• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Trận Suối Tre – Đồng Rùm ngày 21.3.1967

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,472
Reaction score
0
Points
36
Trận Suối Tre – Đồng Rùm ngày 21.3.1967

1. Bối cảnh

Cuối tháng 2 năm 1967, quân đội Mỹ phối hợp cùng Quân lực Việt Nam Cộng hòa mở chiến dịch Junction City - một trong những chiến dịch càn quét quy mô lớn nhất của Mỹ tại miền Nam Việt Nam, nhằm truy lùng cơ quan đầu não Trung ương Cục miền Nam cùng lực lượng chủ lực Quân Giải phóng (QGP) đang đứng chân tại vùng căn cứ Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Trớ trêu thay, dù bị coi là "con mồi" trong kế hoạch càn quét, chính Sư đoàn bộ binh 9 QGP miền Nam lại là bên chủ động ra đòn trước, liên tiếp tổ chức những trận tập kích vào các căn cứ hỏa lực dã chiến mà quân Mỹ vừa dựng lên.

Đỉnh điểm của loạt phản công đó là trận đánh nổ ra rạng sáng 21/3/1967 tại khu vực Suối Tre phía Mỹ gọi là Battle of Suoi Tre, còn phía Việt Nam quen gọi theo tên trảng đất diễn ra giao tranh: Đồng Rùm.

Đồng Rùm là một trảng trống lớn, dài khoảng 1.200m, rộng 500m, thuộc xã Thanh Đông (Dương Minh Châu, Tây Ninh) nằm ngay trung tâm chiến khu C, cách Sài Gòn chừng 90km về phía Tây Bắc và chỉ cách chiến trường Attleboro (diễn ra vài tháng trước đó) khoảng 3km.

2. Chủ đông bao vây, tập kích giai đoạn đầu

Ngày 19/3/1967, mở màn giai đoạn 2 của chiến dịch Junction City, quân Mỹ dùng trực thăng đổ hai tiểu đoàn xuống trảng này để dựng căn cứ hỏa lực Gold (FSB Gold), làm bàn đạp yểm trợ cho các mũi tiến sâu vào vùng căn cứ QGP.

Hai đơn vị đổ quân đầu tiên là Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn bộ binh 22 (trung tá John A. Bender chỉ huy) và Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn pháo binh dã chiến (trung tá John W. Vessey, Jr. chỉ huy).

Ngay trong lúc đổ bộ, quân Mỹ đã hứng chịu tổn thất đáng kể: bộ đội QGP đã gài sẵn 5 khối bộc phá lớn quanh bãi đáp và kích nổ từ xa.

Trong ba đợt đổ quân đầu, vụ nổ phá hủy 3 trực thăng, làm hư hỏng thêm 6 chiếc, khiến 15 lính Mỹ thiệt mạng và 28 người bị thương. Sang ngày 20/3, khi Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 12 được tăng viện xuống, thêm 7 trực thăng nữa trúng đạn hư hỏng.

Sau khi ổn định, lực lượng trấn giữ FSB Gold gồm hai đại đội A và B (Tiểu đoàn 3/Trung đoàn 22) cùng Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn pháo binh dã chiến số 77 tổng quân số chưa tới 450 người, với 3 đại đội pháo 105mm, được tăng cường thêm 2 bệ súng máy 4 nòng cỡ 12,7mm, tất cả đặt dưới quyền Lữ đoàn 3, Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ.

Quanh khu vực còn có cả một mạng lưới pháo binh chi viện dày đặc: một đại đội pháo kéo 105mm, một đại đội pháo tự hành 155mm, một đại đội pháo tự hành 105mm khác, và một đại đội pháo tự hành hỗn hợp 175mm/203mm sẵn sàng dội hỏa lực bất cứ lúc nào cần.

3. Diễn biến giao tranh

Ngày 20/3/1967, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 QGP quyết định đánh úp căn cứ Gold.

Lực lượng huy động gồm Trung đoàn bộ binh 2 (Đoàn Đồng Xoài) và Trung đoàn bộ binh 16 (có tài liệu ghi là Trung đoàn 272), đang đứng chân cách mục tiêu 5-7km, phối hợp cùng hỏa lực của đoàn pháo binh U80.

Vừa được bổ sung quân số và vũ khí sau đợt 1 chiến dịch Junction City, mỗi tiểu đoàn có khoảng 350 người, trang bị 4 súng cối 82mm, 3 khẩu ĐKZ-57 không giật, 3 súng máy phòng không 12,7mm, mỗi tiểu đội bộ binh có 1 trung liên và 1 khẩu B-40.

Kế hoạch ban đầu định nổ súng lúc 4h30 sáng 21/3, nhưng các mũi tiếp cận mục tiêu gặp khó khăn nên trận đánh buộc phải lùi sang ban ngày.

Khoảng 4h30 sáng, các toán phục kích của Mỹ quanh căn cứ phát hiện nhiều bộ đội QGP đang di chuyển gần đó.

Đến 6h30, ước chừng 2.500 quân QGP đồng loạt nổ súng, mở màn bằng một trận địa pháo dữ dội với khoảng 650 quả đạn cối 60mm và 82mm trút xuống vành đai phòng thủ.

Dưới sự yểm trợ của cối, ĐKZ và đại liên, bộ binh QGP xung phong theo hai hướng: Tiểu đoàn 4 và 6 (Trung đoàn 2) tạo hai mũi chủ yếu từ phía Nam, Tiểu đoàn 7 và 9 (Trung đoàn 16) tạo hai mũi thứ yếu từ phía Bắc. Một toán cảnh giới của Mỹ ở hướng Đông Nam bị xóa sổ gần như ngay lập tức.

Vành đai phòng thủ của đối phương bị áp lực nặng nhất dồn vào hai hướng Đông Bắc và Đông Nam.

Khoảng 7h50, vành đai phía Đông Nam bị chọc thủng; vị trí Trung đội 1 (Đại đội B) cũng bị xuyên qua trong giai đoạn này. Lúc 7h11, Đại đội B báo cáo đang bị tràn ngập, phải xin bắn đạn beehive loại đạn phá mảnh chống bộ binh chứa hàng trăm mũi tên thép để chặn bước đối phương.

Từ 7h00, máy bay trinh sát Mỹ đã có mặt dẫn đường cho không quân, pháo binh xung quanh bắt đầu bắn chi viện sát vành đai, có lúc chỉ cách 100m.

Đến 7h15, tốp 4 chiếc F-4 đầu tiên xuất hiện, thả một vệt bom napalm dài theo hướng Bắc – Nam để chặn đường tiến công.

Lúc 7h56, Đại đội B lại báo quân QGP đã lọt vào vị trí Trung đội 1, đạn dược cạn dần, chỉ huy Mỹ phải điều 20 lính từ Đại đội A sang chi viện cùng đạn bổ sung.

Đến 8h13, đến lượt vành đai Đông Bắc bị tràn ngập.

Khoảng 11 phút sau, một tổ súng máy 4 nòng 12,7mm bị chọc thủng, bộ đội QGP định dùng luôn khẩu súng này bắn lại quân Mỹ nhưng bị một khẩu pháo 105mm đóng cách đó chỉ 75m hạ nòng bắn trúng, phá hủy tại chỗ.

Có lúc, bộ binh QGP đã áp sát trong tầm lựu đạn tay tới hai sở chỉ huy tiểu đoàn Mỹ, chỉ cách trạm quân y chừng 5m, phá hủy một bệ súng máy 4 nòng và chiếm được bệ còn lại, đồng thời đánh thẳng vào các trận địa pháo.

Để giành lại, quân Mỹ dùng pháo 105mm bắn thẳng phá hủy bệ súng vừa mất, hạ nòng bắn đạn đinh chống bộ binh (mỗi viên mang khoảng 8.000 mũi tên nhỏ) trực diện vào đội hình xung phong, trong khi máy bay ném bom chỉ cách tuyến phòng thủ 50m. Nhiều nơi hai bên giao tranh giáp lá cà.

Đến 8h40, quân Mỹ buộc phải bỏ tuyến phòng thủ thứ nhất ở các hướng Đông, Đông Bắc, Đông Nam, rút về tuyến thứ hai quanh trận địa pháo. Quá nửa lính Mỹ ở hướng Đông đã bắn hết đạn, phải nhặt vũ khí đối phương để chiến đấu tiếp.

Từ 6h55, Lữ đoàn 3 Mỹ đã điều lực lượng giải vây lên đường: Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn bộ binh 12), Tiểu đoàn 2 cơ giới (Trung đoàn 22) và Tiểu đoàn 2 thiết giáp (Trung đoàn 34), dưới quyền chỉ huy trực tiếp của trung tá Raymond Stailey, thuộc Đội đặc nhiệm số 4 (4th ID Task Force) do đại tá Marshall Garth phụ trách.

Khoảng 9h00, cánh bộ binh (Tiểu đoàn 2/12) bắt tay được với Đại đội B ở phía Nam rồi đánh ngược lên phía Đông, chiếm lại tuyến phòng thủ thứ nhất.

Ít phút sau, khoảng 9h12, lực lượng cơ giới và thiết giáp cũng xuyên qua rừng cây tiếp cận được khu vực Tây Nam căn cứ, chia nhiều mũi đánh thẳng vào sườn đội hình QGP ở hướng Đông, xe tăng liên tục nã pháo 90mm đạn chống bộ binh. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng, bộ đội QGP bắt đầu rút lui.

Đến khoảng 9h28-9h30, quân Mỹ khôi phục lại được tuyến phòng thủ ban đầu.

Một cựu binh của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn thiết giáp 34 (Mario Salazar) sau này kể lại rằng đơn vị cơ giới của ông có 80 xe bọc thép M113, mỗi xe trang bị 1 súng máy 12,7mm và 2 súng máy 7,62mm, đủ chỗ chở một tiểu đội trang bị M-16.

Khi đoàn xe áp sát căn cứ, quang cảnh hỗn loạn với tiếng súng và tiếng nổ liên hồi, xác chết và thương binh nằm khắp nơi,khoảng 20 chiếc M113 xông vào vừa bắn vừa yểm trợ, được lính trong căn cứ đón mừng và xin tiếp nước, đạn dược. Theo lời kể này, phần lớn bộ đội QGP còn bám trụ đã bị hỏa lực từ đoàn xe bắn hạ ngay sau đó.

Từ khoảng 9h30 đến 10h00, trực thăng bắt đầu hạ cánh xuống căn cứ để tiếp đạn và di tản thương binh.

Đến 10h45, trận đánh chính thức kết thúc, dù một số cuộc chạm súng lẻ tẻ còn kéo dài tới gần trưa khi lực lượng cơ giới, thiết giáp Mỹ tiếp tục truy kích và phi pháo tiếp tục đánh chặn đường rút của QGP.
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới

4. Thương vong các bên

Về phía Mỹ, các nguồn ghi nhận 33 người tử trận, 187 người bị thương, 1 người mất tích, cùng 1 máy bay trinh sát O-1 bị bắn rơi. Về khí tài, căn cứ mất 2 bệ súng máy 4 nòng 12,7mm, 3 khẩu pháo 105mm bị phá hủy hoàn toàn và 14 khẩu khác bị hư hỏng.

Cường độ giao tranh khiến bộ binh Mỹ tiêu thụ tới 90% trong hai cơ số đạn tiêu chuẩn mang theo. Riêng pháo binh đã bắn tổng cộng 20 viên cỡ 203mm, 22 viên cỡ 175mm, 357 viên cỡ 155mm và 3.605 viên cỡ 105mm (trong đó có 40 viên đạn beehive), không quân thực hiện 14 phi vụ với 31 lượt chiếc trực tiếp yểm trợ căn cứ cùng nhiều phi vụ truy kích khác, tiêu thụ khoảng 34 tấn bom đạn (chưa kể đạn pháo 20mm trên máy bay).

Phía Mỹ đếm được tại chỗ 647 liệt sĩ bộ đội QGP (có tài liệu ghi 654), và bắt được từ 7 đến 11 tù binh (trong đó 2 người hy sinh vì vết thương).

Số vũ khí thu được : 50 súng chống tăng B-40, 30 trung liên, 49 súng AK, 13 súng BAR, 5 súng M14, 12 súng CKC, 13 súng trường kiểu Trung Chính, 2 súng M79, 3 súng shotgun 12 gauge kiểu Mỹ, 2 súng ngắn P-38, 10 súng M1 Garand, cùng khoảng 31.000 viên đạn các loại, 1.900 quả lựu đạn, 580 đạn B-40, 40 đạn ĐKZ-75, 28 đạn ĐKZ-57, 21 quả mìn ĐH-10, 8 quả mìn ĐH-2 và hơn 1 tấn quân trang, quân dụng.

Trưa 21/3, quân Mỹ dùng xe cứu kéo M88 lắp thêm lưỡi ủi đào hai hố chôn tập thể lớn để an táng 647 bộ đội QGP.

Ngay sau khi các hố được lấp đất, trực thăng của tướng Westmoreland hạ cánh xuống hiện trường; ông cùng một số quan chức và phóng viên đã trực tiếp thị sát trận địa.

Vài tháng sau, đơn vị thiết giáp tham gia giải vây được trao huân chương tập thể Presidential Unit Citation – phần thưởng cao quý nhất dành cho một đơn vị quân đội Mỹ trong thời chiến.

Theo lời kể của cựu chiến binh có mặt, đến trưa hôm đó họ đã gom được 423 thi thể, chôn trong một rãnh đào sâu 1-1,2m, buổi chiều, lực lượng truy kích tiếp tục thu gom thêm hơn 200 thi thể nữa cho tới 16h, đưa vào chôn ở một rãnh thứ hai đào gần rãnh đầu, theo cách thức tương tự.

Nhiều năm sau, khoảng năm 1986, trong lúc canh tác, người dân địa phương tình cờ phát hiện hài cốt tại khu vực này. Cơ quan chức năng tổ chức khai quật, đếm được 420 hài cốt (tính theo số hộp sọ) gần khớp với con số 423 người được chôn ở rãnh thứ nhất theo lời kể phía Mỹ.

Riêng rãnh thứ hai, nơi chôn hơn 200 liệt sĩ, đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Đáng chú ý, khu vực chôn cất này từng bị máy bay B-52 ném bom theo tọa độ nhiều lần vào năm 1972 nhưng không trúng, rất mong trong chiến dịch 500 ngày đêm này cố gắng đưa các liệt sĩ còn lại sau trận đánh về với gia đình.
Buddy Up - Lược sử Việt Nam và thế giới
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom