- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,232
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Trận Patay 1429 - con hươu của Chúa
Năm 1415, tại Agincourt, những cơn mưa tên của cung thủ Anh đã vùi dập các hiệp sĩ Pháp xuống vũng bùn đẫm máu. Thảm bại quân sự đó đánh gục hoàn toàn năng lực phản kháng của vương quốc Pháp.
Suốt mười bốn năm sau đó, người Pháp bị giam cầm trong sự sợ hãi trước trường cung (longbow) của người Anh. Lãnh thổ Pháp bị chia cắt, thái tử Charles bị tước quyền thừa kế, và thủ đô Paris rơi vào tay liên minh Anh - Burgundy.
Thế nhưng, bông nhiên nước Pháp được Chúa (theo lời họ kể) gửi cho một thiếu nữ nông dân 17 tuổi và một con hươu. Điểm bất thường chung của thiếu nữ và con vật hoang dã này là đều…không sợ chết.
Cuối tháng 4 năm 1429, khi Jeanne d'Arc đặt chân đến Orléans. Bỏ qua những yếu tố thần thánh, đóng góp lớn nhất của Jeanne đối với quân đội Pháp ở khía cạnh quân sự là việc thay đổi hoàn toàn học thuyết tác chiến. Trước Jeanne, người Pháp đánh trận bằng sự sợ hãi, cố gắng phòng ngự và thường xuyên để mất quyền chủ động. Jeanne mang đến một tư duy nam tính hơn rất nhiều, tấn công trực diện, liên tục, chết cũng không cho kẻ thù thời gian thở. Tư tưởng này đã giúp Pháp giải vây Orléans vào đầu tháng 5, đánh dấu chiến thắng chiến lược đầu tiên sau hàng thập kỷ.
Nhưng Orléans mới chỉ là phần mở đầu. Không để quân Anh kịp củng cố lực lượng, Jeanne thúc đẩy các chỉ huy như Công tước d'Alençon, Jean de Dunois và Thống chế La Hire phát động một chiến dịch truy quét thần tốc dọc thung lũng sông Loire.
Lần lượt Jargeau, Meung-sur-Loire và Beaugency thất thủ với tốc độ hành quân và công thành đáng kinh ngạc. Quân đội Pháp lúc này không còn là những nhóm lính rời rạc thiếu kỷ luật. Chiến thắng và tinh thần mà Jeanne d'Arc mang đến đã biến họ thành những chiến binh thiện chiến và nghe lời một cách kỳ lạ. Tất nhiên không thể bỏ qua sự bổ sung của Thống soái Arthur de Richemont cùng hơn 1.000 lính Breton tinh nhuệ. Quân Pháp bám đuổi sát sao tàn quân Anh đang hối hả rút chạy về phía bắc.
Khối quân Anh rút lui, ước tính khoảng 3.000 đến 5.000 người, lúc bấy giờ đang nằm dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf và Lord John Talbot.
Fastolf đại diện cho sự thực dụng. Ông nhận thấy binh lính đang kiệt sức, mất tinh thần và hoàn toàn bị áp đảo về quân số, do đó đề xuất rút lui chiến thuật về Paris. Ngược lại, Talbot là một chiến binh hung hãn, người luôn khao khát một trận đánh trực diện để nghiền nát quân Pháp như những gì thế hệ trước đã làm tại Agincourt. Dù vậy, khi các cứ điểm dọc sông Loire lần lượt sụp đổ, Talbot buộc phải thỏa hiệp. Họ sẽ rút lui, nhưng sẵn sàng đánh chặn nếu bị truy kích quá rát.
Khoảng cách giữa hai đội quân nhanh chóng bị thu hẹp. Đội tiền quân của Pháp, dẫn đầu bởi hai viên tướng dạn dày sương gió là La Hire và Xaintrailles. Gồm khoảng 180 hiệp sĩ bọc thép, theo sau là hơn 1.000 lính đánh bộ cưỡi ngựa. Nhiệm vụ của họ không phải là dàn trận quy ước, mà là sục sạo, tìm kiếm điểm yếu và ghim chân kẻ thù để đạo quân chủ lực tiến lên.
Đầu giờ chiều ngày 18 tháng 6, nhận thấy kỵ binh Pháp đang áp sát với tốc độ quá nhanh, Fastolf và Talbot quyết định dừng lại tại một khu vực gần làng Patay để thiết lập phòng tuyến.
Tư duy chiến thuật của người Anh trong suốt một thế kỷ qua là xây dựng hệ thông phòng thủ để bảo vệ các cung thủ trường cung có thể tung ra chục mũi tên xuyên giáp mỗi phút ở cự ly 300 yard. Và tất nhiên là họ mỏng manh. Để sống sót trước kỵ binh, cung thủ Anh cần ba điều kiện bắt buộc:
- Địa hình hẹp để bảo vệ hai bên sườn,
- Thời gian để đào rãnh,
- Và quan trọng nhất là thời gian để đóng hàng ngàn cọc gỗ vạt nhọn (cheval-de-frise) hướng về phía trước để cản bước ngựa chiến.
Thiếu vắng những yếu tố này, khả năng cao là cuộc chiến sẽ trở thành cuộc tàn sát một chiều.
Talbot và Fastolf chia quân. Talbot mang theo khoảng 500 cung thủ tinh nhuệ, lẩn trốn vào các lùm cây và hàng rào sống dọc theo con đường trũng. Nhiệm vụ của ông là phục kích, bắn những loạt tên bất ngờ vào đội tiền quân Pháp, tạo ra sự hỗn loạn và câu giờ. Ở phía sau, Fastolf sẽ đưa đạo quân chủ lực lên một dải đất hơi nhô cao, hoàn thiện hàng rào cọc nhọn để chờ đòn tấn công chính.
Nhiều bức tranh thế kỷ 19 mô tả quân Anh tại Patay đứng trên một ngọn đồi dốc đứng, hiểm trở. Tuy nhiên, thực tế Patay là một vùng đồng bằng mở, chỉ có một sườn dốc rất thoai thoải chênh lệch độ cao chừng 5 mét. Không có đầm lầy, không có rừng rậm hai bên sườn để che chắn. Đội hình của quân Anh phơi mình hoàn toàn giữa không gian rộng lớn, mồi ngon cho các cuộc tạt sườn của kỵ binh.
Và vị trí của họ đã bị lộ theo một cách không ai có thể lường trước.
Khi các toán trinh sát của La Hire đang sục sạo vùng nông thôn, một con hươu rừng hoảng sợ trước tiếng móng ngựa đã phóng thẳng từ trong rừng ra, lao cắt ngang qua đúng vị trí ẩn nấp của hàng trăm cung thủ dưới trướng Talbot.
Có lẽ do những trận thua và tin đồn về mụ phù thuỷ Jeanne bất tử đã khiến thần kinh của những người lính Anh suy nhược, họ mất kỷ luật. Thay vì giữ im lặng để chờ con mồi là kỵ binh Pháp đi vào tròng, những người lính Anh lại phát ra những tiếng la hét ầm ĩ. Một số binh lính thậm chí đã nổ súng hoặc bắn tên vào con vật.
Tiếng ồn ào từ bụi rậm vang vọng khắp cánh đồng. Lực lượng trinh sát Pháp lập tức xác định được tọa độ chính xác của ổ phục kích. Yếu tố bất ngờ, thứ duy nhất giúp kế hoạch của Talbot có cơ may thành công, đã bị xé toạc trước khi mũi tên đầu tiên kịp nhắm vào quân Pháp.
Tin tình báo được truyền về, Công tước d'Alençon, chần chừ hỏi ý kiến Jeanne d'Arc về việc có nên đợi quân chủ lực lên dàn trận hay không. Bà quay lại hỏi d'Alençon có mang đinh thúc ngựa không? Vị công tước bối rối tưởng bà khuyên bỏ chạy, Jeanne nói tiếp: "Nhân danh Chúa, chúng ta phải chiến đấu với chúng. Dù chúng có treo mình lơ lửng trên những đám mây, chúng ta cũng sẽ kéo chúng xuống. Ngài sẽ cần những chiếc đinh thúc ngựa tốt để truy đuổi chúng hôm nay."
Ngay lập tức, tiền quân Pháp tiến công. 180 hiệp sĩ bọc thép và hàng ngàn lính cưỡi ngựa lập tức phi nước đại, xung phong nhắm thẳng vào trận địa của người Anh.
Đòn tấn công này nhắm trúng vào điểm yếu chí mạng của quân Anh: chưa kịp chuẩn bị công sự. Cung thủ của Talbot chưa kịp đóng xong cọc gỗ.
Thay vì đâm đầu vào mặt chính diện để hứng chịu mưa tên như tại Agincourt, kỵ binh Pháp khôn ngoan chẻ đội hình, thực hiện các cú bọc lót tạt sâu vào hai bên sườn trống trải của đối phương. Trọng kỵ binh xuyên thủng các phòng tuyến mỏng manh, chia cắt nhóm cung thủ thành những cụm nhỏ lẻ tẻ, cô lập họ hoàn toàn khỏi sự chi viện của lực lượng phía sau do Fastolf chỉ huy.
Khoảnh khắc kỵ binh giáp lá cà với bộ binh hạng nhẹ, trận đánh lập tức biến thành một cuộc thảm sát một chiều. Những người thợ săn yeoman với chiếc áo vải và cây cung gỗ hoàn toàn vô phương tự vệ trước những khối thép di động mang theo trường kiếm và chùy gai.
Toàn bộ đơn vị phục kích tinh nhuệ bị nghiền nát trong vài phút. Lord Talbot, viên tướng đáng sợ của nước Anh, bị đánh ngã ngựa và bị bắt sống ngay giữa trận.
Khi Fastolf và đạo quân chủ lực phía sau (chủ yếu là tân binh) chứng kiến cánh quân của Talbot bị vò nát quá nhanh, hàng ngũ của họ lập tức rối loạn. Những kẻ sống sót từ ổ phục kích bỏ chạy thục mạng về tuyến sau càng làm tăng thêm sự hoảng loạn. Nhận thấy trận địa chưa hoàn thiện và mọi nỗ lực cứu vãn lúc này chỉ đồng nghĩa với việc tự sát tập thể, Fastolf hạ lệnh quay lưng rút lui. Dập tắt chút ý chí chiến đấu cuối cùng của những người còn lại.
Quân Anh vỡ vụn. Phần còn lại của ngày hôm đó chỉ là một cuộc truy kích trên cánh đồng mở. Kỵ binh Pháp săn lùng tàn quân Anh cho đến tận khi màn đêm buông xuống.
Sau trận đánh, Pháp chỉ có khoảng 3 người tử trận (một số nguồn cho là vài chục) và khoảng 100 người bị thương. Trong khi đó, quân Anh bỏ lại từ 2.000 đến 2.500 xác chết. Hàng trăm người khác bị bắt làm tù binh, bao gồm cả những chỉ huy tối cao như Talbot và Thomas de Scales.
Sự kiện tại Patay đánh dấu sự sụp đổ của "thần thoại longbow". Nó chứng minh rằng cung thủ Anh chỉ phát huy tác dụng khi kẻ thù chủ động đi vào cái bẫy đã được giăng sẵn. Khi đối phương sử dụng tốc độ, tình báo trinh sát để tước đi thời gian chuẩn bị, và sử dụng kỵ binh cơ động để khoét vào hai bên sườn, lực lượng này trở nên vô dụng. Việc mất đi hàng ngàn cung thủ tinh nhuệ - những người cần hàng chục năm rèn luyện cơ bắp để kéo được cây cung trăm pound - là không thể phục hồi đối với đội quân viễn chinh của Vương triều Plantagenet.
Sau trận Patay, đội quân dã chiến duy nhất của liên minh Anh - Burgundy tại miền trung nước Pháp đã bị xóa sổ. Tranh thủ thời cơ tâm lý khi kẻ thù đang rút sâu về Normandy cố thủ, Jeanne d'Arc đã thúc đẩy một cuộc hành quân mang tính biểu tượng tiến thẳng qua lãnh thổ địch để đến Reims. Cuộc hành quân diễn ra như một buổi diễu hành chiến thắng, các thành trì lần lượt mở cổng quy phục mà không tốn một giọt máu. Chưa đầy một tháng sau trận Patay, ngày 17 tháng 7 năm 1429, thái tử Charles chính thức được xức dầu thánh lên ngôi Vua Charles VII, tước bỏ hoàn toàn tính chính danh của người Anh trên đất Pháp.
Từ đống tro tàn của Agincourt, quân đội Pháp đã đứng dậy nhờ sự quả quyết của một nữ anh hùng, một con hươu rừng đi lạc, và nhờ Chúa mang họ đến. Trận Patay là khoảnh khắc nước Pháp thực sự hồi sinh.
Năm 1415, tại Agincourt, những cơn mưa tên của cung thủ Anh đã vùi dập các hiệp sĩ Pháp xuống vũng bùn đẫm máu. Thảm bại quân sự đó đánh gục hoàn toàn năng lực phản kháng của vương quốc Pháp.
Suốt mười bốn năm sau đó, người Pháp bị giam cầm trong sự sợ hãi trước trường cung (longbow) của người Anh. Lãnh thổ Pháp bị chia cắt, thái tử Charles bị tước quyền thừa kế, và thủ đô Paris rơi vào tay liên minh Anh - Burgundy.
Thế nhưng, bông nhiên nước Pháp được Chúa (theo lời họ kể) gửi cho một thiếu nữ nông dân 17 tuổi và một con hươu. Điểm bất thường chung của thiếu nữ và con vật hoang dã này là đều…không sợ chết.
Cuối tháng 4 năm 1429, khi Jeanne d'Arc đặt chân đến Orléans. Bỏ qua những yếu tố thần thánh, đóng góp lớn nhất của Jeanne đối với quân đội Pháp ở khía cạnh quân sự là việc thay đổi hoàn toàn học thuyết tác chiến. Trước Jeanne, người Pháp đánh trận bằng sự sợ hãi, cố gắng phòng ngự và thường xuyên để mất quyền chủ động. Jeanne mang đến một tư duy nam tính hơn rất nhiều, tấn công trực diện, liên tục, chết cũng không cho kẻ thù thời gian thở. Tư tưởng này đã giúp Pháp giải vây Orléans vào đầu tháng 5, đánh dấu chiến thắng chiến lược đầu tiên sau hàng thập kỷ.
Nhưng Orléans mới chỉ là phần mở đầu. Không để quân Anh kịp củng cố lực lượng, Jeanne thúc đẩy các chỉ huy như Công tước d'Alençon, Jean de Dunois và Thống chế La Hire phát động một chiến dịch truy quét thần tốc dọc thung lũng sông Loire.
Lần lượt Jargeau, Meung-sur-Loire và Beaugency thất thủ với tốc độ hành quân và công thành đáng kinh ngạc. Quân đội Pháp lúc này không còn là những nhóm lính rời rạc thiếu kỷ luật. Chiến thắng và tinh thần mà Jeanne d'Arc mang đến đã biến họ thành những chiến binh thiện chiến và nghe lời một cách kỳ lạ. Tất nhiên không thể bỏ qua sự bổ sung của Thống soái Arthur de Richemont cùng hơn 1.000 lính Breton tinh nhuệ. Quân Pháp bám đuổi sát sao tàn quân Anh đang hối hả rút chạy về phía bắc.
Khối quân Anh rút lui, ước tính khoảng 3.000 đến 5.000 người, lúc bấy giờ đang nằm dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf và Lord John Talbot.
Fastolf đại diện cho sự thực dụng. Ông nhận thấy binh lính đang kiệt sức, mất tinh thần và hoàn toàn bị áp đảo về quân số, do đó đề xuất rút lui chiến thuật về Paris. Ngược lại, Talbot là một chiến binh hung hãn, người luôn khao khát một trận đánh trực diện để nghiền nát quân Pháp như những gì thế hệ trước đã làm tại Agincourt. Dù vậy, khi các cứ điểm dọc sông Loire lần lượt sụp đổ, Talbot buộc phải thỏa hiệp. Họ sẽ rút lui, nhưng sẵn sàng đánh chặn nếu bị truy kích quá rát.
Khoảng cách giữa hai đội quân nhanh chóng bị thu hẹp. Đội tiền quân của Pháp, dẫn đầu bởi hai viên tướng dạn dày sương gió là La Hire và Xaintrailles. Gồm khoảng 180 hiệp sĩ bọc thép, theo sau là hơn 1.000 lính đánh bộ cưỡi ngựa. Nhiệm vụ của họ không phải là dàn trận quy ước, mà là sục sạo, tìm kiếm điểm yếu và ghim chân kẻ thù để đạo quân chủ lực tiến lên.
Đầu giờ chiều ngày 18 tháng 6, nhận thấy kỵ binh Pháp đang áp sát với tốc độ quá nhanh, Fastolf và Talbot quyết định dừng lại tại một khu vực gần làng Patay để thiết lập phòng tuyến.
Tư duy chiến thuật của người Anh trong suốt một thế kỷ qua là xây dựng hệ thông phòng thủ để bảo vệ các cung thủ trường cung có thể tung ra chục mũi tên xuyên giáp mỗi phút ở cự ly 300 yard. Và tất nhiên là họ mỏng manh. Để sống sót trước kỵ binh, cung thủ Anh cần ba điều kiện bắt buộc:
- Địa hình hẹp để bảo vệ hai bên sườn,
- Thời gian để đào rãnh,
- Và quan trọng nhất là thời gian để đóng hàng ngàn cọc gỗ vạt nhọn (cheval-de-frise) hướng về phía trước để cản bước ngựa chiến.
Thiếu vắng những yếu tố này, khả năng cao là cuộc chiến sẽ trở thành cuộc tàn sát một chiều.
Talbot và Fastolf chia quân. Talbot mang theo khoảng 500 cung thủ tinh nhuệ, lẩn trốn vào các lùm cây và hàng rào sống dọc theo con đường trũng. Nhiệm vụ của ông là phục kích, bắn những loạt tên bất ngờ vào đội tiền quân Pháp, tạo ra sự hỗn loạn và câu giờ. Ở phía sau, Fastolf sẽ đưa đạo quân chủ lực lên một dải đất hơi nhô cao, hoàn thiện hàng rào cọc nhọn để chờ đòn tấn công chính.
Nhiều bức tranh thế kỷ 19 mô tả quân Anh tại Patay đứng trên một ngọn đồi dốc đứng, hiểm trở. Tuy nhiên, thực tế Patay là một vùng đồng bằng mở, chỉ có một sườn dốc rất thoai thoải chênh lệch độ cao chừng 5 mét. Không có đầm lầy, không có rừng rậm hai bên sườn để che chắn. Đội hình của quân Anh phơi mình hoàn toàn giữa không gian rộng lớn, mồi ngon cho các cuộc tạt sườn của kỵ binh.
Và vị trí của họ đã bị lộ theo một cách không ai có thể lường trước.
Khi các toán trinh sát của La Hire đang sục sạo vùng nông thôn, một con hươu rừng hoảng sợ trước tiếng móng ngựa đã phóng thẳng từ trong rừng ra, lao cắt ngang qua đúng vị trí ẩn nấp của hàng trăm cung thủ dưới trướng Talbot.
Có lẽ do những trận thua và tin đồn về mụ phù thuỷ Jeanne bất tử đã khiến thần kinh của những người lính Anh suy nhược, họ mất kỷ luật. Thay vì giữ im lặng để chờ con mồi là kỵ binh Pháp đi vào tròng, những người lính Anh lại phát ra những tiếng la hét ầm ĩ. Một số binh lính thậm chí đã nổ súng hoặc bắn tên vào con vật.
Tiếng ồn ào từ bụi rậm vang vọng khắp cánh đồng. Lực lượng trinh sát Pháp lập tức xác định được tọa độ chính xác của ổ phục kích. Yếu tố bất ngờ, thứ duy nhất giúp kế hoạch của Talbot có cơ may thành công, đã bị xé toạc trước khi mũi tên đầu tiên kịp nhắm vào quân Pháp.
Tin tình báo được truyền về, Công tước d'Alençon, chần chừ hỏi ý kiến Jeanne d'Arc về việc có nên đợi quân chủ lực lên dàn trận hay không. Bà quay lại hỏi d'Alençon có mang đinh thúc ngựa không? Vị công tước bối rối tưởng bà khuyên bỏ chạy, Jeanne nói tiếp: "Nhân danh Chúa, chúng ta phải chiến đấu với chúng. Dù chúng có treo mình lơ lửng trên những đám mây, chúng ta cũng sẽ kéo chúng xuống. Ngài sẽ cần những chiếc đinh thúc ngựa tốt để truy đuổi chúng hôm nay."
Ngay lập tức, tiền quân Pháp tiến công. 180 hiệp sĩ bọc thép và hàng ngàn lính cưỡi ngựa lập tức phi nước đại, xung phong nhắm thẳng vào trận địa của người Anh.
Đòn tấn công này nhắm trúng vào điểm yếu chí mạng của quân Anh: chưa kịp chuẩn bị công sự. Cung thủ của Talbot chưa kịp đóng xong cọc gỗ.
Thay vì đâm đầu vào mặt chính diện để hứng chịu mưa tên như tại Agincourt, kỵ binh Pháp khôn ngoan chẻ đội hình, thực hiện các cú bọc lót tạt sâu vào hai bên sườn trống trải của đối phương. Trọng kỵ binh xuyên thủng các phòng tuyến mỏng manh, chia cắt nhóm cung thủ thành những cụm nhỏ lẻ tẻ, cô lập họ hoàn toàn khỏi sự chi viện của lực lượng phía sau do Fastolf chỉ huy.
Khoảnh khắc kỵ binh giáp lá cà với bộ binh hạng nhẹ, trận đánh lập tức biến thành một cuộc thảm sát một chiều. Những người thợ săn yeoman với chiếc áo vải và cây cung gỗ hoàn toàn vô phương tự vệ trước những khối thép di động mang theo trường kiếm và chùy gai.
Toàn bộ đơn vị phục kích tinh nhuệ bị nghiền nát trong vài phút. Lord Talbot, viên tướng đáng sợ của nước Anh, bị đánh ngã ngựa và bị bắt sống ngay giữa trận.
Khi Fastolf và đạo quân chủ lực phía sau (chủ yếu là tân binh) chứng kiến cánh quân của Talbot bị vò nát quá nhanh, hàng ngũ của họ lập tức rối loạn. Những kẻ sống sót từ ổ phục kích bỏ chạy thục mạng về tuyến sau càng làm tăng thêm sự hoảng loạn. Nhận thấy trận địa chưa hoàn thiện và mọi nỗ lực cứu vãn lúc này chỉ đồng nghĩa với việc tự sát tập thể, Fastolf hạ lệnh quay lưng rút lui. Dập tắt chút ý chí chiến đấu cuối cùng của những người còn lại.
Quân Anh vỡ vụn. Phần còn lại của ngày hôm đó chỉ là một cuộc truy kích trên cánh đồng mở. Kỵ binh Pháp săn lùng tàn quân Anh cho đến tận khi màn đêm buông xuống.
Sau trận đánh, Pháp chỉ có khoảng 3 người tử trận (một số nguồn cho là vài chục) và khoảng 100 người bị thương. Trong khi đó, quân Anh bỏ lại từ 2.000 đến 2.500 xác chết. Hàng trăm người khác bị bắt làm tù binh, bao gồm cả những chỉ huy tối cao như Talbot và Thomas de Scales.
Sự kiện tại Patay đánh dấu sự sụp đổ của "thần thoại longbow". Nó chứng minh rằng cung thủ Anh chỉ phát huy tác dụng khi kẻ thù chủ động đi vào cái bẫy đã được giăng sẵn. Khi đối phương sử dụng tốc độ, tình báo trinh sát để tước đi thời gian chuẩn bị, và sử dụng kỵ binh cơ động để khoét vào hai bên sườn, lực lượng này trở nên vô dụng. Việc mất đi hàng ngàn cung thủ tinh nhuệ - những người cần hàng chục năm rèn luyện cơ bắp để kéo được cây cung trăm pound - là không thể phục hồi đối với đội quân viễn chinh của Vương triều Plantagenet.
Sau trận Patay, đội quân dã chiến duy nhất của liên minh Anh - Burgundy tại miền trung nước Pháp đã bị xóa sổ. Tranh thủ thời cơ tâm lý khi kẻ thù đang rút sâu về Normandy cố thủ, Jeanne d'Arc đã thúc đẩy một cuộc hành quân mang tính biểu tượng tiến thẳng qua lãnh thổ địch để đến Reims. Cuộc hành quân diễn ra như một buổi diễu hành chiến thắng, các thành trì lần lượt mở cổng quy phục mà không tốn một giọt máu. Chưa đầy một tháng sau trận Patay, ngày 17 tháng 7 năm 1429, thái tử Charles chính thức được xức dầu thánh lên ngôi Vua Charles VII, tước bỏ hoàn toàn tính chính danh của người Anh trên đất Pháp.
Từ đống tro tàn của Agincourt, quân đội Pháp đã đứng dậy nhờ sự quả quyết của một nữ anh hùng, một con hươu rừng đi lạc, và nhờ Chúa mang họ đến. Trận Patay là khoảnh khắc nước Pháp thực sự hồi sinh.

