• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Vì sao Đại Việt không vươn sang Lào?

Tài liệu 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,329
Reaction score
0
Points
36
Vì sao Đại Việt không vươn sang Lào?

Nhìn trên bản đồ, nhiều người có cảm giác Xiêm từng vươn được sang tận Lào thì Việt Nam cũng phải làm được điều tương tự, nhưng giữa hai trường hợp có một khác biệt địa lý rất lớn.

Đối với Xiêm, việc mở rộng lên Lào tương đối thuận lợi vì đồng bằng sông Chao Phraya nối tiếp lên cao nguyên Khorat, rồi cao nguyên Khorat lại nối tiếp sang lưu vực Mekong. Không có một bức tường núi lớn nào chắn ngang, nên Xiêm gần như mở rộng trên một hành lang lục địa liên tục. Trong khi đó Việt Nam muốn sang Lào lại phải vượt dãy Trường Sơn.

Cần lưu ý đây là một xu hướng địa lý chung xuyên suốt nhiều thời kỳ của Xiêm, từ Ayutthaya, Thonburi cho đến Rattanakosin, chứ không có nghĩa là Xiêm luôn thắng dễ dàng về mọi mặt trong từng chiến dịch cụ thể, vì chính trị nội bộ, dịch bệnh và mùa vụ vẫn ảnh hưởng lớn đến kết quả quân sự thực tế.

Nhìn ở tầm xa hơn, Xiêm từ rất sớm đã hướng về nội lục Đông Nam Á, xoay quanh lưu vực Chao Phraya, cao nguyên Khorat và Mekong. Trong khi đó Đại Việt rồi Đại Nam lại hướng ra Biển Đông, với toàn bộ hệ thống kinh tế xoay quanh các đồng bằng ven biển, giao thông ven biển và các cảng. Do đó Lào gần như là hậu phương tự nhiên của Xiêm, còn đối với Việt Nam, Lào nằm sau một bức tường địa hình rất lớn.

Trên thực tế đã có một số tuyến đường mòn tương ứng với các đèo ngày nay nối duyên hải miền Trung với đất Lào, dù đây là các hành lang được nhận diện qua địa hình các đèo hiện đại hơn là những tuyến đã được xác nhận đầy đủ bằng tư liệu khảo cổ hay hành chính cụ thể của thời trung đại.
- Quảng Bình nối với Khammouane.
- Quảng Trị nối với Savannakhet.
- Thừa Thiên nối với Salavan.
- Quảng Nam nối với Sekong.
- Quảng Ngãi nối với Attapeu.
- Bình Định qua Gia Lai cũng có thể tới Attapeu.
Đây đều là những hành lang tự nhiên có thật, chỉ có điều chúng không đủ tốt để trở thành trục giao thông quốc gia trong thời tiền hiện đại.

Có thể hình dung sự khác biệt về chi phí qua việc vận chuyển một nghìn tấn gạo. Theo đường ven biển, người ta chỉ cần chất hàng lên thuyền, đi vài trăm km rồi dỡ hàng, với rất ít nhân lực. Qua Trường Sơn thì khác hẳn, phải huy động hàng nghìn con ngựa và hàng vạn dân phu, mất hàng tháng trời để vượt đèo, rừng và suối. Chi phí theo đường núi vì thế cao hơn rất nhiều so với đường biển. Đây là một phép tính minh họa để hình dung mức chênh lệch chi phí giữa hai loại địa hình, không phải số liệu đo đạc từ một nghiên cứu logistics cụ thể của thời kỳ đó.

Giai đoạn 1826 đến 1828 cho thấy rõ việc Xiêm áp đặt quyền lực lên Lào không hề tự động hay dễ dàng. Vua Anouvong của Vientiane khởi binh chống lại quyền bá chủ của Xiêm, đưa quân tiến sâu qua cao nguyên Khorat tới tận Saraburi, chỉ cách kinh đô Bangkok của Xiêm ba ngày đường. Xiêm phải phản công với lực lượng vượt trội, cuối cùng đánh bại quân Lào và phá hủy gần như toàn bộ thành Vientiane. Anouvong chạy sang Nghệ An và được vua Minh Mạng che chở, sau đó Minh Mạng cử ông trở lại Vientiane để đàm phán với Xiêm, nhưng việc đàm phán thất bại và Anouvong cuối cùng bị bắt, giải về Bangkok rồi qua đời năm 1829.

Sự kiện này vừa cho thấy quyền lực của Xiêm ở Lào phải giành được bằng một cuộc chiến thực sự chứ không phải một sự áp đặt tự nhiên, vừa cho thấy Đại Nam đã từng có quan hệ và ảnh hưởng đáng kể với Vientiane trước khi vương quốc này sụp đổ.

Sau khi cuộc nổi dậy của Anouvong thất bại, Chao Noi, thủ lĩnh vùng Muang Phuan và vốn là chư hầu của Minh Mạng, đã phản bội và giao nộp Anouvong cho Xiêm. Khi việc này bị phát hiện, triều Nguyễn bắt Chao Noi giải về Huế và xử tử, sau đó sáp nhập Muang Phuan vào lãnh thổ Đại Nam năm 1832 với tên gọi phủ Trấn Ninh.

Cùng thời gian này, một số vùng đất Lào khác cũng được ghi vào bản đồ hành chính Đại Nam dưới dạng châu, phủ trực thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và Quảng Trị. Tuy nhiên đến năm 1834, liên quân Xiêm và Luang Prabang đã đánh bại đồn binh Việt Nam đóng tại Xiengkhuang, cho thấy dù được sáp nhập trên danh nghĩa, khả năng duy trì lực lượng quân sự thường trực của Đại Nam ở khu vực này vẫn thua kém Xiêm rõ rệt.

Đây chính là minh chứng cụ thể cho việc mỗi khi chiến tranh xảy ra, tiếp tế từ Huế sang Lào khó khăn hơn nhiều so với việc Xiêm tiếp tế từ Bangkok.

Đây là một giả định phản thực tế nhằm làm rõ vai trò của hạ tầng giao thông, không phải một khả năng đã từng gần xảy ra trong lịch sử. Nếu thời Nguyễn từng có một con đường rộng và bằng phẳng nối Huế với Savannakhet, hoặc Đà Nẵng với Sekong, đi lại được quanh năm bằng xe ngựa, thì cán cân quyền lực ở Lào có lẽ đã khác đi rất nhiều. Khi đó Đại Nam có thể đưa quân sang nhanh hơn, thu thuế dễ hơn, di dân sang nhiều hơn và gắn vùng đông Lào chặt chẽ hơn với duyên hải miền Trung.

Dù vậy, việc xây dựng và duy trì một con đường như thế vẫn phải đối mặt với dịch bệnh vùng rừng núi, khả năng phản kháng của các nhóm dân bản địa, chi phí xây dựng rất lớn và nguồn lực tài chính có hạn của triều đình. Nếu một triều đại Việt từ rất sớm, chẳng hạn thế kỷ mười lăm hoặc mười sáu, đầu tư mạnh vào các hành lang xuyên Trường Sơn và lập đô thị, đồn điền ở đông Lào, thì hoàn toàn có khả năng vùng này sẽ dần gắn kết với Đại Nam.

Lịch sử đã không đi theo hướng đó, phần lớn vì chi phí hậu cần quá cao so với lợi ích trong điều kiện kỹ thuật thời bấy giờ, chứ không phải vì không tồn tại các tuyến đường tự nhiên qua núi.

1. So sánh với các cuộc xâm lược từ Trung Quốc
Trung Quốc cũng từng gặp trở ngại hậu cần đáng kể khi tiến xuống Việt Nam, và đây là một trong những lý do quan trọng khiến Việt Nam nhiều lần giữ được độc lập.

Tuy nhiên có một điểm khác biệt quan trọng, đó là đường từ Hoa Nam xuống đồng bằng Bắc Bộ dễ đi hơn đáng kể so với đường từ duyên hải miền Trung sang Lào. Quân Trung Quốc trong các cuộc xâm lược lớn không đi qua Hoàng Liên Sơn hay các dãy núi cao nhất, mà theo những hành lang tự nhiên như từ Quảng Tây qua Lạng Sơn, Bắc Giang xuống đồng bằng sông Hồng, từ Quảng Tây tới Cao Bằng, hoặc từ Vân Nam theo thung lũng sông Hồng xuống Lào Cai và Yên Bái.

Đây đều là những cửa ngõ tự nhiên nối Hoa Nam với Bắc Bộ, dù các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ, quân Minh và quân Thanh khác nhau khá nhiều về bối cảnh chính trị, công nghệ quân sự và mục tiêu chiến lược.

Ngay cả với những hành lang thuận lợi này, khó khăn hậu cần vẫn rất lớn. Quân Mông Cổ khi xâm lược Đại Việt nhiều lần rơi vào khủng hoảng hậu cần, thiếu lương thực và bệnh tật.
- Nhà Minh trong cuộc chiến với nhà Hồ chiếm được Đại Việt nhưng phải duy trì lực lượng rất lớn để cai trị, và cuối cùng đối mặt với khởi nghĩa của Lê Lợi.
- Trong cuộc chiến Thanh - Tây Sơn diễn ra từ năm 1788 đến 1789, quân Thanh dưới quyền Tôn Sĩ Nghị tiến khá nhanh vào Thăng Long nhưng cũng ở rất xa hậu phương, và cuối cùng bị Nguyễn Huệ đánh bại trong trận Ngọc Hồi Đống Đa vào đầu năm 1789.

Có ba lý do chính giải thích vì sao Trung Quốc vẫn tiến xuống được dù gặp khó khăn.
- Thứ nhất là khoảng cách ngắn hơn nhiều, khu vực biên giới Quảng Tây quanh cửa khẩu Hữu Nghị chỉ cách Hà Nội khoảng một trăm năm mươi đến một trăm bảy mươi km, trong khi Huế cách Savannakhet theo đường chim bay cũng đã hơn ba trăm km và toàn bộ quãng đường đó phải liên tục vượt núi cao, rừng rậm.
- Thứ hai là Hoa Nam rất đông dân, các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Vân Nam có thể huy động quân, dân phu và lương thực với quy mô lớn, đó là lợi thế mà Đại Việt không có khi muốn tiến sang Lào.
- Thứ ba là sau khi vượt biên giới, quân Trung Quốc tiến ngay vào vùng đồng bằng Bắc Bộ đông dân, giàu lúa gạo và có thể thu thuế, trưng lương ngay lập tức, trong khi nếu Đại Việt vượt Trường Sơn sang đông Lào thì sau khi qua núi vẫn chủ yếu gặp rừng, cao nguyên và dân cư thưa thớt, nên lợi ích kinh tế trước mắt nhỏ hơn nhiều.

Con đường đủ tốt để xâm lược không có nghĩa là đủ tốt để cai trị lâu dài. Để cai trị hàng thế kỷ cần tiếp tế thường xuyên, luân chuyển quan lại, đàn áp nổi dậy và thu thuế hiệu quả. Khoảng cách từ trung tâm quyền lực Trung Hoa đến Bắc Bộ vẫn rất lớn, trong khi địa hình, khí hậu và sức kháng cự của cư dân địa phương khiến chi phí cai trị trở nên rất cao.

Tóm lại cả hai phía đều chịu ràng buộc bởi địa lý. Đại Việt khó mở rộng mạnh sang lưu vực Mekong vì Trường Sơn là rào cản lớn, trong khi các triều đại Trung Quốc cũng gặp khó khi tiến xuống và đặc biệt là khi duy trì quyền cai trị ở Việt Nam.

Điểm khác biệt là giữa Hoa Nam và Bắc Bộ tồn tại các hành lang tự nhiên tương đối thuận lợi như Lạng Sơn, Cao Bằng hay thung lũng sông Hồng, còn giữa duyên hải miền Trung và lưu vực Mekong thì rào cản Trường Sơn liên tục và khắc nghiệt hơn nhiều. Điều đó khiến hướng bắc nam ở phía bắc thông thoáng hơn đáng kể so với hướng đông tây qua Trường Sơn, và nguyên nhân chính nằm ở chỗ địa lý tạo ra chi phí mở rộng rất khác nhau giữa hai hướng.

2. Vì sao người Việt mở rộng hướng Nam mạnh hơn hướng Tây?
Người Việt cổ sống ở đồng bằng sông Hồng, và khi mở rộng xuống phía nam họ gần như đi dọc theo các đồng bằng ven biển, các cửa sông và những vùng trồng lúa nước tương tự quê gốc. Chuỗi mở rộng đi từ đồng bằng sông Hồng qua Thanh Nghệ, đồng bằng Quảng Bình, đồng bằng Quảng Trị, đồng bằng Huế, đồng bằng Quảng Nam, đồng bằng Bình Định, đồng bằng Phú Yên, đồng bằng Khánh Hòa rồi tới Nam Bộ. Đây là sự mở rộng từ một vùng sinh thái quen thuộc sang các vùng sinh thái khá giống nhau.

Nhìn trên bản đồ thấy không xa, nhưng trong thời tiền hiện đại, núi cao, rừng rậm, sốt rét, dân cư thưa thớt và khó vận chuyển lương thực khiến việc kiểm soát một trăm km xuyên Trường Sơn đôi khi khó hơn kiểm soát năm trăm km dọc ven biển. Đây cũng là lý do đến tận thế kỷ hai mươi nhiều vùng Tây Nguyên vẫn rất thưa dân.

Khi người Việt tiến xuống phía nam, họ gặp vương quốc Champa rồi đồng bằng Mekong, những vùng đông dân hơn, giàu hơn, nhiều ruộng lúa và nhiều cảng biển hơn. Trong khi đó phía tây Trường Sơn dân cư thưa thớt, nông nghiệp kém phát triển và không có những đồng bằng lớn tương đương. Về mặt kinh tế, đất phía nam hấp dẫn hơn rất nhiều so với phía tây.

Trước thế kỷ hai mươi, đi thuyền ven biển thường dễ dàng hơn đi xuyên núi. Từ Thanh Hóa vào Quảng Nam bằng thuyền đôi khi nhanh hơn đi bộ qua Trường Sơn dù quãng đường trên bộ ngắn hơn vài trăm km. Vì vậy việc mở rộng dọc bờ biển trên thực tế rẻ hơn nhiều so với mở rộng vào nội địa.

Phía tây có Lan Xang, các tiểu quốc Lào và sau này là Xiêm, những nhà nước tuy dân số ít hơn Đại Việt nhưng vẫn đủ sức kháng cự. Trong khi đó Champa từ thế kỷ mười lăm trở đi suy yếu nghiêm trọng. Do đó hướng nam vừa giàu có vừa tương đối dễ chinh phục hơn so với hướng tây.

Người Việt truyền thống thích định cư ở đồng bằng, sống bằng lúa nước và có mật độ dân số cao. Khi mở rộng họ có xu hướng tìm tới châu thổ, đồng bằng và thung lũng rộng, không có truyền thống đế quốc sơn địa như đế chế Inca hay các đế chế du mục Trung Á. Vì vậy bản năng mở rộng tự nhiên của họ là đi tới những nơi có thể tái tạo mô hình đồng bằng lúa nước.

Trên thực tế nhà Nguyễn vẫn có mở rộng theo hướng đông tây, đã sáp nhập Tây Nguyên trên danh nghĩa, can thiệp mạnh vào Lào như trường hợp Trấn Ninh đã nêu ở phần đầu bài, và từng đặt ảnh hưởng lớn lên Campuchia. Nhưng các vùng này không được người Việt di cư đông đảo như Nam Bộ, do khí hậu khác, địa hình khác và năng suất nông nghiệp thấp hơn nhiều so với đồng bằng.

Tỷ lệ mở rộng bắc nam quá lớn so với đông tây không phải ngẫu nhiên. Có thể ước tính khoảng bảy mươi đến tám mươi phần trăm là do địa lý và kinh tế, khoảng mười đến hai mươi phần trăm là do đối thủ phía nam dễ bị lấn át hơn đối thủ phía tây, còn phần còn lại do đặc điểm văn minh lúa nước của người Việt. Đây là một ước lượng mang tính minh họa để hình dung trọng số tương đối giữa các yếu tố, không phải số liệu định lượng rút ra từ một nghiên cứu cụ thể, và các nhà nghiên cứu khác có thể đánh giá tỷ lệ này theo cách khác.

Nói ngắn gọn, người Việt không đi mạnh sang đông tây vì phía tây của Đại Việt thời trung đại chủ yếu là núi rừng dân thưa, còn phía nam là một chuỗi đồng bằng ven biển và cuối cùng là đồng bằng Mekong, tức là phần thưởng lớn hơn rất nhiều so với chi phí chinh phục. Quy luật chung ở đây là các quốc gia tiền hiện đại không kiểm soát lãnh thổ theo đường biên cứng như ngày nay, mà theo khả năng chi phối các lưu vực dân cư và tuyến giao thông.

3. Lưu vực sông, ranh giới Việt - Lào và Mekong
Người Lào không thực sự chinh phục núi theo nghĩa thông thường. Vương quốc Lan Xang phát triển trên thung lũng Mekong, các đồng bằng ven sông và các phụ lưu lớn của Mekong, nơi dân cư tập trung sinh sống. Các vùng núi rộng lớn xung quanh thường có các bộ tộc địa phương chỉ thần phục lỏng lẻo, nộp cống khi triều đình mạnh và bỏ khi triều đình yếu.

Nhà Đông Nam Á học O.W. Wolters gọi mô hình chính trị này là mandala, trong đó quyền lực toả ra từ một trung tâm chứ không gắn với một đường biên cố định, và nhà sử học Martin Stuart-Fox cũng dùng khái niệm này để mô tả Lan Xang như một tập hợp lỏng lẻo gồm nhiều mường nhỏ. Bản đồ hiện đại khiến người ta tưởng rằng Lan Xang kiểm soát toàn bộ vùng núi đó như một nhà nước hiện đại, nhưng thực tế mức độ kiểm soát thường rất mỏng.

Tây Bắc khác với Tây Nguyên ở chỗ có các thung lũng lớn cùng sông Hồng, sông Đà và sông Mã, những lưu vực kết nối tự nhiên với đồng bằng Bắc Bộ. Người Thái, người Mường và người Việt ở Tây Bắc đều nằm trong hệ thống sông đổ về đồng bằng Bắc Bộ, nên các triều đình Việt dễ can thiệp vào khu vực này hơn nhiều so với Tây Nguyên hay Lào.

Chính Wolters từng lưu ý rằng mô hình mandala nói trên không thực sự áp dụng cho người Việt, vốn chịu ảnh hưởng Hán hoá sâu và thiên về quản lý theo kiểu quan liêu tập quyền hơn, điều này khá khớp với việc các triều đình Việt kiểm soát Tây Bắc chặt chẽ và trực tiếp hơn nhiều so với cách Lan Xang quản lý các vùng núi của mình.

Sau khi vượt qua sống núi chính của Trường Sơn hoặc Hoàng Liên Sơn, người ta bước vào một hệ thống địa lý khác. Sông Hồng chảy về đồng bằng Bắc Bộ, còn Mekong lại chảy xuống Lào và Campuchia, đây là khác biệt rất lớn. Nhà nước thời xưa thường kiểm soát hiệu quả nhất trong phạm vi lưu vực sông của mình, nên khi vượt sang lưu vực khác thì hậu cần khó hơn, thu thuế khó hơn và điều quân cũng khó hơn, khiến chi phí tăng rất nhanh.

Ngược lại, các triều đại Việt vẫn cố giữ vùng thượng lưu sông Hồng, sông Đà và sông Mã, vì nếu lùi xuống đồng bằng thì các nhóm miền núi sẽ kiểm soát đầu nguồn, đe dọa các tuyến thương mại và an ninh của đồng bằng. Những vùng thượng lưu này gần như là vành đai an ninh tự nhiên của đồng bằng Bắc Bộ.

Nếu nhìn bản đồ hiện đại, phần lãnh thổ phía tây của Việt Nam trông khá vừa vặn, và thực ra nó gần tương ứng với các lưu vực sông đổ về Biển Đông, các cửa ngõ bảo vệ đồng bằng và các thung lũng có thể liên kết kinh tế với người Việt. Trong khi đó phần lớn lãnh thổ Lào tương ứng với lưu vực Mekong và các phụ lưu của nó.

Ranh giới Việt Lào hiện nay phần lớn không phải sản phẩm ngẫu nhiên của chính trị hiện đại, mà phản ánh một thực tế địa lý tồn tại hàng trăm năm, một bên hướng về Biển Đông và một bên hướng về Mekong. Khi nhà nước tiền hiện đại mở rộng đến giới hạn hậu cần hợp lý của các lưu vực sông và các hành lang giao thông tự nhiên, họ thường dừng lại ở những đường phân thủy lớn như Trường Sơn, và điều này không chỉ xảy ra ở biên giới Việt Lào mà còn ở rất nhiều nơi khác trên thế giới.

Nhiều học giả coi lưu vực Mekong là một trong những đại lộ tự nhiên của Đông Nam Á lục địa. Nếu một quốc gia có thể vừa kiểm soát đồng bằng ven biển Việt Nam vừa kiểm soát được hành lang Mekong thì về lý thuyết đó là một lợi thế rất lớn, vì Mekong là tuyến giao thông đường thủy dài hàng nghìn km, có thể vận chuyển lương thực, quân đội và hàng hóa với chi phí thấp hơn nhiều so với đường bộ, đồng thời mang lại thêm nguồn lúa từ các vùng ven sông và thêm chiều sâu chiến lược về phía tây.

Nếu Đại Nam kiểm soát được hành lang từ Quảng Trị hoặc Quảng Nam sang Mekong, điều đó tương đương với việc sở hữu hai trục giao thông lớn, một trục ven biển bắc nam và một trục nội địa theo Mekong, tạo thành một cấu trúc địa lý rất mạnh.

Khó khăn không nằm ở việc chiếm được một vùng, mà ở việc duy trì kết nối lâu dài. Trường Sơn không chỉ là một dãy núi mà là cả một vùng rừng núi rộng với khí hậu khắc nghiệt, nên muốn nối duyên hải với Mekong phải duy trì đường sá, cầu cống, trạm hậu cần, đồn binh và an ninh trên các tuyến, một gánh nặng rất lớn trong điều kiện thế kỷ mười tám và mười chín.

Bản thân Mekong cũng không hoàn toàn là một xa lộ thông suốt, vì có nhiều đoạn thác, ghềnh, luồng hẹp và mực nước thay đổi theo mùa. Đặc biệt khu vực nam Lào có quần thể thác Khone, là trở ngại lớn cho tàu thuyền đi liên tục từ hạ lưu lên thượng lưu, khiến Mekong quan trọng nhưng không phải một tuyến giao thông thông suốt từ đầu đến cuối.

Ở Campuchia, triều Nguyễn cũng nhiều lần cố gắng biến vương quốc này thành chư hầu hoặc vùng chịu ảnh hưởng, và từng lập Trấn Tây Thành từ năm 1835, chia thành hơn ba mươi phủ do quan lại người Việt trực tiếp cai quản. Nhưng chính sách cai trị khắc nghiệt khiến người Khmer nổi dậy, và đến năm 1841, dưới áp lực của quân Xiêm hỗ trợ phong trào kháng cự, triều Nguyễn buộc phải từ bỏ Trấn Tây Thành và rút quân về An Giang.

Cùng với trường hợp đồn binh ở Xiengkhuang bị đánh bại năm 1834 đã nêu ở phần trước, sự kiện Trấn Tây Thành cho thấy triều Nguyễn phải đối mặt với sự cạnh tranh của Xiêm, những hạn chế về hậu cần, cùng quy mô dân số và tài chính chưa đủ để duy trì sự kiểm soát trực tiếp trên một không gian quá rộng.

Về mặt địa chiến lược, ý tưởng kết nối Việt Nam với lưu vực Mekong vì thế vẫn hợp lý xét trên lý thuyết, chỉ có điều khả năng duy trì một hành lang xuyên Trường Sơn và bảo vệ nó trong điều kiện công nghệ và tổ chức của thời đó mới là trở ngại thực sự.
Buddy Up - Văn hóa xã hội
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom