nghiệp cũ trực tiếp chịu áp lực cạnh tranh khi các nhà máy dịch chuyển sang Ba Lan hay Séc nơi nhân công rẻ hơn. Đây chính là lý do Pháp thường xuyên nổ ra các cuộc biểu tình bạo động, điển hình là phong trào Áo Vàng, vì người lao động bình thường cảm thấy mình đang bị nghèo đi trong khi nước nhà được mô tả là đang gánh châu Âu.
Nếu bớt gánh EU, các nước lớn mất nhiều hơn được.
Câu hỏi đặt ra là nếu Đức hay Pháp bớt đóng góp cho EU, họ được hay mất. Cái được ngắn hạn khá rõ ràng về mặt chính trị nội địa. Chính phủ Đức giữ lại 15 đến 20 tỷ Euro mỗi năm để sửa đường xá trong nước hay giảm thuế cho dân, và các đảng phái không còn bị chỉ trích là mang tiền nhà đi nuôi hàng xóm.
Nhưng cái mất dài hạn là thảm họa kinh tế. Nếu thị trường chung sụp đổ, một chiếc ô tô Đức bán sang Tây Ban Nha hay Ba Lan sẽ bị đánh thuế 10% và mất nhiều tuần để thông quan. Các tập đoàn Đức sẽ mất lợi thế độc quyền tại thị trường 450 triệu dân vào tay đối thủ Mỹ hay Trung Quốc.
Không còn gánh các nền kinh tế yếu để kéo ghì đồng Euro, đồng tiền Đức sẽ tăng giá phi mã, làm hàng hóa "Made in Germany" quá đắt đỏ trên toàn cầu và bóp chết ngành sản xuất, xương sống của nền kinh tế Đức.
Bài học cụ thể nhất là Brexit của Anh. Năm 2016, người dân Anh bị thuyết phục bởi lập luận rằng mỗi tuần nước này phải nộp 350 triệu bảng cho EU và nên giữ số tiền đó cho hệ thống y tế quốc gia. Phe ủng hộ rời EU còn lập luận thêm về việc giành lại chủ quyền lập pháp và quyền tự do đàm phán thương mại với các nước ngoài EU, những mục tiêu chính trị có giá trị riêng của chúng, độc lập với phép tính lợi hại kinh tế.
Nhưng về mặt kinh tế, hệ quả sau vài năm cho thấy số tiền tiết kiệm được hoàn toàn bị lu mờ bởi chi phí phát sinh từ thủ tục hành chính và kiểm soát biên giới mới. Kinh tế Anh bị thu hẹp đáng kể, lạm phát cao hơn, và tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng xảy ra vì không còn dòng lao động từ Đông Âu. Vị thế trung tâm tài chính của London bị suy yếu nghiêm trọng, và Anh rơi vào giai đoạn trì trệ kinh tế kéo dài.
EU là ý tưởng có chủ đích hay vô tình phát triển?
Ý tưởng về một châu Âu thống nhất không phải là điều vô tình. Năm 1795, triết gia Immanuel Kant viết bài luận "Hòa bình vĩnh cửu", trong đó ông khẳng định châu Âu chỉ có thể hòa bình nếu các nước tự nguyện từ bỏ một phần chủ quyền để lập ra một liên bang của các quốc gia tự do.
Năm 1849, Victor Hugo, tác giả "Những người khốn khổ", có một bài phát biểu chấn động về tương lai châu Âu. Ông nói:
"Sẽ đến ngày mà các bạn, Pháp, Đức, Ý, Nga, tất cả các quốc gia trên đại lục, không cần mất đi những phẩm chất đặc sắc của mình, nhưng sẽ hòa hợp chặt chẽ trong một thực thể cấp cao hơn... Sẽ đến ngày chúng ta thấy hai vương quốc khổng lồ: Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Hợp chúng quốc Châu Âu đối diện nhau qua đại dương."
Tuy nhiên, suốt nhiều thế kỷ, ý tưởng này chỉ nằm trên giấy vì chủ nghĩa dân tộc và lòng tham quyền lực quá lớn. Thế chiến II là cú sốc đủ mạnh để ý tưởng đó thành hiện thực. Sau năm 1945, châu Âu tan hoang, kiệt quệ và nhận ra rằng nếu còn đánh nhau một lần nữa, cả đại lục sẽ xóa sổ khỏi bản đồ văn minh.
Những người lập quốc như Jean Monnet và Robert Schuman của Pháp không ảo tưởng về việc gộp các quốc gia thành một siêu nhà nước ngay lập tức. Họ chọn một nước đi thực dụng là trói buộc nhau về kinh tế để không thể đánh nhau về quân sự.
Năm 1951, họ thành lập Cộng đồng Than và Thép Châu Âu gồm sáu nước: Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg. Logic đơn giản là muốn sản xuất vũ khí thì phải có than và thép, và nếu Pháp và Đức cùng gộp quyền kiểm soát ngành than thép vào một tổ chức duy nhất, thì nếu Đức âm thầm tái vũ trang, Pháp sẽ biết ngay. Chiến tranh trở thành điều bất khả thi về mặt vật lý.
Từ đó, mọi thứ phát triển theo hiệu ứng vết dầu loang. Đã chung than thép thì tại sao không chung toàn bộ thị trường, dẫn đến Thị trường chung năm 1957. Đã cho hàng hóa chạy tự do thì thủ tục hải quan trở nên vướng víu, dẫn đến Hiệp ước Schengen năm 1985 xóa bỏ kiểm soát biên giới.
Đã buôn bán tự do mà mỗi nước dùng tiền riêng thì tốn chi phí đổi tiền, dẫn đến đồng Euro năm 1999. Đã dùng chung tiền thì phải có luật chung và ngân hàng chung, dẫn đến Tòa án Châu Âu và Ngân hàng Trung ương Châu Âu.
Hình thái EU ngày nay là một tổ chức có quyền lực sâu rộng từ kinh tế, tiền tệ đến luật pháp, trong đó luật EU có hiệu lực tối cao so với luật quốc gia trong các lĩnh vực đã được chuyển giao thẩm quyền như thương mại, cạnh tranh, và tiền tệ với các nước dùng Euro. Điều này vượt xa hình dung của những người đặt nền móng ban đầu, dù các quốc gia thành viên vẫn giữ chủ quyền trong những lĩnh vực như quốc phòng, ngoại giao hay phần lớn chính sách thuế trực tiếp.
Nếu Kant hay Victor Hugo sống dậy, họ chắc chắn sẽ kinh ngạc khi thấy người Đức và người Pháp dùng chung một đồng tiền, và người Tây Ban Nha tự do sang làm việc tại Berlin mà không cần hộ chiếu.
Tại sao châu Âu không thể không có EU
Châu Âu cần EU vì một lý do cơ bản: mảnh đất này quá nhỏ nhưng lại có quá nhiều quốc gia riêng biệt. Toàn bộ châu Âu chỉ lớn hơn nước Úc một chút, nhưng bị chia cắt thành gần 50 quốc gia với đủ loại ngôn ngữ, sắc tộc và lịch sử thù hận.
Nếu không có EU, hàng rào thuế quan sẽ bủa vây mọi giao dịch thương mại xuyên biên giới. Một chiếc máy bay Airbus sẽ không bao giờ được chế tạo, vì cánh làm ở Anh, đuôi làm ở Tây Ban Nha, thân làm ở Đức và lắp ráp tại Pháp, và chi phí thủ tục qua lại giữa các nước sẽ bóp chết dự án từ trong trứng nước.
Người dân các nước nhỏ sẽ bị bó buộc trong biên giới quốc gia, phải dùng những sản phẩm và dịch vụ nội địa đắt đỏ vì thị trường nước họ quá bé để nuôi lớn các tập đoàn tầm cỡ. Các nước Nam Âu và Đông Âu có lẽ vẫn đang loay hoay với hạ tầng lạc hậu của thập niên 1980, vì không có hàng trăm tỷ Euro viện trợ không hoàn lại từ ngân sách EU đổ về xây đường cao tốc và sân bay.
Trên bàn cờ địa chính trị, nếu không có EU phát ngôn bằng một giọng đại diện cho 450 triệu dân, Mỹ hay Trung Quốc có thể dùng chiến thuật bẻ từng chiếc đũa, ép nước này và dụ dỗ nước kia. Châu Âu sẽ mất hoàn toàn tiếng nói trên bàn cờ thế giới.
EU giải quyết hai bài toán cơ bản mà không quốc gia đơn lẻ nào tự làm được. Bài toán thứ nhất là quy mô kinh tế: EU gộp tất cả các nước nhỏ lại thành một thị trường 18.000 tỷ USD, tạo ra vị thế đàm phán ngang hàng với Mỹ và Trung Quốc, đủ sức ép các tập đoàn công nghệ Mỹ phải tuân thủ luật bảo vệ dữ liệu hay dùng chung cổng sạc USB-C.
Bài toán thứ hai là bảo hiểm hòa bình. Bằng cách trói chặt dòng tiền, ngân hàng, luật pháp và biên giới vào một bộ khung chung, EU đã biến chiến tranh giữa các nước thành viên từ bất khả thi về mặt vật lý thành bất khả thi về mặt lợi ích kinh tế. Kết quả là hơn 70 năm hòa bình liên tục trên một đại lục mà trong 2.000 năm trước chưa bao giờ yên ổn quá vài thập kỷ.
Ukraine và Tây Balkan; quả tạ hay khoản đầu tư chiến lược?
Các nước cựu Nam Tư, gồm Serbia, Albania, Bắc Macedonia, và Ukraine đang khao khát gia nhập EU không phải chỉ vì giấc mơ làm giàu, mà vì đó là tấm vé sinh tồn. Gia nhập EU đồng nghĩa với việc gắn chặt vận mệnh chính trị với phương Tây, khiến các thế lực bên ngoài phải e dè nếu muốn can thiệp quân sự.
Nó mang lại dòng tiền từ Quỹ gắn kết để tái thiết đất nước, thứ mà không một quốc gia đơn lẻ nào cứu được. Và nó trao cho người dân quyền tự do sang Đức, Pháp, Ý làm việc hợp pháp, giấc mơ đổi đời của hàng triệu giới trẻ.
Với Đức và Pháp, kết nạp Ukraine là quả tạ nặng nhất lịch sử EU. Ukraine là một nước nông nghiệp khổng lồ với diện tích đất canh tác bao la, và nếu vào EU, theo luật hiện hành, phần lớn Quỹ trợ cấp nông nghiệp chung sẽ phải đổ vào đây.
Nông dân ở Pháp, Ba Lan, Tây Ban Nha sẽ bị cắt giảm trợ cấp và phá sản vì không cạnh tranh nổi với nông sản giá rẻ của Ukraine. Chi phí kéo một đất nước bị tàn phá vì chiến tranh lên chuẩn châu Âu sẽ hút cạn ngân sách các nước đóng góp ròng. Các nước Tây Balkan mang theo tình trạng tham nhũng hệ thống, tội phạm xuyên quốc gia và xung đột sắc tộc ngầm cực kỳ phức tạp.
Tuy nhiên, Đức và Pháp vẫn bỏ phiếu trao tư cách ứng viên vì bài toán địa chính trị không cho phép họ làm khác. Nếu EU bỏ rơi Ukraine và Tây Balkan, vùng đất này sẽ rơi vào tầm ảnh hưởng của Nga hoặc Trung Quốc, và biên giới của các thế lực đối đầu sẽ sát vách nước Đức.
Chi phí để bảo vệ an ninh quốc phòng lúc đó sẽ còn đắt đỏ gấp trăm lần tiền trợ cấp kinh tế. Hơn nữa, Ukraine có tài nguyên khoáng sản dồi dào và một lực lượng lao động IT và kỹ sư tay nghề cao với giá rẻ, và khi chiến tranh qua đi, đây sẽ là thị trường tiêu thụ và công xưởng mới cho các tập đoàn Đức và Pháp khai thác.
Cuộc chơi kết nạp thành viên mới của EU vì thế giống như việc một tập đoàn lớn thâu tóm một doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản. Nó chắc chắn làm sụt giảm lợi nhuận ngắn hạn và buộc các cổ đông lớn phải nhịn ăn nhịn tiêu để bù lỗ.
Nhưng nếu không mua lại, đối thủ cạnh tranh sẽ chiếm lấy vị trí chiến lược đó và đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của chính họ trong tương lai.
Ảnh: Xưởng lắp ráp Airbus với thân máy bay trắng trung tâm, minh họa chuỗi cung ứng xuyên biên giới (cánh Anh, đuôi Tây Ban Nha, thân Đức, lắp ráp Pháp)
Có thực sự ăn theo không ?
Khi nhìn vào bản đồ kinh tế châu Âu, rất dễ nảy sinh cảm giác rằng một số quốc gia, Tây Ban Nha, Bỉ, Áo, hay các nước Đông Âu, chỉ đang hưởng lợi nhờ nằm sát vách các đầu tàu như Đức, Pháp. Nhưng câu chuyện không đơn giản như vậy, và sự phân biệt giữa "ăn theo" và "có nền tảng" thực ra là một phân biệt sai.
Lấy Tây Ban Nha làm ví dụ. Nhiều người nghĩ họ giàu lên nhờ bãi biển và du lịch. Thực tế, Tây Ban Nha thường nằm trong top 3-4 nước sản xuất ô tô nhiều nhất châu Âu theo số lượng xe mỗi năm, cạnh Đức, Pháp và Ý. Dù các thương hiệu như SEAT thuộc sở hữu của Volkswagen, toàn bộ hệ sinh thái phụ tùng, nhà máy lắp ráp và lực lượng kỹ sư của họ vận hành theo tiêu chuẩn cực cao.
Iberdrola là một trong những tập đoàn năng lượng tái tạo lớn nhất thế giới, thường xuyên trúng thầu các dự án đường sắt cao tốc và tàu điện ngầm từ Mỹ đến Trung Đông. Inditex, tập đoàn sở hữu Zara và Massimo Dutti, đã định hình lại toàn bộ mô hình logistics và bán lẻ thời trang toàn cầu. Đây không phải là dịch vụ thụ động, mà là năng lực công nghiệp và tổ chức thực sự.
Điều quan trọng hơn là hiểu bản chất của sự phân công lao động trong châu Âu. Đây là mô hình cộng sinh, không phải ký sinh.
- Đức và Pháp nắm R&D, thiết kế, quản trị thương hiệu và tài chính.
- Tây Ban Nha và miền Bắc Italy sản xuất linh kiện phức tạp và lắp ráp chất lượng cao. Đông Âu, gồm Ba Lan và Séc, cung cấp chi phí tối ưu và logistics trung chuyển.
Nếu Đức là bộ não thì Tây Ban Nha là cơ bắp chất lượng cao. Nếu không có hệ thống tay nghề, hạ tầng kết nối và môi trường pháp lý minh bạch của các nước này, các tập đoàn Đức không thể tối ưu hóa chi phí để cạnh tranh với Mỹ hay Trung Quốc.
Hàn Quốc như một mốc so sánh.
Lý do Nhật Bản và Hàn Quốc trông có vẻ "thành công về cấu trúc" hơn là vì họ xây dựng theo mô hình Chaebol và Keiretsu, tự chủ từ gốc đến ngọn. Hàn Quốc như một ốc đảo về địa kinh tế, phía bắc bị chặn bởi Triều Tiên và xung quanh là biển, không có một láng giềng giàu có nào để nương tựa. Họ bắt buộc phải tự xây toàn bộ hệ sinh thái từ R&D đến sản phẩm đầu ra, từ con chip đến cái tàu thủy. Samsung, Hyundai, LG, SK Hynix là những cơ bắp lộ ra ngoài, nhìn vào ai cũng thấy ngay.
Các nước Nam Âu và Tây Âu không cần đi theo con đường đó vì họ có một thứ mà Hàn Quốc không có: thị trường chung châu Âu. Tây Ban Nha không cần một tập đoàn điện thoại đủ sức đánh lại Samsung. Họ có thể chọn trở thành nhà cung cấp độc quyền một loại linh kiện cơ khí chính xác trong máy sản xuất chip, hoặc trở thành nhà xuất khẩu dầu ô liu lớn nhất thế giới. Mắt xích thay vì tổng thể là một chiến lược hoàn toàn hợp lý khi đứng trong một chuỗi cung ứng không biên giới.
Nếu xét thuần túy về động lực kinh tế, lợi thế tích hợp địa chính trị, tức là lợi thế từ việc nằm trong hệ sinh thái châu Âu, chiếm khoảng 60% thành công của các nước như Tây Ban Nha, còn ở Hàn Quốc tỷ trọng tự chủ cấu trúc và thương hiệu quốc gia lên tới 90%. Nếu bốc Tây Ban Nha đặt vào vị trí địa lý của Hàn Quốc, nền kinh tế họ sẽ gặp khủng hoảng ngay lập tức vì cấu trúc của họ không được thiết kế để chiến đấu độc lập.
Ngành ô tô, một trong những trụ cột công nghiệp chế tạo và xuất khẩu lớn nhất của Tây Ban Nha, phần lớn thuộc sở hữu nước ngoài. Nếu mất đi chuỗi cung ứng chung EU, các tập đoàn Đức và Pháp sẽ rút nhà máy về nước hoặc chuyển sang Đông Âu ngay lập tức.
Nền kinh tế dịch vụ chiếm hơn 70% GDP của Tây Ban Nha, với lõi là du lịch và bất động sản. Mỗi năm nước này đón lượng khách du lịch gần gấp đôi dân số của họ, chủ yếu là người Anh, Đức, Pháp. Đây là thứ chỉ thịnh vượng khi hàng xóm giàu và biên giới mở cửa, và sẽ sụp đổ một nửa chỉ trong vài năm nếu đứng độc lập. Ngược lại, công nghiệp chế tạo chiếm gần 30% GDP của Hàn Quốc, một tỷ lệ cực cao đối với một nước phát triển, cho thấy năng lực tạo ra của cải vật chất từ thô đến tinh của họ mạnh đến mức nào.
Sự khác biệt về mức độ phụ thuộc bên ngoài cũng phản ánh qua chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Vì xung quanh toàn đối thủ mạnh như Trung Quốc và Nhật Bản, cùng mối đe dọa thường trực từ Triều Tiên, Hàn Quốc sống trong trạng thái thường trực của một hội chứng lo âu sinh tồn. Nhà nước và các Chaebol đổ hàng chục tỷ USD vào R&D, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về tỷ lệ chi cho R&D trên GDP.
Tây Ban Nha, nằm dưới chiếc ô an ninh của NATO và chiếc ô kinh tế của EU, không có áp lực sinh tử kiểu đó. Chi cho R&D của họ chỉ tương đương một phần nhỏ so với Hàn Quốc, và giới trẻ có xu hướng chọn làm công chức, làm dịch vụ hay mở nhà hàng hơn là lao vào các ngành công nghệ đầy rủi ro.
Tuy nhiên, 40% còn lại, phần mà Hàn Quốc thiếu, là thứ các nước Tây Âu tầm trung hoàn toàn tự có: thể chế pháp luật được hoàn thiện qua hàng trăm năm, hệ thống an sinh xã hội mạnh, doanh nghiệp vừa và nhỏ làm xương sống thay vì phụ thuộc vào một vài tập đoàn độc quyền, và vốn tích lũy tài sản qua nhiều thế hệ. Đây là lý do họ giữ được sự thịnh vượng dài hạn dù không có Samsung hay Hyundai.
Hình ảnh dễ nhất để nắm bắt sự khác biệt này là so sánh Hàn Quốc với một chiến binh độc hành được rèn luyện trong khắc nghiệt, cơ bắp cuồn cuộn, có thể ném vào bất kỳ khu rừng rậm nào cũng sống sót. Tây Ban Nha giống một vận động viên đua xe đạp chuyên nghiệp trong một đội đua, đạp rất nhanh và kỹ thuật rất tốt, nhưng có đồng đội cản gió phía trước là Đức và Pháp, và có xe hậu cần tiếp tế phía sau là Ngân hàng Trung ương châu Âu.
Tây Ban Nha - Quốc gia phát triển muộn nằm ở Tây Âu.
Một chi tiết quan trọng thường bị bỏ qua là Tây Ban Nha không có một lộ trình phát triển êm ả hay thể chế dân chủ lâu đời như Anh hay Pháp. Họ thực chất là một đóa hoa nở muộn của Tây Âu, và dòng thời gian chuyển mình của họ gần như trùng khớp một cách đáng kinh ngạc với Hàn Quốc.
Tây Ban Nha trải qua nền độc tài của Francisco Franco từ 1939 đến 1975, kết thúc cuộc nội chiến tàn khốc. Trong giai đoạn này, Tây Ban Nha bị cô lập hoàn toàn khỏi châu Âu, thậm chí không được tham gia Kế hoạch Marshall của Mỹ sau Thế chiến II. Đến thập niên 1960, Franco thực hiện "Phép màu Tây Ban Nha" bằng cách đưa các nhà kỹ trị lên nắm quyền, mở cửa kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa. Khi Franco mất năm 1975, quá trình chuyển giao dân chủ bắt đầu và hoàn thành bằng hiến pháp năm 1978.
Hàn Quốc đi theo một đường song song. Tướng Park Chung-hee nắm quyền sau đảo chính năm 1961, thiết lập chế độ quân sự sắt đá, dùng bàn tay sắt để ép cả nước làm việc và tạo ra "Phép màu sông Hàn". Hàn Quốc chuyển giao sang dân chủ hoàn toàn vào năm 1987. Như vậy, cuối thập niên 1980, cả hai quốc gia đều bước vào kỷ nguyên dân chủ với nền tảng công nghiệp sơ khai được xây dựng bởi các chính quyền độc tài.
Sự khác biệt xuất hiện ở bước tiếp theo. Năm 1986, Tây Ban Nha gia nhập Liên minh châu Âu. Ngay lập tức, họ nhận được hàng chục tỷ đô-la từ Quỹ gắn kết để xây dựng mạng lưới đường cao tốc, sân bay và hệ thống tàu cao tốc AVE hiện đại bậc nhất châu Âu.
Các tập đoàn ô tô Đức nhảy vào mua lại các hãng xe nội địa và biến Tây Ban Nha thành công xưởng lắp ráp lớn. Tây Ban Nha giàu lên rất nhanh không phải vì tự mò mẫm tạo ra luật chơi, mà vì thể chế của họ hòa nhập ngay vào một hệ thống đã có sẵn tiêu chuẩn cực cao.
Hàn Quốc không có lựa chọn đó. Không có một liên minh khu vực nào ở Đông Á để gia nhập, họ phải tự nâng cấp thể chế quản trị để gia nhập OECD năm 1996. Khi khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 ập đến, Hàn Quốc phải chấp nhận các điều kiện ngặt nghèo của IMF, tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, và ép các tập đoàn Chaebol phải tự bơi ra biển lớn toàn cầu để sống sót.
Điểm cốt lõi là Tây Ban Nha đã đổi mới thể chế chính trị trước để làm tấm vé thông hành vào EU, từ đó tạo nền tảng để "ăn theo" kinh tế một cách hợp pháp và bền vững. Khi Franco mất, giới tinh hoa Tây Ban Nha thực hiện cuộc chuyển giao hòa bình, gọi là La Transición, từ độc tài sang quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện mà không để xảy ra nội chiến hay đảo chính.
Họ đập đi xây lại hệ thống pháp luật, từ luật sở hữu trí tuệ, luật lao động, minh bạch tài chính đến hệ thống tư pháp độc lập, để khớp với bộ tiêu chuẩn khắt khe của châu Âu, gọi là Acquis Communautaire. Bản thân việc đổi mới thể chế đó không đẻ ra tiền ngay, nhưng nó là điều kiện bắt buộc để các đối tác lớn chịu nói chuyện. Nếu thể chế của Tây Ban Nha sau năm 1975 rơi vào bất ổn hoặc tham nhũng, như một số nước Nam Mỹ cũng thoát độc tài cùng thời điểm, thì dù có nằm sát vách nước Đức, họ cũng không bao giờ giàu lên được.
Khi cái vỏ thể chế đã chuẩn Âu, Tây Ban Nha kích hoạt ba dòng "ăn theo" song song. Ngân sách EU rót vào hạ tầng, dòng vốn FDI từ Đức và Pháp đến biến Tây Ban Nha thành công xưởng lắp ráp, và dòng tiền du lịch khổng lồ từ hàng triệu người Anh, Đức, Pháp đổ sang nghỉ dưỡng và mua bất động sản nhờ thị trường chung không biên giới.
Người dân Tây Ban Nha không cần sống chết làm việc như người Hàn. Họ vẫn có thời gian nghỉ trưa, hưởng thụ an sinh xã hội tốt, nhưng kinh tế vẫn lọt top thế giới.
Hàn Quốc đi theo con đường ngược lại, ép người dân làm việc 14 đến 16 tiếng một ngày, tích lũy từng đồng ngoại tệ từ xuất khẩu thô để đổ vào R&D công nghệ lõi. Ngày nay họ có Samsung và Hyundai, nhưng xã hội vắt kiệt sức, tỷ lệ trầm cảm cao và tỷ lệ sinh thấp kỷ lục thế giới.
Các nước lớn đang gánh EU và thu lại gấp bội.
Đức và Pháp đúng là nhà tài trợ ròng lớn nhất của EU. Có những năm Đức đóng góp ròng lên tới 15 đến 20 tỷ Euro, Pháp đứng thứ hai. Nam Âu và Đông Âu luôn là bên nhận nhiều hơn đóng. Nhưng nếu gọi đây là sự hi sinh hay từ thiện thì chưa đủ, vì các nước lớn thu lại từ cơ chế đó những lợi ích vượt xa con số bỏ ra.
Thứ nhất là thị trường chung không biên giới. Khi Tây Ban Nha và Ba Lan giàu lên nhờ tiền trợ cấp EU, việc đầu tiên họ làm là mua ô tô Volkswagen và BMW, mua máy bay Airbus, mua máy móc Siemens. Hàng hóa Đức chảy sang các nước này không tốn một đồng thuế quan nào. Số tiền kinh tế Đức kiếm được nhờ xuất khẩu sang các nước EU lớn gấp hàng chục lần số tiền chính phủ Đức bỏ ra đóng góp ngân sách.
Thứ hai là đồng Euro yếu hơn năng lực thực tế của Đức. Nếu Đức dùng đồng tiền riêng, sức mạnh kinh tế của họ sẽ đẩy đồng tiền tăng giá phi mã, làm hàng hóa Đức quá đắt trên thị trường quốc tế. Bằng cách dùng chung đồng Euro với các nền kinh tế yếu hơn như Tây Ban Nha hay Hy Lạp, giá trị đồng Euro bị kéo ghì xuống, giúp hàng hóa "Made in Germany" cực kỳ cạnh tranh khi bán sang Mỹ, Trung Quốc hay Đông Nam Á.
Cái giá Đức phải trả cho lợi thế này là chính sách tiền tệ chung của Ngân hàng Trung ương châu Âu không phải lúc nào cũng khớp với chu kỳ kinh tế riêng của Đức. Đức phải gánh một phần rủi ro tài chính mỗi khi các nước Nam Âu gặp khủng hoảng nợ, như đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đầu những năm 2010. Nhưng xét tổng thể, phần lợi từ xuất khẩu vẫn lớn hơn phần rủi ro phải gánh.
Thứ ba là quyền tự do dịch chuyển lao động, cho phép Đức và Pháp hút chất xám từ khắp châu Âu mà không tốn chi phí đào tạo. Các kỹ sư, bác sĩ và lao động tay nghề cao từ Tây Ban Nha, Ý, Ba Lan có thể sang làm việc mà không cần visa.
Thứ tư là quyền lực địa chính trị. Đức có GDP khoảng 4.500 tỷ USD, Pháp khoảng 3.000 tỷ USD, và đứng một mình thì họ chỉ là những quốc gia tầm trung trên bàn cờ quốc tế, dễ bị Mỹ hay Trung Quốc dùng chiến thuật bẻ từng chiếc đũa để chèn ép. Với tư cách lãnh đạo khối EU có GDP tổng cộng gần 19.000 tỷ USD, họ có vị thế ngang hàng để đàm phán thương mại và ép các tập đoàn công nghệ Mỹ phải tuân thủ luật bảo vệ dữ liệu hay dùng chung cổng sạc.
EU vì thế hoạt động giống một hệ thống nhượng quyền thương hiệu khổng lồ. Đức và Pháp là chủ thương hiệu, bỏ tiền xây dựng hệ thống và hỗ trợ vốn ban đầu cho các đại lý để chúng vận hành theo quy chuẩn của mình. Khoản chi này là chi phí bảo trì, không phải từ thiện.
Tại sao người dân Pháp không cảm thấy giàu hơn?
Nếu nước Pháp thu lợi lớn đến vậy từ EU, tại sao người dân Pháp lại không giàu hơn các nước "ăn theo" rõ rệt. GDP đầu người của Pháp chỉ nhỉnh hơn Tây Ban Nha một chút, thậm chí trong một số giai đoạn còn thua Bỉ, Áo hay Hà Lan. Câu trả lời nằm ở chỗ cái giàu của nước Pháp là cái giàu của thể chế và tập đoàn, không phải của người dân đại chúng.
Pháp vận hành theo mô hình phúc lợi xã hội cực đoan nhất trong số các nước lớn, với tỷ lệ thu thuế và đóng góp xã hội chiếm khoảng 45 đến 47% GDP, thuộc top đầu OECD. Khi một người Pháp kiếm tiền, một phần lớn đã bị nhà nước cắt ngọn trước khi kịp vào túi họ. Số tiền đó được chuyển hóa thành hệ thống y tế gần như miễn phí, giáo dục đại học miễn phí, trợ cấp thất nghiệp cao và hệ thống hưu trí an toàn. Thu nhập khả dụng thực tế của người dân Pháp vì thế trông không cao, dù nền kinh tế tổng thể rất mạnh.
Đồng thời, vì Pháp là đầu tàu kinh tế, dòng tiền tập trung rất mạnh vào các trung tâm như Paris, đẩy chi phí sinh hoạt lên mức rất cao so với Tây Ban Nha hay các nước Đông Âu. Một người làm văn phòng ở Paris có thể kiếm lương cao gấp đôi người ở Madrid, nhưng sau khi trừ tiền thuê nhà và sinh hoạt phí, số tiền tích lũy được có khi bằng nhau.
Quan trọng hơn, lợi ích từ EU và toàn cầu hóa không chia đều cho mọi người dân Pháp. Nó chảy chủ yếu vào các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ như LVMH, TotalEnergies, Airbus, L'Oréal, và vào giới tinh hoa tài chính ở các thành phố lớn.
Tầng lớp lao động phổ thông ở các vùng công nghiệp cũ trực tiếp chịu áp lực cạnh tranh khi các nhà máy dịch chuyển sang Ba Lan hay Séc nơi nhân công rẻ hơn. Đây chính là lý do Pháp thường xuyên nổ ra các cuộc biểu tình bạo động, điển hình là phong trào Áo Vàng, vì người lao động bình thường cảm thấy mình đang bị nghèo đi trong khi nước nhà được mô tả là đang gánh châu Âu.
Nếu bớt gánh EU, các nước lớn mất nhiều hơn được.
Câu hỏi đặt ra là nếu Đức hay Pháp bớt đóng góp cho EU, họ được hay mất. Cái được ngắn hạn khá rõ ràng về mặt chính trị nội địa. Chính phủ Đức giữ lại 15 đến 20 tỷ Euro mỗi năm để sửa đường xá trong nước hay giảm thuế cho dân, và các đảng phái không còn bị chỉ trích là mang tiền nhà đi nuôi hàng xóm.
Nhưng cái mất dài hạn là thảm họa kinh tế. Nếu thị trường chung sụp đổ, một chiếc ô tô Đức bán sang Tây Ban Nha hay Ba Lan sẽ bị đánh thuế 10% và mất nhiều tuần để thông quan. Các tập đoàn Đức sẽ mất lợi thế độc quyền tại thị trường 450 triệu dân vào tay đối thủ Mỹ hay Trung Quốc.
Không còn gánh các nền kinh tế yếu để kéo ghì đồng Euro, đồng tiền Đức sẽ tăng giá phi mã, làm hàng hóa "Made in Germany" quá đắt đỏ trên toàn cầu và bóp chết ngành sản xuất, xương sống của nền kinh tế Đức.
Bài học cụ thể nhất là Brexit của Anh. Năm 2016, người dân Anh bị thuyết phục bởi lập luận rằng mỗi tuần nước này phải nộp 350 triệu bảng cho EU và nên giữ số tiền đó cho hệ thống y tế quốc gia. Phe ủng hộ rời EU còn lập luận thêm về việc giành lại chủ quyền lập pháp và quyền tự do đàm phán thương mại với các nước ngoài EU, những mục tiêu chính trị có giá trị riêng của chúng, độc lập với phép tính lợi hại kinh tế.
Nhưng về mặt kinh tế, hệ quả sau vài năm cho thấy số tiền tiết kiệm được hoàn toàn bị lu mờ bởi chi phí phát sinh từ thủ tục hành chính và kiểm soát biên giới mới. Kinh tế Anh bị thu hẹp đáng kể, lạm phát cao hơn, và tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng xảy ra vì không còn dòng lao động từ Đông Âu. Vị thế trung tâm tài chính của London bị suy yếu nghiêm trọng, và Anh rơi vào giai đoạn trì trệ kinh tế kéo dài.
EU là ý tưởng có chủ đích hay vô tình phát triển?
Ý tưởng về một châu Âu thống nhất không phải là điều vô tình. Năm 1795, triết gia Immanuel Kant viết bài luận "Hòa bình vĩnh cửu", trong đó ông khẳng định châu Âu chỉ có thể hòa bình nếu các nước tự nguyện từ bỏ một phần chủ quyền để lập ra một liên bang của các quốc gia tự do.
Năm 1849, Victor Hugo, tác giả "Những người khốn khổ", có một bài phát biểu chấn động về tương lai châu Âu. Ông nói:
"Sẽ đến ngày mà các bạn, Pháp, Đức, Ý, Nga, tất cả các quốc gia trên đại lục, không cần mất đi những phẩm chất đặc sắc của mình, nhưng sẽ hòa hợp chặt chẽ trong một thực thể cấp cao hơn... Sẽ đến ngày chúng ta thấy hai vương quốc khổng lồ: Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Hợp chúng quốc Châu Âu đối diện nhau qua đại dương."
Tuy nhiên, suốt nhiều thế kỷ, ý tưởng này chỉ nằm trên giấy vì chủ nghĩa dân tộc và lòng tham quyền lực quá lớn. Thế chiến II là cú sốc đủ mạnh để ý tưởng đó thành hiện thực. Sau năm 1945, châu Âu tan hoang, kiệt quệ và nhận ra rằng nếu còn đánh nhau một lần nữa, cả đại lục sẽ xóa sổ khỏi bản đồ văn minh.
Những người lập quốc như Jean Monnet và Robert Schuman của Pháp không ảo tưởng về việc gộp các quốc gia thành một siêu nhà nước ngay lập tức. Họ chọn một nước đi thực dụng là trói buộc nhau về kinh tế để không thể đánh nhau về quân sự.
Năm 1951, họ thành lập Cộng đồng Than và Thép Châu Âu gồm sáu nước: Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg. Logic đơn giản là muốn sản xuất vũ khí thì phải có than và thép, và nếu Pháp và Đức cùng gộp quyền kiểm soát ngành than thép vào một tổ chức duy nhất, thì nếu Đức âm thầm tái vũ trang, Pháp sẽ biết ngay. Chiến tranh trở thành điều bất khả thi về mặt vật lý.
Từ đó, mọi thứ phát triển theo hiệu ứng vết dầu loang. Đã chung than thép thì tại sao không chung toàn bộ thị trường, dẫn đến Thị trường chung năm 1957. Đã cho hàng hóa chạy tự do thì thủ tục hải quan trở nên vướng víu, dẫn đến Hiệp ước Schengen năm 1985 xóa bỏ kiểm soát biên giới.
Đã buôn bán tự do mà mỗi nước dùng tiền riêng thì tốn chi phí đổi tiền, dẫn đến đồng Euro năm 1999. Đã dùng chung tiền thì phải có luật chung và ngân hàng chung, dẫn đến Tòa án Châu Âu và Ngân hàng Trung ương Châu Âu.
Hình thái EU ngày nay là một tổ chức có quyền lực sâu rộng từ kinh tế, tiền tệ đến luật pháp, trong đó luật EU có hiệu lực tối cao so với luật quốc gia trong các lĩnh vực đã được chuyển giao thẩm quyền như thương mại, cạnh tranh, và tiền tệ với các nước dùng Euro. Điều này vượt xa hình dung của những người đặt nền móng ban đầu, dù các quốc gia thành viên vẫn giữ chủ quyền trong những lĩnh vực như quốc phòng, ngoại giao hay phần lớn chính sách thuế trực tiếp.
Nếu Kant hay Victor Hugo sống dậy, họ chắc chắn sẽ kinh ngạc khi thấy người Đức và người Pháp dùng chung một đồng tiền, và người Tây Ban Nha tự do sang làm việc tại Berlin mà không cần hộ chiếu.
Tại sao châu Âu không thể không có EU
Châu Âu cần EU vì một lý do cơ bản: mảnh đất này quá nhỏ nhưng lại có quá nhiều quốc gia riêng biệt. Toàn bộ châu Âu chỉ lớn hơn nước Úc một chút, nhưng bị chia cắt thành gần 50 quốc gia với đủ loại ngôn ngữ, sắc tộc và lịch sử thù hận.
Nếu không có EU, hàng rào thuế quan sẽ bủa vây mọi giao dịch thương mại xuyên biên giới. Một chiếc máy bay Airbus sẽ không bao giờ được chế tạo, vì cánh làm ở Anh, đuôi làm ở Tây Ban Nha, thân làm ở Đức và lắp ráp tại Pháp, và chi phí thủ tục qua lại giữa các nước sẽ bóp chết dự án từ trong trứng nước.
Người dân các nước nhỏ sẽ bị bó buộc trong biên giới quốc gia, phải dùng những sản phẩm và dịch vụ nội địa đắt đỏ vì thị trường nước họ quá bé để nuôi lớn các tập đoàn tầm cỡ. Các nước Nam Âu và Đông Âu có lẽ vẫn đang loay hoay với hạ tầng lạc hậu của thập niên 1980, vì không có hàng trăm tỷ Euro viện trợ không hoàn lại từ ngân sách EU đổ về xây đường cao tốc và sân bay.
Trên bàn cờ địa chính trị, nếu không có EU phát ngôn bằng một giọng đại diện cho 450 triệu dân, Mỹ hay Trung Quốc có thể dùng chiến thuật bẻ từng chiếc đũa, ép nước này và dụ dỗ nước kia. Châu Âu sẽ mất hoàn toàn tiếng nói trên bàn cờ thế giới.
EU giải quyết hai bài toán cơ bản mà không quốc gia đơn lẻ nào tự làm được. Bài toán thứ nhất là quy mô kinh tế: EU gộp tất cả các nước nhỏ lại thành một thị trường 18.000 tỷ USD, tạo ra vị thế đàm phán ngang hàng với Mỹ và Trung Quốc, đủ sức ép các tập đoàn công nghệ Mỹ phải tuân thủ luật bảo vệ dữ liệu hay dùng chung cổng sạc USB-C.
Bài toán thứ hai là bảo hiểm hòa bình. Bằng cách trói chặt dòng tiền, ngân hàng, luật pháp và biên giới vào một bộ khung chung, EU đã biến chiến tranh giữa các nước thành viên từ bất khả thi về mặt vật lý thành bất khả thi về mặt lợi ích kinh tế. Kết quả là hơn 70 năm hòa bình liên tục trên một đại lục mà trong 2.000 năm trước chưa bao giờ yên ổn quá vài thập kỷ.
Ukraine và Tây Balkan; quả tạ hay khoản đầu tư chiến lược?
Các nước cựu Nam Tư, gồm Serbia, Albania, Bắc Macedonia, và Ukraine đang khao khát gia nhập EU không phải chỉ vì giấc mơ làm giàu, mà vì đó là tấm vé sinh tồn. Gia nhập EU đồng nghĩa với việc gắn chặt vận mệnh chính trị với phương Tây, khiến các thế lực bên ngoài phải e dè nếu muốn can thiệp quân sự.
Nó mang lại dòng tiền từ Quỹ gắn kết để tái thiết đất nước, thứ mà không một quốc gia đơn lẻ nào cứu được. Và nó trao cho người dân quyền tự do sang Đức, Pháp, Ý làm việc hợp pháp, giấc mơ đổi đời của hàng triệu giới trẻ.
Với Đức và Pháp, kết nạp Ukraine là quả tạ nặng nhất lịch sử EU. Ukraine là một nước nông nghiệp khổng lồ với diện tích đất canh tác bao la, và nếu vào EU, theo luật hiện hành, phần lớn Quỹ trợ cấp nông nghiệp chung sẽ phải đổ vào đây.
Nông dân ở Pháp, Ba Lan, Tây Ban Nha sẽ bị cắt giảm trợ cấp và phá sản vì không cạnh tranh nổi với nông sản giá rẻ của Ukraine. Chi phí kéo một đất nước bị tàn phá vì chiến tranh lên chuẩn châu Âu sẽ hút cạn ngân sách các nước đóng góp ròng. Các nước Tây Balkan mang theo tình trạng tham nhũng hệ thống, tội phạm xuyên quốc gia và xung đột sắc tộc ngầm cực kỳ phức tạp.
Tuy nhiên, Đức và Pháp vẫn bỏ phiếu trao tư cách ứng viên vì bài toán địa chính trị không cho phép họ làm khác. Nếu EU bỏ rơi Ukraine và Tây Balkan, vùng đất này sẽ rơi vào tầm ảnh hưởng của Nga hoặc Trung Quốc, và biên giới của các thế lực đối đầu sẽ sát vách nước Đức.
Chi phí để bảo vệ an ninh quốc phòng lúc đó sẽ còn đắt đỏ gấp trăm lần tiền trợ cấp kinh tế. Hơn nữa, Ukraine có tài nguyên khoáng sản dồi dào và một lực lượng lao động IT và kỹ sư tay nghề cao với giá rẻ, và khi chiến tranh qua đi, đây sẽ là thị trường tiêu thụ và công xưởng mới cho các tập đoàn Đức và Pháp khai thác.
Cuộc chơi kết nạp thành viên mới của EU vì thế giống như việc một tập đoàn lớn thâu tóm một doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản. Nó chắc chắn làm sụt giảm lợi nhuận ngắn hạn và buộc các cổ đông lớn phải nhịn ăn nhịn tiêu để bù lỗ.
Nhưng nếu không mua lại, đối thủ cạnh tranh sẽ chiếm lấy vị trí chiến lược đó và đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của chính họ trong tương lai.
Ảnh: Xưởng lắp ráp Airbus với thân máy bay trắng trung tâm, minh họa chuỗi cung ứng xuyên biên giới (cánh Anh, đuôi Tây Ban Nha, thân Đức, lắp ráp Pháp)

