• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Từ người chống áp bức đến kẻ áp bức mới

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,452
Reaction score
0
Points
36
Từ người chống áp bức đến kẻ áp bức mới

1. Định nghĩa hiện tượng

Nhà tâm lý học Anna Freud đưa ra khái niệm đồng hóa với kẻ tấn công:
- Khi đối mặt với một mối đe dọa hoặc sự áp bức kéo dài, nạn nhân hoặc người đấu tranh có xu hướng vô thức tiếp thu phương pháp, thái độ hoặc hành vi của chính kẻ áp bức để cảm thấy bớt yếu thế và có quyền lực hơn.

Trong tâm lý học chính trị, khi một nhóm đấu tranh chống lại một chính quyền độc tài hoặc tổ chức bất chính, họ thường rơi vào bẫy mục đích bao biện cho phương tiện.

Để đánh bại một đối thủ không từ thủ đoạn, người đấu tranh dễ chấp nhận sử dụng chính những thủ đoạn phi đạo đức đó như dối trá, bạo lực, thao túng, phi nhân hóa đối thủ. Khi giành chiến thắng, họ vô tình xây dựng nên một hệ thống mang đúng những đặc tính tàn bạo mà họ từng căm ghét.

Nhà tâm lý học Albert Bandura, qua nghiên cứu về sự rời bỏ đạo đức, chỉ ra rằng khi đấu tranh chống lại cái xấu, việc gán cho đối phương nhãn mác ác quỷ hay kẻ thù tuyệt đối giúp thúc đẩy động lực đấu tranh nhưng đồng thời dẫn đến phi nhân hóa.

Khi không còn xem đối phương là con người, người đấu tranh tự cấp phép cho mình vi phạm các chuẩn mực đạo đức cơ bản đối với kẻ thù. Quá trình này làm xói mòn sự thấu cảm, khiến họ trở nên tàn nhẫn, cuồng tín, và dễ lan truyền sự tàn nhẫn đó sang cả những người bất đồng ý kiến trong chính phe mình.

Các nhóm đấu tranh chống áp bức thường có xu hướng đóng kín để bảo vệ bí mật và sự an toàn. Trong môi trường cô lập đó, áp lực tuân thủ gia tăng cực hạn, bất kỳ ý kiến phản biện nội bộ hay thái độ ôn hòa nào cũng dễ bị coi là phản bội hoặc yếu mềm.

Điều này đẩy nhóm đấu tranh từ tinh thần lý tưởng ban đầu chuyển sang tư duy trắng đen phân minh, không chấp nhận sự khác biệt và sẵn sàng trừng phạt chính đồng minh của mình.

Việc thường xuyên tiếp xúc với bất công, bạo lực hoặc đàn áp khiến người đấu tranh bị tổn thương tâm lý nặng nề, đôi khi đạt mức rối loạn căng thẳng sau sang chấn, còn giới nghiên cứu về hoạt động xã hội gọi hiện tượng suy kiệt do tiếp xúc kéo dài này là kiệt sức của nhà hoạt động.

Khi chấn thương này không được xử lý lành mạnh, nó thường biến chuyển thành hoài nghi tiêu cực, giận dữ mãn tính và trạng thái nghi kỵ quá mức. Người mang chấn thương dạng này mất niềm tin vào toàn bộ xã hội, kể cả những điều tốt đẹp, và dễ trở nên cay nghiệt, bạo lực trong cả quan hệ cá nhân lẫn cộng đồng.

Giới nghiên cứu nhận định sự biến chất này không phải điều tất yếu, nhưng là một nguy cơ rất cao, bắt nguồn từ chính các cơ chế phòng vệ tâm lý, áp lực nhóm và chấn thương tinh thần vừa nêu.

Hiện tượng này đã được đúc kết từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Trong tác phẩm Bên kia thiện ác, triết gia Friedrich Nietzsche viết:
"Kẻ nào chiến đấu với quái vật nên cẩn thận kẻo chính mình biến thành quái vật. Và nếu nhìn quá lâu vào một vực sâu, vực sâu cũng sẽ nhìn lại mình."

Lịch sử cung cấp nhiều minh chứng thực tế cho nhận định này. Nhiều cuộc cách mạng bắt đầu bằng lý tưởng tự do, bình đẳng, chống lại độc tài, nhưng sau khi nắm quyền lại trở thành những chế độ độc tài còn tàn bạo hơn chế độ cũ, như trường hợp giai đoạn Khủng bố trong Cách mạng Pháp những năm 1793 và 1794.

2. Từ mật thám Sa Hoàng đến CHEKA - Trường hợp Liên Xô

Sự chuyển hóa của cách mạng Nga từ phong trào chống Sa hoàng thành chế độ Xô Viết là ví dụ kinh điển thường được các nhà nghiên cứu lịch sử và chính trị học như Hannah Arendt, Crane Brinton và Karl Popper phân tích khi bàn về hiện tượng biến chất của cách mạng.

Đảng Bolshevik, cùng với các dòng cách mạng khác như Menshevik và Xã hội Cách mạng, dành hàng thập kỷ hoạt động bí mật để đối phó với Okhrana, cơ quan mật thám của Sa hoàng.

Để sống sót và đánh bại một bộ máy mật thám tàn bạo, phong trào cách mạng Nga nói chung buộc phải xây dựng mạng lưới tổ chức bí mật, kỷ luật chặt chẽ, dày dạn kinh nghiệm qua lưu đày và lưu vong.

Khi nắm quyền, thay vì xóa bỏ các công cụ kiểm soát đó, chính quyền Bolshevik đã tiếp thu và phát triển chúng lên một tầm cao mới. Cơ quan Cheka, thành lập cuối năm 1917 và là tiền thân của NKVD rồi sau này là KGB, ra đời từ sự kết hợp giữa kinh nghiệm tổ chức bí mật đó, bối cảnh nội chiến, và học thuyết chuyên chính vô sản, được trang bị công nghệ và lý thuyết tổ chức tinh vi hơn nhiều so với Okhrana.

Chế độ Sa hoàng cai trị dựa trên quyền lực truyền thống mang bản chất độc tài phong kiến tàn bạo trực diện. Chế độ mới sinh ra từ lý tưởng xóa bỏ hoàn toàn áp bức và xây dựng một xã hội hoàn hảo.

Khi một nhóm tự cho mình nắm giữ sứ mệnh lịch sử cứu rỗi, họ dễ coi bất kỳ ai chống lại mình không chỉ là đối thủ chính trị mà còn là kẻ thù của tiến bộ, kẻ cản trở tương lai nhân loại. Chính lý tưởng tuyệt đối này tạo ra tính chính danh đạo đức để áp dụng các biện pháp trấn áp trên quy mô và mức độ tinh vi mà chế độ Sa hoàng cũ chưa từng làm được.

Nhiều lãnh đạo cách mạng ban đầu, trong đó có Lenin và Stalin, từng là nạn nhân của nhà tù, lưu đày Sibir hoặc bị truy nã dưới chế độ Sa hoàng. Khi những người mang chấn thương tâm lý sâu sắc do bị đàn áp nắm giữ quyền lực tuyệt đối, họ có xu hướng hành xử với sự nghi kỵ cực độ, nhìn đâu cũng thấy âm mưu lật đổ và phản bội, dẫn đến việc ưu tiên bạo lực phòng ngừa thay vì xoa dịu.

Nhà xã hội học Robert Michels đưa ra quy luật sắt của tập đoàn trị, theo đó bất kỳ tổ chức nào, dù ban đầu mang lý tưởng dân chủ hay bình đẳng, khi phát triển đến một quy mô nhất định cũng bị thâu tóm bởi một nhóm tinh hoa nhỏ cai trị.

Trong trường hợp Nga, mô hình tập trung dân chủ, trong bối cảnh nội chiến và bao vây cấm vận, nhanh chóng biến thành tập trung tuyệt đối, hình thành tầng lớp quan liêu Nomenklatura thay thế cho tầng lớp quý tộc Sa hoàng cũ. Phương tiện được đảng Bolshevik sử dụng để giành và giữ quyền lực, hơn là mục đích ban đầu của họ, đã định hình nên bản chất của chế độ mới.

3. Từ đấu tranh giai cấp đến chính trị danh tính

Hiện tượng tương tự được giới nghiên cứu ghi nhận ở các phong trào cánh tả mới, hậu Marx-xít và các phong trào đấu tranh vì công lý xã hội đương đại.

Từ việc đấu tranh chống lại thực dân, phát xít và phân biệt chủng tộc trong quá khứ, một bộ phận các phong trào này đã biến chuyển thành cái mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là Cực đoan Cánh tả, tiếng Anh là Left-Wing Extremism, hoặc chủ nghĩa cánh tả văn hóa độc đoán, tiếng Anh là Authoritarian Cultural Left.

Sau khi mô hình kinh tế Marx-xít truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế trong thế kỷ hai mươi, các lý thuyết gia trường phái Frankfurt, trong đó có Herbert Marcuse, cùng các triết gia hậu hiện đại đã chuyển trọng tâm đấu tranh từ kinh tế và giai cấp sang văn hóa và danh tính, bao gồm chủng tộc, giới tính và xu hướng tính dục.

Lý thuyết giải cấu trúc và lý thuyết cấu trúc xã hội mô tả xã hội như một mạng lưới quan hệ giữa kẻ áp bức và người bị áp bức, vô tình chia xã hội thành hai phe theo lối nhị phân tuyệt đối. Khi một nhóm tự nhận đại diện cho người bị áp bức, họ nghiễm nhiên coi mình nắm giữ độc quyền đạo đức, từ đó dễ bao biện cho các hành vi tấn công hoặc trừng phạt kẻ bị coi là áp bức nhân danh công bằng.

Một bộ phận phong trào đã dùng áp lực xã hội để gạt bỏ, cô lập hoặc sa thải những người có ý kiến trái chiều, kể cả những ý kiến tranh luận khoa học ôn hòa, dưới danh nghĩa chống lại tư tưởng bị coi là thực dân, phát xít hoặc phân biệt đối xử.

Năm 2021, một nhóm nhà tâm lý học tại Đại học Emory do Thomas Costello dẫn đầu công bố nghiên cứu xác nhận sự tồn tại của chủ nghĩa độc đoán cánh tả. Nghiên cứu cho thấy nhóm này mang các đặc trưng tương đồng với cực đoan cánh hữu, gồm ưu tiên sự đồng nhất xã hội, định kiến với người khác biệt, sẵn sàng dùng quyền lực nhóm để cưỡng ép hành vi, tư duy cứng nhắc, gây hấn và trừng phạt kẻ bị coi là kẻ thù, cùng chủ nghĩa tuyệt đối đạo đức.

Trong luận văn Repressive Tolerance năm 1965, triết gia Herbert Marcuse lập luận rằng để tạo ra một xã hội bình đẳng, không thể bao dung với những ý tưởng bất bình đẳng. Từ đó ông biện hộ rằng bạo lực hoặc sự đàn áp ngôn luận từ phía kẻ bị áp bức chống lại kẻ áp bức là bạo lực giải phóng, mang tính đạo đức. Đây là một trong những cơ sở lý luận khiến các nhóm như Antifa hay một số nhánh cực đoan khác sẵn sàng sử dụng bạo lực đường phố, đập phá tài sản hoặc tấn công cá nhân trong khi vẫn tin rằng mình đang làm việc nghĩa.

Trong cuốn sách Sự trỗi dậy của văn hóa nạn nhân, hai nhà xã hội học Bradley Campbell và Jason Manning mô tả sự chuyển dịch chuẩn mực xã hội từ văn hóa danh dự sang văn hóa tự trọng rồi đến văn hóa nạn nhân, trong đó địa vị đạo đức cao nhất thuộc về những ai chịu nhiều tổn thương hoặc áp bức nhất.

Điều này tạo ra một cuộc đua ai bị áp bức hơn. Khi sự tổn thương trở thành vốn để tích lũy quyền lực đạo đức, người ta có xu hướng nhạy cảm quá mức, nhìn đâu cũng thấy sự tấn công dưới dạng những vi xâm phạm, và dùng điều đó làm vũ khí để tấn công người khác.

Cơ chế này thường vận hành cùng khái niệm tính giao thoa của nhà nghiên cứu Kimberlé Crenshaw, vốn dùng để chỉ việc một người có thể đồng thời hứng chịu nhiều dạng áp bức chồng lấp nhau như chủng tộc, giới tính và giai cấp, nhưng trong thực tế bị một số người vận dụng theo hướng cộng dồn thân phận bị áp bức để tranh giành vị thế đạo đức.

Trong thập niên 1960, cánh tả khởi xướng Phong trào Tự do Ngôn luận, đấu tranh quyết liệt để chống lại sự kiểm duyệt của chính quyền bảo thủ. Khi đã chiếm ưu thế trong các không gian học thuật, truyền thông và văn hóa phương Tây, một bộ phận cánh tả lại trở thành lực lượng chính đòi kiểm duyệt, dán nhãn ngôn từ kích động thù hận để dập tắt các cuộc tranh luận.

Ảnh - Stalin - Từ một người bị mật vụ Sa hoàng truy nã, sau này trở thành người phát động các cuộc Đại Thanh trừng khi nắm quyền.
Buddy Up - Văn hóa xã hội
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom