- Joined
- 20/7/24
- Bài viết
- 4,170
- Reaction score
- 0
- Points
- 36
Từ giàu có đến khủng hoảng - Những quốc gia sụp đổ vì mô hình cánh tả và quốc hữu hóa.
1. Venezuela: Thiên đường dầu mỏ và cái bẫy độc canh.
Nhờ sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới, Venezuela từng là một trong những quốc gia giàu có nhất Nam Mỹ trong giai đoạn từ thập niên 1950 đến 1980. Thu nhập bình quân đầu người của nước này cao vượt trội so với khu vực, thủ đô Caracas tràn ngập các công trình hiện đại và xe hơi xa xỉ. Dầu mỏ chiếm phần lớn nguồn thu xuất khẩu của quốc gia, có giai đoạn lên tới khoảng chín mươi phần trăm, khiến Venezuela mắc phải hiện tượng được giới kinh tế học gọi là "căn bệnh Hà Lan" (Dutch disease). Quốc gia này bỏ bê hoàn toàn các ngành sản xuất và nông nghiệp trong nước, chuyển sang nhập khẩu mọi thứ từ lương thực đến nhu yếu phẩm.
Khi giá dầu thế giới lao dốc vào những năm 1980, nền kinh tế Venezuela lập tức chao đảo. Chính phủ phải vay nợ nước ngoài, lạm phát tăng và hố sâu ngăn cách giàu nghèo ngày càng lớn. Làn sóng bất mãn trong xã hội dâng cao, dẫn đến các cuộc bạo động đỉnh điểm là sự kiện Caracazo nổ ra vào ngày 27 tháng 2 năm 1989, khi chính phủ của Tổng thống Carlos Andrés Pérez công bố chương trình điều chỉnh kinh tế vĩ mô theo yêu cầu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, trong đó có việc tăng giá xăng và giá vé xe buýt công cộng. Hàng nghìn người xuống đường, bạo loạn và cướp bóc lan rộng khắp Caracas và nhiều thành phố khác, quân đội phải can thiệp để trấn áp. Sự kiện này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của một nhà lãnh đạo mới.
Hugo Chávez đắc cử Tổng thống năm 1998 nhờ cam kết giúp đỡ người nghèo. Ông nhậm chức đúng vào thời kỳ giá dầu thế giới bắt đầu tăng phi mã, có lúc tiệm cận mức 150 USD một thùng, giúp chính phủ của ông thu về hàng trăm tỷ USD. Chávez dùng nguồn tiền này tài trợ cho các chương trình phúc lợi xã hội khổng lồ, bao gồm miễn phí y tế, giáo dục và trợ giá lương thực. Tập đoàn dầu mỏ quốc gia PDVSA vốn đã được quốc hữu hóa từ năm 1976 dưới thời Tổng thống Carlos Andrés Pérez, nhưng sau cuộc đình công của ngành dầu mỏ vào cuối năm 2002 đến đầu năm 2003, Chávez đã sa thải hàng loạt nhân viên và ban lãnh đạo cũ của PDVSA, thay thế bằng những người trung thành về mặt chính trị nhưng phần lớn thiếu kinh nghiệm kỹ thuật, một quá trình khiến năng lực vận hành và sản lượng khai thác của tập đoàn suy yếu dần trong những năm sau đó.
Năm 2013, Hugo Chávez qua đời và Nicolás Maduro lên kế nhiệm. Chỉ khoảng một năm sau, vào cuối năm 2014, giá dầu thế giới bắt đầu lao dốc và chạm đáy, khiến nguồn thu quốc gia biến mất gần như hoàn toàn. Để duy trì chi tiêu, chính phủ bắt đầu in tiền vô tội vạ, dẫn đến thảm họa siêu lạm phát. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo lạm phát Venezuela có thể chạm mức một triệu phần trăm vào cuối năm 2018, và đến năm 2019 con số ước tính đã vượt mười triệu phần trăm. Các lệnh trừng phạt kinh tế từ Mỹ và phương Tây càng làm tình hình thêm bế tắc. Nền kinh tế sụp đổ khiến hàng triệu người rơi vào cảnh thiếu lương thực và thuốc men, tạo nên làn sóng di cư lớn nhất lịch sử khu vực với hơn bảy triệu người rời bỏ đất nước.
Nhìn lại toàn bộ tiến trình, ba sai lầm cốt lõi thường được nhắc đến để giải thích sự sụp đổ này.
- Thứ nhất là bẫy độc canh dầu mỏ: khi dòng tiền dầu đổ về quá dễ dàng, quốc gia này quên mất việc đa dạng hóa nền kinh tế, để khi dầu mất giá thì không còn điểm tựa nào khác.
- Thứ hai là quản lý yếu kém và tham nhũng, khi việc quốc hữu hóa vô tội vạ triệt tiêu động lực của khối tư nhân, còn tập đoàn dầu mỏ quốc gia từ một cỗ máy in tiền bị biến thành công cụ chính trị và suy yếu do không được tái đầu tư công nghệ.
- Thứ ba là kiểm soát giá cả sai lầm, khi chính phủ áp trần giá dòng nhu yếu phẩm nhằm giúp người nghèo nhưng vô tình khiến các doanh nghiệp trong nước phá sản vì chi phí sản xuất cao hơn giá bán, hàng hóa biến mất khỏi kệ siêu thị và nhường chỗ cho chợ đen.
2. Myanmar: Từ vựa lúa Châu Á đến vòng xoáy đảo chính.
Vào những năm 1950, Myanmar từng là một trong những quốc gia có mức sống và trình độ học vấn thuộc nhóm cao tại Đông Nam Á, được mệnh danh là "vựa lúa của châu Á" nhờ vị thế nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Sau khi giành độc lập từ Anh năm 1948, Myanmar sở hữu những nền tảng đáng mơ ước. Đây từng là quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, đứng đầu về gỗ tếch, có trữ lượng đá quý khổng lồ và dầu mỏ. Các quốc gia láng giềng như Thái Lan thời bấy giờ được xem là kém phát triển hơn so với Miến Điện trên nhiều phương diện.
Năm 1962, Tướng Ne Win thực hiện đảo chính quân sự và áp dụng học thuyết kinh tế tự chế mang tên "Burmese Way to Socialism". Chính sách này bao gồm quốc hữu hóa triệt để mọi ngành công nghiệp, từ ngân hàng đến các cửa hàng bán lẻ nhỏ, trục xuất thương nhân nước ngoài, và thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng gần như tuyệt đối với thế giới.
Kết quả là sản xuất đình trệ, lạm phát phi mã, và đến năm 1987 Myanmar chính thức được Liên Hợp Quốc xếp vào nhóm các quốc gia kém phát triển nhất, một sự kiện được xem là nỗi nhục quốc gia. Cùng năm đó, chính phủ còn ban hành lệnh đổi tiền đột ngột khiến phần lớn tiền tiết kiệm của người dân mất giá trị, góp phần vào làn sóng bất mãn tích lũy suốt nhiều năm và bùng nổ thành cuộc biểu tình lớn trên toàn quốc vào năm sau đó, được biết đến với tên gọi sự kiện 8888.
Sau các cuộc biểu tình lớn năm 1988, chính quyền quân sự mới, khi đó đổi tên nước thành Myanmar, tuy có nới lỏng kinh tế một chút nhưng lại thắt chặt kiểm soát chính trị. Việc đàn áp phe dân chủ và quản lý yếu kém khiến phương Tây áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế khốc liệt. Quốc gia giàu tài nguyên này bị cô lập, phải dựa hoàn toàn vào việc khai thác thô tài nguyên như gỗ và đá quý để bán rẻ sang các nước láng giềng.
Myanmar sau đó bắt đầu tiến trình cải cách dân chủ. Cuộc bầu cử năm 2015 mang lại chiến thắng cho đảng của bà Aung San Suu Kyi, và chính phủ dân sự do bà lãnh đạo chính thức nhậm chức vào tháng 3 năm 2016. Các lệnh trừng phạt được gỡ bỏ, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào du lịch, sản xuất và công nghệ tăng vọt. Kinh tế Myanmar đạt mức tăng trưởng ấn tượng trên sáu đến bảy phần trăm mỗi năm, được coi là thập niên hồi sinh đầy hy vọng.
Tuy nhiên vào tháng 2 năm 2021, quân đội Myanmar lại lật đổ chính phủ dân sự. Đất nước lập tức rơi vào làn sóng biểu tình, đình công toàn quốc và bùng phát nội chiến khốc liệt giữa quân đội và các lực lượng phản kháng địa phương. Các nhà đầu tư nước ngoài tháo chạy, hệ thống ngân hàng bị tê liệt, lạm phát tăng lên khoảng hai mươi phần trăm trong năm đầu sau đảo chính và tiếp tục duy trì ở mức cao trong các năm sau đó, kéo theo tình trạng mất điện diện rộng làm sụp đổ ngành sản xuất.
Khác với các quốc gia thất bại vì cạn kiệt tài nguyên, sự nghèo khó của Myanmar là hệ quả trực tiếp của các yếu tố nội tại.
Giai đoạn đóng cửa từ 1962 đến 1988 đã cắt đứt hoàn toàn Myanmar khỏi dòng chảy công nghệ, tri thức và thương mại toàn cầu, biến một nền kinh tế mở năng động thành một ao làng tù đọng. Bên cạnh đó, kể từ năm 1948 đến nay Myanmar gần như chưa bao giờ thực sự có hòa bình, khi cuộc xung đột giữa chính quyền trung ương và hàng chục nhóm vũ trang sắc tộc thiểu số ở vùng biên giới đã ngốn sạch ngân sách quốc gia vào quân sự thay vì đầu tư cho y tế, giáo dục hay cơ sở hạ tầng.
Cứ mỗi khi nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc nhờ mở cửa, các cuộc đảo chính quân sự vào các năm 1962, 1988 và 2021 lại xuất hiện, đập tan mọi thành quả ổn định và đẩy đất nước trở lại vạch xuất phát trong sự cô lập của quốc tế.
3. Argentina: Nghịch lý của một cường quốc nông nghiệp.
Đầu thế kỷ hai mươi, Argentina nằm trong nhóm mười quốc gia giàu có nhất hành tinh, sở hữu thu nhập bình quân đầu người cao hơn cả Pháp, Đức hay Nhật Bản. Nhờ vùng đồng bằng lúa phì nhiêu Pampas, nước này trở thành trung tâm xuất khẩu thịt bò và ngũ cốc hàng đầu thế giới trong giai đoạn từ 1880 đến 1930. Làn sóng đầu tư từ Anh và người di cư từ Ý, Tây Ban Nha đổ về ồ ạt. Thủ đô Buenos Aires được mệnh danh là "Paris của Nam Mỹ" với những nhà hát opera lộng lẫy và hệ thống đường sắt hiện đại bậc nhất khu vực.
Cuộc Đại suy thoái năm 1929 khiến nhu cầu mua nông sản thế giới sụt giảm nghiêm trọng. Argentina rơi vào bất ổn chính trị với cuộc đảo chính quân sự năm 1930, và đất nước bắt đầu quay lưng với thương mại tự do, chuyển sang đóng cửa bớt nền kinh tế và tự sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu.
Đến năm 1946, Đại tá Juan Perón lên nắm quyền và thực hiện học thuyết Chủ nghĩa Perón. Ông quốc hữu hóa các ngành công nghiệp, tăng mạnh lương cho công nhân, tăng phúc lợi xã hội và trợ cấp mạnh tay. Chính sách này rất được lòng tầng lớp lao động nghèo, mang lại danh tiếng cho người vợ Evita Perón của ông, nhưng nó lại vắt kiệt ngân sách tích lũy từ thời hoàng kim, triệt tiêu động lực xuất khẩu nông nghiệp và tạo ra thói quen chi tiêu quá tay của chính phủ.
Quân đội lật đổ Perón năm 1955, đẩy đất nước vào chuỗi ngày bất ổn liên miên với các cuộc đảo chính đan xen. Để duy trì bộ máy và các khoản chi tiêu công, các chính phủ liên tục vay nợ nước ngoài. Đến cuối những năm 1970, nợ công tăng vọt, nền sản xuất trong nước suy yếu do bị bảo hộ quá đà dẫn đến mất khả năng cạnh tranh quốc tế. Sau khi nền dân chủ được khôi phục năm 1983, Argentina đối mặt với nạn siêu lạm phát đỉnh điểm vào năm 1989 khi tỷ lệ lạm phát hằng năm vượt mức ba nghìn phần trăm, buộc Tổng thống Raúl Alfonsín phải từ chức trước khi hết nhiệm kỳ.
Chính phủ sau đó neo cứng đồng Peso vào đồng USD với tỷ giá một đổi một để kìm lạm phát. Biện pháp này có tác dụng ngắn hạn nhưng lại làm hàng hóa Argentina trở nên quá đắt đỏ, không xuất khẩu được, trong khi nợ nước ngoài tính bằng USD vẫn tăng. Cột mốc đen tối xảy ra vào tháng 12 năm 2001, khi nền kinh tế sụp đổ và Argentina tuyên bố vỡ nợ với khoảng một trăm tỷ USD trái phiếu, trở thành vụ vỡ nợ chủ quyền lớn nhất lịch sử thế giới tính đến thời điểm đó. Sự kiện này gây ra bạo loạn và khủng hoảng xã hội nghiêm trọng, đồng thời chính phủ đóng băng tài khoản ngân hàng của người dân trong sự kiện được gọi là Corralito.
Suốt hai thập niên sau đó, Argentina rơi vào một vòng lặp luẩn quẩn. Các chính phủ dân túy cánh tả lên cầm quyền thường vung tiền trợ cấp và in tiền, khiến lạm phát tăng cao, sau đó phe cánh hữu lên cải cách thắt lưng buộc bụng, dân chúng phản kháng, rồi đất nước lại quay về với chính sách dân túy. Đất nước liên tục đứng bên bờ vực vỡ nợ với tỷ lệ lạm phát hằng năm thường xuyên vượt mức một trăm đến hai trăm phần trăm và tỷ lệ nghèo đói chạm mốc bốn mươi đến năm mươi phần trăm trong nhiều giai đoạn.
Ba căn bệnh kinh tế chí mạng thường được nhắc đến để giải thích nghịch lý Argentina, một quốc gia đất rộng người thưa, tài nguyên phong phú và không bị chiến tranh tàn phá.
- Thứ nhất là chứng nghiện chi tiêu công và chủ nghĩa dân túy, khi các chính trị gia qua nhiều thế hệ thường chọn cách ban phát trợ cấp và tạo ra hàng triệu công việc trong khu vực công để đổi lấy phiếu bầu, rồi khi ngân sách cạn kiệt lại chọn giải pháp in thêm tiền thay vì cắt giảm chi tiêu hay tăng thuế.
- Thứ hai là kiểu bảo hộ ngược, khi chính phủ đánh thuế rất nặng vào xuất khẩu nông sản để lấy tiền nuôi bộ máy và trợ cấp cho các ngành công nghiệp nội địa yếu kém, khiến quốc gia mất dần nguồn thu ngoại tệ mạnh.
- Thứ ba là sự mất niềm tin hệ thống, khi tiền tệ mất giá quá nhanh và chính phủ từng đóng băng tài khoản ngân hàng của người dân, khiến người Argentina hoàn toàn mất niềm tin vào đồng Peso và hệ thống ngân hàng nội địa, tích trữ USD dưới nệm hoặc chuyển ra nước ngoài.
4. Zimbabwe: Từ vựa lúa Châu Phi đến siêu lạm phát
Sau khi giành độc lập từ tay người Anh vào năm 1980, Zimbabwe được dẫn dắt bởi Tổng thống Robert Mugabe. Trong thập niên 1980 và 1990, nền kinh tế phát triển tương đối tốt, nông nghiệp trù phú.
Quốc gia này không chỉ tự cung tự cấp lương thực cho phần lớn nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ngô, lúa mì, thuốc lá sang khu vực và châu Âu, được biết đến rộng rãi với danh hiệu "vựa lúa của châu Phi", dù một số nhà nghiên cứu nông nghiệp sau này chỉ ra rằng sản lượng ngô và lúa mì của Zimbabwe trên thực tế chưa bao giờ chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng sản lượng của toàn châu lục.
Mặc dù quốc gia giàu có, phần lớn các trang trại thương mại lớn và màu mỡ nhất, chiếm khoảng bảy mươi phần trăm đất canh tác, vẫn nằm trong tay khoảng bốn nghìn điền chủ người da trắng, hệ quả từ thời thuộc địa. Để củng cố quyền lực chính trị đang lung lay, năm 2000 Mugabe tung ra chiến dịch cải cách điền địa cấp tốc. Chính phủ cho phép tịch thu hàng triệu hecta đất của các điền chủ da trắng mà không bồi thường, đuổi họ ra khỏi trang trại để chia nhỏ đất đai cho người da đen bản địa.
Hệ quả đến ngay lập tức. Phần lớn đất đai bị tịch thu lại rơi vào tay các quan chức chính trị thân cận của Mugabe hoặc những người dân nghèo hoàn toàn không có kinh nghiệm, kỹ thuật và vốn để vận hành các trang trại thương mại quy mô lớn. Hệ thống thủy lợi bị bỏ hoang, máy móc hư hỏng.
Chỉ trong vài năm, sản lượng lương thực sụt giảm nghiêm trọng tới sáu mươi phần trăm. Từ một nước xuất khẩu gạo và ngô nuôi cả châu lục, Zimbabwe đột ngột rơi vào cảnh đói nghèo, phải ngửa tay nhận viện trợ lương thực từ Liên Hợp Quốc để cứu đói cho hàng triệu dân.
Khi nông nghiệp sụp đổ, các ngành công nghiệp phụ trợ, ngân hàng và xuất khẩu cũng phá sản theo. Nguồn thu thuế của chính phủ biến mất. Để có tiền nuôi bộ máy quân đội và trả nợ, Mugabe ra lệnh cho Ngân hàng Trung ương in tiền vô tội vạ. Kết quả là siêu lạm phát bùng nổ vượt tầm kiểm soát.
Theo các tính toán học thuật được công bố sau đó, lạm phát của Zimbabwe đạt đỉnh vào tháng 11 năm 2008 ở mức khoảng 79,6 tỷ phần trăm mỗi tháng, tương đương giá cả cứ sau khoảng một ngày lại tăng gấp đôi. Đây được xem là mức siêu lạm phát cao thứ hai trong lịch sử thế giới hiện đại, chỉ đứng sau Hungary năm 1946. Chính phủ phải in cả tờ tiền mệnh giá một trăm nghìn tỷ đô la Zimbabwe, mệnh giá tiền giấy cao nhất từng được phát hành trên thế giới, nhưng cũng không mua nổi một ổ bánh mì. Người dân hoàn toàn từ bỏ đồng tiền này, chuyển sang dùng USD của Mỹ hoặc vàng để giao dịch trên chợ đen.
Sự sụp đổ của Zimbabwe không nằm ở việc phân chia lại đất đai, vốn từng được xem là một đòi hỏi công bằng xã hội sau thời kỳ thuộc địa, mà nằm ở cách thức thực hiện nó.
- Việc tịch thu cưỡng chế không bồi thường đã làm sụp đổ hoàn toàn niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế, khiến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bốc hơi gần như ngay lập tức.
- Việc thay thế những người có năng lực và kỹ thuật vận hành máy móc nông nghiệp bằng những người trung thành về mặt chính trị nhưng thiếu kiến thức đã biến những cánh đồng trù phú thành những bãi cỏ hoang.
- Và cuối cùng, niềm tin rằng có thể giải quyết khủng hoảng ngân sách bằng cách tăng công suất của máy in tiền đã vô tình biến đồng nội tệ thành đống giấy lộn vô giá trị.
5. Những mô hình tương tự ở các khu vực khác.
Mô hình kinh tế dựa trên chủ nghĩa dân túy cánh tả, quốc hữu hóa ồ ạt và vung tiền cho phúc lợi vượt quá năng lực ngân sách đã từng được áp dụng tại nhiều nơi khác trên thế giới, với kết cục tương tự khi giá của loại tài nguyên cốt lõi sụt giảm hoặc nguồn dự trữ cạn kiệt.
Tại Sri Lanka, quốc gia từng có thu nhập trung bình cao với ngành du lịch phát triển rực rỡ và xuất khẩu trà Ceylon nổi tiếng thế giới, một chính sách dân túy mang tính áp đặt đã đẩy đất nước vào cảnh vỡ nợ năm 2022.
Năm 2019, Tổng thống Gotabaya Rajapaksa đắc cử nhờ lời hứa cắt giảm thuế cực mạnh để lấy lòng cử tri, làm mất đi đáng kể nguồn thu của chính phủ, kèm theo các chính sách trợ cấp xã hội lớn. Để tiết kiệm ngoại tệ đang cạn kiệt, tháng 4 năm 2021 chính phủ ra lệnh cấm hoàn toàn việc nhập khẩu phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, bắt buộc toàn bộ đất nước phải chuyển sang nông nghiệp hữu cơ một trăm phần trăm chỉ sau một đêm. Sản lượng lúa gạo nội địa sau đó giảm mạnh, có ước tính lên tới khoảng bốn mươi phần trăm, ngành chè xuất khẩu mũi nhọn suy thoái. Từ một nước tự chủ lương thực, Sri Lanka rơi vào cảnh thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo với giá đắt, dẫn đến làn sóng biểu tình lật đổ tổng thống vào giữa năm 2022.
Tại Bolivia, dưới thời Tổng thống cánh tả Evo Morales, đất nước đã đi theo một lộ trình gần như tương tự với người đồng minh Hugo Chávez của Venezuela nhưng ở quy mô nhỏ hơn.
Ngay khi lên nắm quyền năm 2006, Morales ra lệnh cho quân đội tiếp quản các mỏ khí đốt và dầu mỏ của các tập đoàn nước ngoài, sau đó tiếp tục quốc hữu hóa thêm ngành viễn thông vào năm 2008 và nhiều công ty điện lực trong giai đoạn 2010 đến 2012. Nhờ giá tài nguyên thời điểm đó đang cao, chính phủ có tiền tài trợ cho các chương trình giảm nghèo, trợ cấp cho người già và xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế Bolivia thời kỳ đầu tăng trưởng rất tốt.
Tuy nhiên chính phủ không tái đầu tư công nghệ cho ngành khí đốt mà dùng toàn bộ tiền cho phúc lợi và bộ máy. Khi sản lượng khai thác tự nhiên sụt giảm và giá khí đốt thế giới lao dốc, nguồn thu bốc hơi. Để duy trì trợ giá xăng dầu trong nước và giữ tỷ giá cố định, Bolivia đã đốt sạch quỹ dự trữ ngoại hối, từ mức khoảng mười lăm tỷ USD năm 2015 xuống gần như cạn kiệt những năm sau đó. Đất nước rơi vào tình trạng khan hiếm nghiêm trọng USD và nhiên liệu, người dân phải xếp hàng dài mua xăng.
Tại Zambia, khi giành độc lập vào năm 1964, đất nước này là một trong những quốc gia triển vọng nhất châu Phi nhờ sở hữu những mỏ đồng khổng lồ, từng chiếm khoảng mười hai đến mười lăm phần trăm sản lượng đồng toàn cầu vào cuối thập niên 1960.
Tổng thống Kenneth Kaunda áp dụng học thuyết "Chủ nghĩa nhân văn Zambia", gần gũi với mô hình xã hội chủ nghĩa. Chính phủ bắt đầu quốc hữu hóa các mỏ đồng từ cuối thập niên 1960, giành quyền sở hữu đa số tại hai tập đoàn khai khoáng lớn nhất nước, và đến năm 1982 hai tập đoàn này được sáp nhập thành công ty nhà nước Zambia Consolidated Copper Mines, gọi tắt là ZCCM. Cùng với quá trình quốc hữu hóa ngành mỏ, chính phủ cũng kiểm soát giá lương thực và chi tiền khổng lồ để miễn phí y tế, giáo dục cho người dân.
Các mỏ đồng sau khi thuộc về nhà nước bị quản lý yếu kém, năng suất lao động giảm mạnh, lợi nhuận bị bòn rút để nuôi các chương trình phúc lợi thay vì hiện đại hóa máy móc. Giữa thập niên 1970, giá đồng thế giới sụp đổ, nền kinh tế Zambia sụp đổ theo.
Để cứu vãn các lời hứa phúc lợi, chính phủ đi vay nợ nước ngoài chồng chất. Zambia từ một quốc gia thịnh vượng biến thành một trong những nước nghèo nhất thế giới, phải chịu các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt của Quỹ Tiền tệ Quốc tế suốt nhiều thập niên sau đó.
6. Vì sao quốc hữu hóa toàn bộ thường kém hiệu quả hơn tư nhân hóa?
Trong lịch sử kinh tế hiện đại, việc quốc hữu hóa toàn bộ một ngành công nghiệp hoặc toàn bộ nền kinh tế hầu như luôn mang lại hiệu quả kém hơn so với tư nhân hóa hoặc mô hình kinh tế thị trường cạnh tranh. Đây không phải là một nhận định mang tính định kiến chính trị, mà là một thực tế thường được giải thích bằng quy luật vận hành của dòng tiền và động lực con người.
Nguyên nhân đầu tiên nằm ở vấn đề thiếu động lực tự thân.
- Ở khối tư nhân, chủ doanh nghiệp bỏ vốn của mình ra, nếu công ty làm ăn thua lỗ họ phá sản, nếu có lãi họ giàu lên. Động lực sinh tồn đó buộc họ phải cắt giảm chi phí thừa thãi, tìm mọi cách cải tiến công nghệ và phục vụ khách hàng tốt nhất.
- Ở khối quốc hữu hóa, người quản lý mỏ dầu, nhà máy hay ngân hàng nhà nước thực chất là một công chức làm thuê. Nếu doanh nghiệp lỗ, ngân sách nhà nước sẽ bù vào, họ không bị mất tài sản cá nhân. Khi không có áp lực phá sản và không có phần thưởng tương xứng với rủi ro, người ta thường chọn giải pháp an toàn nhất và ít sáng tạo nhất.
Nguyên nhân thứ hai là khi một lĩnh vực bị quốc hữu hóa toàn bộ, nó không còn vận hành theo quy luật thị trường nữa mà vận hành theo mục tiêu chính trị của chính phủ tại vị. Ghế lãnh đạo trong các tập đoàn quốc hữu hóa thường biến thành phần thưởng cho các mối quan hệ chính trị hoặc người trung thành, thay vì trao cho các chuyên gia kinh tế có năng lực thực sự, như trường hợp tập đoàn dầu mỏ PDVSA của Venezuela hay các mỏ đồng của Zambia. Để giảm tỷ lệ thất nghiệp nhằm lấy lòng dân, chính phủ thường ép các doanh nghiệp nhà nước phải tuyển dụng thừa thãi nhân sự, khiến bộ máy cồng kềnh nuốt chửng mọi lợi nhuận tạo ra. Chính phủ cũng thường bắt các doanh nghiệp quốc hữu hóa bán sản phẩm dưới giá thành sản xuất để trợ cấp cho dân, khiến doanh nghiệp không có dòng tiền để tái đầu tư và bảo trì máy móc, dẫn đến hạ tầng xuống cấp.
Nguyên nhân thứ ba là khi nhà nước độc quyền toàn bộ, sự cạnh tranh biến mất, người tiêu dùng không có quyền lựa chọn, dẫn đến chất lượng dịch vụ tồi tệ. Nhà kinh tế học đạt giải Nobel Friedrich Hayek từng lập luận trong các công trình của ông về vấn đề tri thức phân tán, rằng tri thức cần thiết để hoạch định kinh tế hợp lý nằm rải rác trong tay hàng triệu cá nhân riêng lẻ, và không một cơ quan trung ương nào, dù được trao đầy đủ thông tin, có thể tổng hợp và xử lý lượng tri thức đó hiệu quả bằng chính cơ chế giá cả của thị trường tự do. Khi nhà nước áp đặt giá, kết quả thường dẫn đến hai kịch bản trái ngược nhau, hoặc là sản xuất thừa thãi những thứ không ai cần, hoặc là khan hiếm trầm trọng những thứ thiết yếu.
Quốc hữu hóa chỉ có hiệu quả tạm thời hoặc cục bộ trong các ngành độc quyền tự nhiên, như hạ tầng cốt lõi gồm lưới điện quốc gia hay mạng lưới đường ray xe lửa, vì các ngành này đòi hỏi vốn khổng lồ và không thể có nhiều công ty cùng cạnh tranh trên cùng một hạ tầng vật lý. Từ những năm 1980 trở đi, làn sóng tư nhân hóa đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, điển hình là cuộc cải cách của Thủ tướng Margaret Thatcher tại Anh. Ngay cả các quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới năm 1986 hay Trung Quốc với cải cách mở cửa năm 1978 cũng đã chuyển dịch sang mô hình kinh tế nhiều thành phần, cho phép tư nhân phát triển mạnh mẽ.
7. Những quốc gia quốc hữu hóa nhưng vẫn giàu có.
Vẫn có những quốc gia thực hiện quốc hữu hóa trên diện rộng đối với các ngành công nghiệp cốt lõi nhưng vẫn cực kỳ giàu có, ổn định và có chỉ số phát triển con người thuộc hàng cao nhất thế giới. Những ví dụ nổi bật nhất là Na Uy ở châu Âu và Singapore ở châu Á. Ngoài ra còn có các quốc gia vùng Vịnh như Ả Rập Xê Út hay UAE, giàu có về mặt tài chính nhờ dầu mỏ quốc hữu hóa dù cấu trúc xã hội khác biệt. Điểm khác biệt giữa các quốc gia này với những trường hợp thất bại không nằm ở việc ai sở hữu tài sản, mà nằm ở thể chế quản trị và tư duy vận hành.
Nguyên tắc cốt lõi đầu tiên là vốn nhà nước nhưng quản trị tư nhân. Các tập đoàn quốc hữu hóa thành công không được vận hành như một bộ chuyên môn của chính phủ, mà vận hành chính xác như một công ty tư nhân trên sàn chứng khoán.
Tại Na Uy, tập đoàn năng lượng Equinor có khoảng sáu mươi bảy phần trăm cổ phần thuộc sở hữu của nhà nước, nhưng luật pháp quy định chính phủ không được can thiệp vào các quyết định thương mại hàng ngày của công ty, và Equinor phải cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn dầu mỏ tư nhân toàn cầu như Shell hay ExxonMobil.
Tại Singapore, tập đoàn đầu tư nhà nước Temasek Holdings nắm cổ phần chi phối tại một số doanh nghiệp cốt lõi như Singapore Airlines và Singtel, đồng thời là cổ đông lớn nhất dù không nắm đa số tuyệt đối tại nhiều doanh nghiệp khác như ngân hàng DBS, nhưng trong mọi trường hợp Temasek đều hoạt động như một quỹ đầu tư thương mại khắc nghiệt, đòi hỏi các công ty trong danh mục phải có lãi.
Nguyên tắc thứ hai là cách ly dòng tiền tài nguyên khỏi ngân sách chi tiêu hằng ngày thông qua một quỹ chủ quyền.
Na Uy thành lập Quỹ hưu bổng chính phủ toàn cầu, còn gọi là Quỹ dầu mỏ, vào năm 1990. Toàn bộ tiền thuế và lợi nhuận từ dầu mỏ quốc hữu hóa không được đổ vào chi tiêu công hàng ngày, mà được chuyển thẳng vào quỹ này để đầu tư cổ phiếu, trái phiếu và bất động sản trên toàn thế giới. Tính đến giữa năm 2026, quỹ này đã đạt giá trị hơn hai nghìn tỷ USD, trở thành quỹ chủ quyền lớn nhất thế giới.
Theo quy tắc tài khóa được Quốc hội Na Uy thông qua, chính phủ mỗi năm chỉ được phép rút tối đa khoảng ba phần trăm tổng giá trị của quỹ để bù đắp ngân sách, tương ứng với mức lợi suất thực kỳ vọng dài hạn của quỹ. Điều này giúp Na Uy gần như triệt tiêu hoàn toàn căn bệnh Hà Lan, vì khi giá dầu thế giới sụp đổ như năm 2014 hay 2020, nền kinh tế Na Uy và các chương trình phúc lợi của họ không bị ảnh hưởng nhiều, do họ sống bằng tiền lời đầu tư toàn cầu chứ không sống bằng tiền bán dầu thô mỗi ngày như Venezuela.
Nguyên tắc thứ ba là chế độ đãi ngộ nhân tài đè bẹp quan hệ chính trị. Ở các nước nghèo đi vì quốc hữu hóa, ghế lãnh đạo tập đoàn thường là phần thưởng chính trị. Singapore nổi tiếng với chính sách trả lương cho các bộ trưởng và lãnh đạo tập đoàn nhà nước tương đương, thậm chí cao hơn khối tư nhân, giúp thu hút được những người có năng lực kinh doanh xuất sắc về làm việc cho nhà nước, đồng thời giảm thiểu động cơ tham nhũng. Nếu làm kém, họ bị sa thải ngay lập tức bất kể có quan hệ chính trị thế nào.
Nguyên tắc thứ tư là hệ thống pháp quyền và kiểm soát tham nhũng. Quốc hữu hóa gom một lượng tài sản khổng lồ vào tay nhà nước, và nếu không có một hệ thống pháp luật minh bạch cùng các cơ quan giám sát độc lập, chiếc giỏ tài sản đó dễ trở thành miếng mồi cho tham nhũng.
Na Uy và Singapore liên tục đứng đầu thế giới về chỉ số nhận thức tham nhũng và tính minh bạch. Mọi khoản thu chi của các tập đoàn nhà nước đều được kiểm toán độc lập và công khai cho toàn dân giám sát.
Theo các nghiên cứu kinh tế chính trị so sánh giữa hai nhóm quốc gia này, điểm khác biệt cốt lõi không nằm ở việc ai sở hữu tài sản mà nằm ở thể chế vận hành.
Trong trường hợp Venezuela, Zimbabwe hay Zambia, quốc hữu hóa được dùng để phục vụ mục tiêu chính trị ngắn hạn và trợ cấp lấy lòng cử tri, với lãnh đạo doanh nghiệp là người trung thành chính trị và nguồn thu bị chi tiêu trực tiếp vào ngân sách vượt quá năng lực.
Trong trường hợp Na Uy hay Singapore, quốc hữu hóa nhằm tối đa hóa lợi nhuận thương mại và phát triển bền vững dài hạn, với lãnh đạo là các chuyên gia được tuyển dụng cạnh tranh và nguồn thu được gửi vào quỹ chủ quyền để tái đầu tư ra thế giới thay vì tiêu dùng ngay lập tức.
Ảnh: Cánh đồng nông nghiệp trù phú khi Zimbabwe là “giỏ bánh mì” của châu Phi, tự cung tự cấp và xuất khẩu ngô, lúa mì, thuốc lá
1. Venezuela: Thiên đường dầu mỏ và cái bẫy độc canh.
Nhờ sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới, Venezuela từng là một trong những quốc gia giàu có nhất Nam Mỹ trong giai đoạn từ thập niên 1950 đến 1980. Thu nhập bình quân đầu người của nước này cao vượt trội so với khu vực, thủ đô Caracas tràn ngập các công trình hiện đại và xe hơi xa xỉ. Dầu mỏ chiếm phần lớn nguồn thu xuất khẩu của quốc gia, có giai đoạn lên tới khoảng chín mươi phần trăm, khiến Venezuela mắc phải hiện tượng được giới kinh tế học gọi là "căn bệnh Hà Lan" (Dutch disease). Quốc gia này bỏ bê hoàn toàn các ngành sản xuất và nông nghiệp trong nước, chuyển sang nhập khẩu mọi thứ từ lương thực đến nhu yếu phẩm.
Khi giá dầu thế giới lao dốc vào những năm 1980, nền kinh tế Venezuela lập tức chao đảo. Chính phủ phải vay nợ nước ngoài, lạm phát tăng và hố sâu ngăn cách giàu nghèo ngày càng lớn. Làn sóng bất mãn trong xã hội dâng cao, dẫn đến các cuộc bạo động đỉnh điểm là sự kiện Caracazo nổ ra vào ngày 27 tháng 2 năm 1989, khi chính phủ của Tổng thống Carlos Andrés Pérez công bố chương trình điều chỉnh kinh tế vĩ mô theo yêu cầu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, trong đó có việc tăng giá xăng và giá vé xe buýt công cộng. Hàng nghìn người xuống đường, bạo loạn và cướp bóc lan rộng khắp Caracas và nhiều thành phố khác, quân đội phải can thiệp để trấn áp. Sự kiện này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của một nhà lãnh đạo mới.
Hugo Chávez đắc cử Tổng thống năm 1998 nhờ cam kết giúp đỡ người nghèo. Ông nhậm chức đúng vào thời kỳ giá dầu thế giới bắt đầu tăng phi mã, có lúc tiệm cận mức 150 USD một thùng, giúp chính phủ của ông thu về hàng trăm tỷ USD. Chávez dùng nguồn tiền này tài trợ cho các chương trình phúc lợi xã hội khổng lồ, bao gồm miễn phí y tế, giáo dục và trợ giá lương thực. Tập đoàn dầu mỏ quốc gia PDVSA vốn đã được quốc hữu hóa từ năm 1976 dưới thời Tổng thống Carlos Andrés Pérez, nhưng sau cuộc đình công của ngành dầu mỏ vào cuối năm 2002 đến đầu năm 2003, Chávez đã sa thải hàng loạt nhân viên và ban lãnh đạo cũ của PDVSA, thay thế bằng những người trung thành về mặt chính trị nhưng phần lớn thiếu kinh nghiệm kỹ thuật, một quá trình khiến năng lực vận hành và sản lượng khai thác của tập đoàn suy yếu dần trong những năm sau đó.
Năm 2013, Hugo Chávez qua đời và Nicolás Maduro lên kế nhiệm. Chỉ khoảng một năm sau, vào cuối năm 2014, giá dầu thế giới bắt đầu lao dốc và chạm đáy, khiến nguồn thu quốc gia biến mất gần như hoàn toàn. Để duy trì chi tiêu, chính phủ bắt đầu in tiền vô tội vạ, dẫn đến thảm họa siêu lạm phát. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo lạm phát Venezuela có thể chạm mức một triệu phần trăm vào cuối năm 2018, và đến năm 2019 con số ước tính đã vượt mười triệu phần trăm. Các lệnh trừng phạt kinh tế từ Mỹ và phương Tây càng làm tình hình thêm bế tắc. Nền kinh tế sụp đổ khiến hàng triệu người rơi vào cảnh thiếu lương thực và thuốc men, tạo nên làn sóng di cư lớn nhất lịch sử khu vực với hơn bảy triệu người rời bỏ đất nước.
Nhìn lại toàn bộ tiến trình, ba sai lầm cốt lõi thường được nhắc đến để giải thích sự sụp đổ này.
- Thứ nhất là bẫy độc canh dầu mỏ: khi dòng tiền dầu đổ về quá dễ dàng, quốc gia này quên mất việc đa dạng hóa nền kinh tế, để khi dầu mất giá thì không còn điểm tựa nào khác.
- Thứ hai là quản lý yếu kém và tham nhũng, khi việc quốc hữu hóa vô tội vạ triệt tiêu động lực của khối tư nhân, còn tập đoàn dầu mỏ quốc gia từ một cỗ máy in tiền bị biến thành công cụ chính trị và suy yếu do không được tái đầu tư công nghệ.
- Thứ ba là kiểm soát giá cả sai lầm, khi chính phủ áp trần giá dòng nhu yếu phẩm nhằm giúp người nghèo nhưng vô tình khiến các doanh nghiệp trong nước phá sản vì chi phí sản xuất cao hơn giá bán, hàng hóa biến mất khỏi kệ siêu thị và nhường chỗ cho chợ đen.
2. Myanmar: Từ vựa lúa Châu Á đến vòng xoáy đảo chính.
Vào những năm 1950, Myanmar từng là một trong những quốc gia có mức sống và trình độ học vấn thuộc nhóm cao tại Đông Nam Á, được mệnh danh là "vựa lúa của châu Á" nhờ vị thế nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Sau khi giành độc lập từ Anh năm 1948, Myanmar sở hữu những nền tảng đáng mơ ước. Đây từng là quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, đứng đầu về gỗ tếch, có trữ lượng đá quý khổng lồ và dầu mỏ. Các quốc gia láng giềng như Thái Lan thời bấy giờ được xem là kém phát triển hơn so với Miến Điện trên nhiều phương diện.
Năm 1962, Tướng Ne Win thực hiện đảo chính quân sự và áp dụng học thuyết kinh tế tự chế mang tên "Burmese Way to Socialism". Chính sách này bao gồm quốc hữu hóa triệt để mọi ngành công nghiệp, từ ngân hàng đến các cửa hàng bán lẻ nhỏ, trục xuất thương nhân nước ngoài, và thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng gần như tuyệt đối với thế giới.
Kết quả là sản xuất đình trệ, lạm phát phi mã, và đến năm 1987 Myanmar chính thức được Liên Hợp Quốc xếp vào nhóm các quốc gia kém phát triển nhất, một sự kiện được xem là nỗi nhục quốc gia. Cùng năm đó, chính phủ còn ban hành lệnh đổi tiền đột ngột khiến phần lớn tiền tiết kiệm của người dân mất giá trị, góp phần vào làn sóng bất mãn tích lũy suốt nhiều năm và bùng nổ thành cuộc biểu tình lớn trên toàn quốc vào năm sau đó, được biết đến với tên gọi sự kiện 8888.
Sau các cuộc biểu tình lớn năm 1988, chính quyền quân sự mới, khi đó đổi tên nước thành Myanmar, tuy có nới lỏng kinh tế một chút nhưng lại thắt chặt kiểm soát chính trị. Việc đàn áp phe dân chủ và quản lý yếu kém khiến phương Tây áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế khốc liệt. Quốc gia giàu tài nguyên này bị cô lập, phải dựa hoàn toàn vào việc khai thác thô tài nguyên như gỗ và đá quý để bán rẻ sang các nước láng giềng.
Myanmar sau đó bắt đầu tiến trình cải cách dân chủ. Cuộc bầu cử năm 2015 mang lại chiến thắng cho đảng của bà Aung San Suu Kyi, và chính phủ dân sự do bà lãnh đạo chính thức nhậm chức vào tháng 3 năm 2016. Các lệnh trừng phạt được gỡ bỏ, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào du lịch, sản xuất và công nghệ tăng vọt. Kinh tế Myanmar đạt mức tăng trưởng ấn tượng trên sáu đến bảy phần trăm mỗi năm, được coi là thập niên hồi sinh đầy hy vọng.
Tuy nhiên vào tháng 2 năm 2021, quân đội Myanmar lại lật đổ chính phủ dân sự. Đất nước lập tức rơi vào làn sóng biểu tình, đình công toàn quốc và bùng phát nội chiến khốc liệt giữa quân đội và các lực lượng phản kháng địa phương. Các nhà đầu tư nước ngoài tháo chạy, hệ thống ngân hàng bị tê liệt, lạm phát tăng lên khoảng hai mươi phần trăm trong năm đầu sau đảo chính và tiếp tục duy trì ở mức cao trong các năm sau đó, kéo theo tình trạng mất điện diện rộng làm sụp đổ ngành sản xuất.
Khác với các quốc gia thất bại vì cạn kiệt tài nguyên, sự nghèo khó của Myanmar là hệ quả trực tiếp của các yếu tố nội tại.
Giai đoạn đóng cửa từ 1962 đến 1988 đã cắt đứt hoàn toàn Myanmar khỏi dòng chảy công nghệ, tri thức và thương mại toàn cầu, biến một nền kinh tế mở năng động thành một ao làng tù đọng. Bên cạnh đó, kể từ năm 1948 đến nay Myanmar gần như chưa bao giờ thực sự có hòa bình, khi cuộc xung đột giữa chính quyền trung ương và hàng chục nhóm vũ trang sắc tộc thiểu số ở vùng biên giới đã ngốn sạch ngân sách quốc gia vào quân sự thay vì đầu tư cho y tế, giáo dục hay cơ sở hạ tầng.
Cứ mỗi khi nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc nhờ mở cửa, các cuộc đảo chính quân sự vào các năm 1962, 1988 và 2021 lại xuất hiện, đập tan mọi thành quả ổn định và đẩy đất nước trở lại vạch xuất phát trong sự cô lập của quốc tế.
3. Argentina: Nghịch lý của một cường quốc nông nghiệp.
Đầu thế kỷ hai mươi, Argentina nằm trong nhóm mười quốc gia giàu có nhất hành tinh, sở hữu thu nhập bình quân đầu người cao hơn cả Pháp, Đức hay Nhật Bản. Nhờ vùng đồng bằng lúa phì nhiêu Pampas, nước này trở thành trung tâm xuất khẩu thịt bò và ngũ cốc hàng đầu thế giới trong giai đoạn từ 1880 đến 1930. Làn sóng đầu tư từ Anh và người di cư từ Ý, Tây Ban Nha đổ về ồ ạt. Thủ đô Buenos Aires được mệnh danh là "Paris của Nam Mỹ" với những nhà hát opera lộng lẫy và hệ thống đường sắt hiện đại bậc nhất khu vực.
Cuộc Đại suy thoái năm 1929 khiến nhu cầu mua nông sản thế giới sụt giảm nghiêm trọng. Argentina rơi vào bất ổn chính trị với cuộc đảo chính quân sự năm 1930, và đất nước bắt đầu quay lưng với thương mại tự do, chuyển sang đóng cửa bớt nền kinh tế và tự sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu.
Đến năm 1946, Đại tá Juan Perón lên nắm quyền và thực hiện học thuyết Chủ nghĩa Perón. Ông quốc hữu hóa các ngành công nghiệp, tăng mạnh lương cho công nhân, tăng phúc lợi xã hội và trợ cấp mạnh tay. Chính sách này rất được lòng tầng lớp lao động nghèo, mang lại danh tiếng cho người vợ Evita Perón của ông, nhưng nó lại vắt kiệt ngân sách tích lũy từ thời hoàng kim, triệt tiêu động lực xuất khẩu nông nghiệp và tạo ra thói quen chi tiêu quá tay của chính phủ.
Quân đội lật đổ Perón năm 1955, đẩy đất nước vào chuỗi ngày bất ổn liên miên với các cuộc đảo chính đan xen. Để duy trì bộ máy và các khoản chi tiêu công, các chính phủ liên tục vay nợ nước ngoài. Đến cuối những năm 1970, nợ công tăng vọt, nền sản xuất trong nước suy yếu do bị bảo hộ quá đà dẫn đến mất khả năng cạnh tranh quốc tế. Sau khi nền dân chủ được khôi phục năm 1983, Argentina đối mặt với nạn siêu lạm phát đỉnh điểm vào năm 1989 khi tỷ lệ lạm phát hằng năm vượt mức ba nghìn phần trăm, buộc Tổng thống Raúl Alfonsín phải từ chức trước khi hết nhiệm kỳ.
Chính phủ sau đó neo cứng đồng Peso vào đồng USD với tỷ giá một đổi một để kìm lạm phát. Biện pháp này có tác dụng ngắn hạn nhưng lại làm hàng hóa Argentina trở nên quá đắt đỏ, không xuất khẩu được, trong khi nợ nước ngoài tính bằng USD vẫn tăng. Cột mốc đen tối xảy ra vào tháng 12 năm 2001, khi nền kinh tế sụp đổ và Argentina tuyên bố vỡ nợ với khoảng một trăm tỷ USD trái phiếu, trở thành vụ vỡ nợ chủ quyền lớn nhất lịch sử thế giới tính đến thời điểm đó. Sự kiện này gây ra bạo loạn và khủng hoảng xã hội nghiêm trọng, đồng thời chính phủ đóng băng tài khoản ngân hàng của người dân trong sự kiện được gọi là Corralito.
Suốt hai thập niên sau đó, Argentina rơi vào một vòng lặp luẩn quẩn. Các chính phủ dân túy cánh tả lên cầm quyền thường vung tiền trợ cấp và in tiền, khiến lạm phát tăng cao, sau đó phe cánh hữu lên cải cách thắt lưng buộc bụng, dân chúng phản kháng, rồi đất nước lại quay về với chính sách dân túy. Đất nước liên tục đứng bên bờ vực vỡ nợ với tỷ lệ lạm phát hằng năm thường xuyên vượt mức một trăm đến hai trăm phần trăm và tỷ lệ nghèo đói chạm mốc bốn mươi đến năm mươi phần trăm trong nhiều giai đoạn.
Ba căn bệnh kinh tế chí mạng thường được nhắc đến để giải thích nghịch lý Argentina, một quốc gia đất rộng người thưa, tài nguyên phong phú và không bị chiến tranh tàn phá.
- Thứ nhất là chứng nghiện chi tiêu công và chủ nghĩa dân túy, khi các chính trị gia qua nhiều thế hệ thường chọn cách ban phát trợ cấp và tạo ra hàng triệu công việc trong khu vực công để đổi lấy phiếu bầu, rồi khi ngân sách cạn kiệt lại chọn giải pháp in thêm tiền thay vì cắt giảm chi tiêu hay tăng thuế.
- Thứ hai là kiểu bảo hộ ngược, khi chính phủ đánh thuế rất nặng vào xuất khẩu nông sản để lấy tiền nuôi bộ máy và trợ cấp cho các ngành công nghiệp nội địa yếu kém, khiến quốc gia mất dần nguồn thu ngoại tệ mạnh.
- Thứ ba là sự mất niềm tin hệ thống, khi tiền tệ mất giá quá nhanh và chính phủ từng đóng băng tài khoản ngân hàng của người dân, khiến người Argentina hoàn toàn mất niềm tin vào đồng Peso và hệ thống ngân hàng nội địa, tích trữ USD dưới nệm hoặc chuyển ra nước ngoài.
4. Zimbabwe: Từ vựa lúa Châu Phi đến siêu lạm phát
Sau khi giành độc lập từ tay người Anh vào năm 1980, Zimbabwe được dẫn dắt bởi Tổng thống Robert Mugabe. Trong thập niên 1980 và 1990, nền kinh tế phát triển tương đối tốt, nông nghiệp trù phú.
Quốc gia này không chỉ tự cung tự cấp lương thực cho phần lớn nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ngô, lúa mì, thuốc lá sang khu vực và châu Âu, được biết đến rộng rãi với danh hiệu "vựa lúa của châu Phi", dù một số nhà nghiên cứu nông nghiệp sau này chỉ ra rằng sản lượng ngô và lúa mì của Zimbabwe trên thực tế chưa bao giờ chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng sản lượng của toàn châu lục.
Mặc dù quốc gia giàu có, phần lớn các trang trại thương mại lớn và màu mỡ nhất, chiếm khoảng bảy mươi phần trăm đất canh tác, vẫn nằm trong tay khoảng bốn nghìn điền chủ người da trắng, hệ quả từ thời thuộc địa. Để củng cố quyền lực chính trị đang lung lay, năm 2000 Mugabe tung ra chiến dịch cải cách điền địa cấp tốc. Chính phủ cho phép tịch thu hàng triệu hecta đất của các điền chủ da trắng mà không bồi thường, đuổi họ ra khỏi trang trại để chia nhỏ đất đai cho người da đen bản địa.
Hệ quả đến ngay lập tức. Phần lớn đất đai bị tịch thu lại rơi vào tay các quan chức chính trị thân cận của Mugabe hoặc những người dân nghèo hoàn toàn không có kinh nghiệm, kỹ thuật và vốn để vận hành các trang trại thương mại quy mô lớn. Hệ thống thủy lợi bị bỏ hoang, máy móc hư hỏng.
Chỉ trong vài năm, sản lượng lương thực sụt giảm nghiêm trọng tới sáu mươi phần trăm. Từ một nước xuất khẩu gạo và ngô nuôi cả châu lục, Zimbabwe đột ngột rơi vào cảnh đói nghèo, phải ngửa tay nhận viện trợ lương thực từ Liên Hợp Quốc để cứu đói cho hàng triệu dân.
Khi nông nghiệp sụp đổ, các ngành công nghiệp phụ trợ, ngân hàng và xuất khẩu cũng phá sản theo. Nguồn thu thuế của chính phủ biến mất. Để có tiền nuôi bộ máy quân đội và trả nợ, Mugabe ra lệnh cho Ngân hàng Trung ương in tiền vô tội vạ. Kết quả là siêu lạm phát bùng nổ vượt tầm kiểm soát.
Theo các tính toán học thuật được công bố sau đó, lạm phát của Zimbabwe đạt đỉnh vào tháng 11 năm 2008 ở mức khoảng 79,6 tỷ phần trăm mỗi tháng, tương đương giá cả cứ sau khoảng một ngày lại tăng gấp đôi. Đây được xem là mức siêu lạm phát cao thứ hai trong lịch sử thế giới hiện đại, chỉ đứng sau Hungary năm 1946. Chính phủ phải in cả tờ tiền mệnh giá một trăm nghìn tỷ đô la Zimbabwe, mệnh giá tiền giấy cao nhất từng được phát hành trên thế giới, nhưng cũng không mua nổi một ổ bánh mì. Người dân hoàn toàn từ bỏ đồng tiền này, chuyển sang dùng USD của Mỹ hoặc vàng để giao dịch trên chợ đen.
Sự sụp đổ của Zimbabwe không nằm ở việc phân chia lại đất đai, vốn từng được xem là một đòi hỏi công bằng xã hội sau thời kỳ thuộc địa, mà nằm ở cách thức thực hiện nó.
- Việc tịch thu cưỡng chế không bồi thường đã làm sụp đổ hoàn toàn niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế, khiến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bốc hơi gần như ngay lập tức.
- Việc thay thế những người có năng lực và kỹ thuật vận hành máy móc nông nghiệp bằng những người trung thành về mặt chính trị nhưng thiếu kiến thức đã biến những cánh đồng trù phú thành những bãi cỏ hoang.
- Và cuối cùng, niềm tin rằng có thể giải quyết khủng hoảng ngân sách bằng cách tăng công suất của máy in tiền đã vô tình biến đồng nội tệ thành đống giấy lộn vô giá trị.
5. Những mô hình tương tự ở các khu vực khác.
Mô hình kinh tế dựa trên chủ nghĩa dân túy cánh tả, quốc hữu hóa ồ ạt và vung tiền cho phúc lợi vượt quá năng lực ngân sách đã từng được áp dụng tại nhiều nơi khác trên thế giới, với kết cục tương tự khi giá của loại tài nguyên cốt lõi sụt giảm hoặc nguồn dự trữ cạn kiệt.
Tại Sri Lanka, quốc gia từng có thu nhập trung bình cao với ngành du lịch phát triển rực rỡ và xuất khẩu trà Ceylon nổi tiếng thế giới, một chính sách dân túy mang tính áp đặt đã đẩy đất nước vào cảnh vỡ nợ năm 2022.
Năm 2019, Tổng thống Gotabaya Rajapaksa đắc cử nhờ lời hứa cắt giảm thuế cực mạnh để lấy lòng cử tri, làm mất đi đáng kể nguồn thu của chính phủ, kèm theo các chính sách trợ cấp xã hội lớn. Để tiết kiệm ngoại tệ đang cạn kiệt, tháng 4 năm 2021 chính phủ ra lệnh cấm hoàn toàn việc nhập khẩu phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, bắt buộc toàn bộ đất nước phải chuyển sang nông nghiệp hữu cơ một trăm phần trăm chỉ sau một đêm. Sản lượng lúa gạo nội địa sau đó giảm mạnh, có ước tính lên tới khoảng bốn mươi phần trăm, ngành chè xuất khẩu mũi nhọn suy thoái. Từ một nước tự chủ lương thực, Sri Lanka rơi vào cảnh thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo với giá đắt, dẫn đến làn sóng biểu tình lật đổ tổng thống vào giữa năm 2022.
Tại Bolivia, dưới thời Tổng thống cánh tả Evo Morales, đất nước đã đi theo một lộ trình gần như tương tự với người đồng minh Hugo Chávez của Venezuela nhưng ở quy mô nhỏ hơn.
Ngay khi lên nắm quyền năm 2006, Morales ra lệnh cho quân đội tiếp quản các mỏ khí đốt và dầu mỏ của các tập đoàn nước ngoài, sau đó tiếp tục quốc hữu hóa thêm ngành viễn thông vào năm 2008 và nhiều công ty điện lực trong giai đoạn 2010 đến 2012. Nhờ giá tài nguyên thời điểm đó đang cao, chính phủ có tiền tài trợ cho các chương trình giảm nghèo, trợ cấp cho người già và xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế Bolivia thời kỳ đầu tăng trưởng rất tốt.
Tuy nhiên chính phủ không tái đầu tư công nghệ cho ngành khí đốt mà dùng toàn bộ tiền cho phúc lợi và bộ máy. Khi sản lượng khai thác tự nhiên sụt giảm và giá khí đốt thế giới lao dốc, nguồn thu bốc hơi. Để duy trì trợ giá xăng dầu trong nước và giữ tỷ giá cố định, Bolivia đã đốt sạch quỹ dự trữ ngoại hối, từ mức khoảng mười lăm tỷ USD năm 2015 xuống gần như cạn kiệt những năm sau đó. Đất nước rơi vào tình trạng khan hiếm nghiêm trọng USD và nhiên liệu, người dân phải xếp hàng dài mua xăng.
Tại Zambia, khi giành độc lập vào năm 1964, đất nước này là một trong những quốc gia triển vọng nhất châu Phi nhờ sở hữu những mỏ đồng khổng lồ, từng chiếm khoảng mười hai đến mười lăm phần trăm sản lượng đồng toàn cầu vào cuối thập niên 1960.
Tổng thống Kenneth Kaunda áp dụng học thuyết "Chủ nghĩa nhân văn Zambia", gần gũi với mô hình xã hội chủ nghĩa. Chính phủ bắt đầu quốc hữu hóa các mỏ đồng từ cuối thập niên 1960, giành quyền sở hữu đa số tại hai tập đoàn khai khoáng lớn nhất nước, và đến năm 1982 hai tập đoàn này được sáp nhập thành công ty nhà nước Zambia Consolidated Copper Mines, gọi tắt là ZCCM. Cùng với quá trình quốc hữu hóa ngành mỏ, chính phủ cũng kiểm soát giá lương thực và chi tiền khổng lồ để miễn phí y tế, giáo dục cho người dân.
Các mỏ đồng sau khi thuộc về nhà nước bị quản lý yếu kém, năng suất lao động giảm mạnh, lợi nhuận bị bòn rút để nuôi các chương trình phúc lợi thay vì hiện đại hóa máy móc. Giữa thập niên 1970, giá đồng thế giới sụp đổ, nền kinh tế Zambia sụp đổ theo.
Để cứu vãn các lời hứa phúc lợi, chính phủ đi vay nợ nước ngoài chồng chất. Zambia từ một quốc gia thịnh vượng biến thành một trong những nước nghèo nhất thế giới, phải chịu các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt của Quỹ Tiền tệ Quốc tế suốt nhiều thập niên sau đó.
6. Vì sao quốc hữu hóa toàn bộ thường kém hiệu quả hơn tư nhân hóa?
Trong lịch sử kinh tế hiện đại, việc quốc hữu hóa toàn bộ một ngành công nghiệp hoặc toàn bộ nền kinh tế hầu như luôn mang lại hiệu quả kém hơn so với tư nhân hóa hoặc mô hình kinh tế thị trường cạnh tranh. Đây không phải là một nhận định mang tính định kiến chính trị, mà là một thực tế thường được giải thích bằng quy luật vận hành của dòng tiền và động lực con người.
Nguyên nhân đầu tiên nằm ở vấn đề thiếu động lực tự thân.
- Ở khối tư nhân, chủ doanh nghiệp bỏ vốn của mình ra, nếu công ty làm ăn thua lỗ họ phá sản, nếu có lãi họ giàu lên. Động lực sinh tồn đó buộc họ phải cắt giảm chi phí thừa thãi, tìm mọi cách cải tiến công nghệ và phục vụ khách hàng tốt nhất.
- Ở khối quốc hữu hóa, người quản lý mỏ dầu, nhà máy hay ngân hàng nhà nước thực chất là một công chức làm thuê. Nếu doanh nghiệp lỗ, ngân sách nhà nước sẽ bù vào, họ không bị mất tài sản cá nhân. Khi không có áp lực phá sản và không có phần thưởng tương xứng với rủi ro, người ta thường chọn giải pháp an toàn nhất và ít sáng tạo nhất.
Nguyên nhân thứ hai là khi một lĩnh vực bị quốc hữu hóa toàn bộ, nó không còn vận hành theo quy luật thị trường nữa mà vận hành theo mục tiêu chính trị của chính phủ tại vị. Ghế lãnh đạo trong các tập đoàn quốc hữu hóa thường biến thành phần thưởng cho các mối quan hệ chính trị hoặc người trung thành, thay vì trao cho các chuyên gia kinh tế có năng lực thực sự, như trường hợp tập đoàn dầu mỏ PDVSA của Venezuela hay các mỏ đồng của Zambia. Để giảm tỷ lệ thất nghiệp nhằm lấy lòng dân, chính phủ thường ép các doanh nghiệp nhà nước phải tuyển dụng thừa thãi nhân sự, khiến bộ máy cồng kềnh nuốt chửng mọi lợi nhuận tạo ra. Chính phủ cũng thường bắt các doanh nghiệp quốc hữu hóa bán sản phẩm dưới giá thành sản xuất để trợ cấp cho dân, khiến doanh nghiệp không có dòng tiền để tái đầu tư và bảo trì máy móc, dẫn đến hạ tầng xuống cấp.
Nguyên nhân thứ ba là khi nhà nước độc quyền toàn bộ, sự cạnh tranh biến mất, người tiêu dùng không có quyền lựa chọn, dẫn đến chất lượng dịch vụ tồi tệ. Nhà kinh tế học đạt giải Nobel Friedrich Hayek từng lập luận trong các công trình của ông về vấn đề tri thức phân tán, rằng tri thức cần thiết để hoạch định kinh tế hợp lý nằm rải rác trong tay hàng triệu cá nhân riêng lẻ, và không một cơ quan trung ương nào, dù được trao đầy đủ thông tin, có thể tổng hợp và xử lý lượng tri thức đó hiệu quả bằng chính cơ chế giá cả của thị trường tự do. Khi nhà nước áp đặt giá, kết quả thường dẫn đến hai kịch bản trái ngược nhau, hoặc là sản xuất thừa thãi những thứ không ai cần, hoặc là khan hiếm trầm trọng những thứ thiết yếu.
Quốc hữu hóa chỉ có hiệu quả tạm thời hoặc cục bộ trong các ngành độc quyền tự nhiên, như hạ tầng cốt lõi gồm lưới điện quốc gia hay mạng lưới đường ray xe lửa, vì các ngành này đòi hỏi vốn khổng lồ và không thể có nhiều công ty cùng cạnh tranh trên cùng một hạ tầng vật lý. Từ những năm 1980 trở đi, làn sóng tư nhân hóa đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, điển hình là cuộc cải cách của Thủ tướng Margaret Thatcher tại Anh. Ngay cả các quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới năm 1986 hay Trung Quốc với cải cách mở cửa năm 1978 cũng đã chuyển dịch sang mô hình kinh tế nhiều thành phần, cho phép tư nhân phát triển mạnh mẽ.
7. Những quốc gia quốc hữu hóa nhưng vẫn giàu có.
Vẫn có những quốc gia thực hiện quốc hữu hóa trên diện rộng đối với các ngành công nghiệp cốt lõi nhưng vẫn cực kỳ giàu có, ổn định và có chỉ số phát triển con người thuộc hàng cao nhất thế giới. Những ví dụ nổi bật nhất là Na Uy ở châu Âu và Singapore ở châu Á. Ngoài ra còn có các quốc gia vùng Vịnh như Ả Rập Xê Út hay UAE, giàu có về mặt tài chính nhờ dầu mỏ quốc hữu hóa dù cấu trúc xã hội khác biệt. Điểm khác biệt giữa các quốc gia này với những trường hợp thất bại không nằm ở việc ai sở hữu tài sản, mà nằm ở thể chế quản trị và tư duy vận hành.
Nguyên tắc cốt lõi đầu tiên là vốn nhà nước nhưng quản trị tư nhân. Các tập đoàn quốc hữu hóa thành công không được vận hành như một bộ chuyên môn của chính phủ, mà vận hành chính xác như một công ty tư nhân trên sàn chứng khoán.
Tại Na Uy, tập đoàn năng lượng Equinor có khoảng sáu mươi bảy phần trăm cổ phần thuộc sở hữu của nhà nước, nhưng luật pháp quy định chính phủ không được can thiệp vào các quyết định thương mại hàng ngày của công ty, và Equinor phải cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn dầu mỏ tư nhân toàn cầu như Shell hay ExxonMobil.
Tại Singapore, tập đoàn đầu tư nhà nước Temasek Holdings nắm cổ phần chi phối tại một số doanh nghiệp cốt lõi như Singapore Airlines và Singtel, đồng thời là cổ đông lớn nhất dù không nắm đa số tuyệt đối tại nhiều doanh nghiệp khác như ngân hàng DBS, nhưng trong mọi trường hợp Temasek đều hoạt động như một quỹ đầu tư thương mại khắc nghiệt, đòi hỏi các công ty trong danh mục phải có lãi.
Nguyên tắc thứ hai là cách ly dòng tiền tài nguyên khỏi ngân sách chi tiêu hằng ngày thông qua một quỹ chủ quyền.
Na Uy thành lập Quỹ hưu bổng chính phủ toàn cầu, còn gọi là Quỹ dầu mỏ, vào năm 1990. Toàn bộ tiền thuế và lợi nhuận từ dầu mỏ quốc hữu hóa không được đổ vào chi tiêu công hàng ngày, mà được chuyển thẳng vào quỹ này để đầu tư cổ phiếu, trái phiếu và bất động sản trên toàn thế giới. Tính đến giữa năm 2026, quỹ này đã đạt giá trị hơn hai nghìn tỷ USD, trở thành quỹ chủ quyền lớn nhất thế giới.
Theo quy tắc tài khóa được Quốc hội Na Uy thông qua, chính phủ mỗi năm chỉ được phép rút tối đa khoảng ba phần trăm tổng giá trị của quỹ để bù đắp ngân sách, tương ứng với mức lợi suất thực kỳ vọng dài hạn của quỹ. Điều này giúp Na Uy gần như triệt tiêu hoàn toàn căn bệnh Hà Lan, vì khi giá dầu thế giới sụp đổ như năm 2014 hay 2020, nền kinh tế Na Uy và các chương trình phúc lợi của họ không bị ảnh hưởng nhiều, do họ sống bằng tiền lời đầu tư toàn cầu chứ không sống bằng tiền bán dầu thô mỗi ngày như Venezuela.
Nguyên tắc thứ ba là chế độ đãi ngộ nhân tài đè bẹp quan hệ chính trị. Ở các nước nghèo đi vì quốc hữu hóa, ghế lãnh đạo tập đoàn thường là phần thưởng chính trị. Singapore nổi tiếng với chính sách trả lương cho các bộ trưởng và lãnh đạo tập đoàn nhà nước tương đương, thậm chí cao hơn khối tư nhân, giúp thu hút được những người có năng lực kinh doanh xuất sắc về làm việc cho nhà nước, đồng thời giảm thiểu động cơ tham nhũng. Nếu làm kém, họ bị sa thải ngay lập tức bất kể có quan hệ chính trị thế nào.
Nguyên tắc thứ tư là hệ thống pháp quyền và kiểm soát tham nhũng. Quốc hữu hóa gom một lượng tài sản khổng lồ vào tay nhà nước, và nếu không có một hệ thống pháp luật minh bạch cùng các cơ quan giám sát độc lập, chiếc giỏ tài sản đó dễ trở thành miếng mồi cho tham nhũng.
Na Uy và Singapore liên tục đứng đầu thế giới về chỉ số nhận thức tham nhũng và tính minh bạch. Mọi khoản thu chi của các tập đoàn nhà nước đều được kiểm toán độc lập và công khai cho toàn dân giám sát.
Theo các nghiên cứu kinh tế chính trị so sánh giữa hai nhóm quốc gia này, điểm khác biệt cốt lõi không nằm ở việc ai sở hữu tài sản mà nằm ở thể chế vận hành.
Trong trường hợp Venezuela, Zimbabwe hay Zambia, quốc hữu hóa được dùng để phục vụ mục tiêu chính trị ngắn hạn và trợ cấp lấy lòng cử tri, với lãnh đạo doanh nghiệp là người trung thành chính trị và nguồn thu bị chi tiêu trực tiếp vào ngân sách vượt quá năng lực.
Trong trường hợp Na Uy hay Singapore, quốc hữu hóa nhằm tối đa hóa lợi nhuận thương mại và phát triển bền vững dài hạn, với lãnh đạo là các chuyên gia được tuyển dụng cạnh tranh và nguồn thu được gửi vào quỹ chủ quyền để tái đầu tư ra thế giới thay vì tiêu dùng ngay lập tức.
Ảnh: Cánh đồng nông nghiệp trù phú khi Zimbabwe là “giỏ bánh mì” của châu Phi, tự cung tự cấp và xuất khẩu ngô, lúa mì, thuốc lá

