• READ A BOOK: Quý phụ huynh vào chuyên mục KHÓA HỌC/READ A BOOK để nhận link/pass ZOOM tham gia buổi học cho bé lúc 20:30 - 21:15 hằng ngày.

Có bài học nào từ gia đình bạn sẽ nhớ cả đời không?

Q&A 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,056
Reaction score
0
Points
36
Có bài học nào từ gia đình bạn sẽ nhớ cả đời không?

Nhà tôi ở một ngôi làng nhỏ miền Trung du. Bố tôi làm nông cả đời, có khoảng 30 mẫu đất. Tuy không nhiều, nhưng ở chỗ tôi thì cũng thuộc mức trung bình.

Từ lúc tôi bắt đầu có ký ức, ông đã luôn là một người hay lo âu. Không phải kiểu lo âu của người thành phố ngồi trong văn phòng, mà là cái lo của người nông dân.
Mùa xuân sợ rét muộn.
Mùa hè sợ mưa đá.
Mùa thu sợ mưa dầm kéo dài.
Mùa đông sợ tuyết đè sập nhà kính.

Khi ngô trổ bông, ngày nào ông cũng chạy ra ruộng ba lần, bóc bắp ra xem có đang vào hạt không. Xem xong lại ngồi xổm trong sân hút thuốc, lẩm bẩm: năm nay mưa không ổn, phân bón có khi bón muộn, vụ này chắc năng suất giảm…

Hồi nhỏ tôi rất khó chịu với việc đó.
Tôi nói: “Bố ơi, trồng rồi thì trồng rồi, ngày nào cũng lo thì được gì?”
Ông trừng mắt: “Mày biết cái gì. Hai vụ thu hoạch đều nằm trong đó, tiền học của mày cũng nằm trong đó.”

Sau này tôi thi đỗ đại học, đi học, đi làm xa nhà.
Mỗi lần gọi điện cho bố, chưa nói được ba câu là ông lại quay về chuyện ruộng đất.
Tôi bảo: “Bố đừng lo nhiều thế nữa, đâu còn trông vào trồng trọt để kiếm tiền, đủ ăn là được.”
Ông im lặng một lúc lâu rồi nói: “Mày không làm ruộng thì nói dễ lắm.”

Thứ thực sự khiến tôi hiểu ra đạo lý đó, là trận mưa năm 2019.
Năm đó mưa rất nhiều. Từ đầu tháng 7, mưa rả rích suốt hơn một tháng.
Đúng lúc ngô đang thụ phấn, phấn hoa bị mưa đánh rơi, không thụ phấn được, bắp ngô trơ trụi, ở chỗ tôi gọi là bắp lép, mỗi bắp chỉ lưa thưa vài hạt.
Suốt tháng đó, bố tôi gần như không có một giấc ngủ trọn vẹn.
Ban ngày nhìn trời, ban đêm nghe mưa. Dự báo thời tiết, mỗi câu ông cũng nghe đi nghe lại.
Ông còn mua một chiếc drone nhỏ, sáng nào cũng bay lên kiểm tra ruộng: chỗ nào đọng nước, chỗ nào đổ rạp, rồi về ghi vào sổ.

Năm đó sản lượng gần như giảm một nửa.
Tôi nhớ một buổi chiều, hai bố con đứng ở đầu ruộng. Máy gặt vừa đi qua, thân ngô bị nghiền nát ngổn ngang.
Ông ngồi xổm trên bờ ruộng, tay nắm chặt một bắp ngô lép gần hết, không nói một lời.
Ông bóp mạnh đến mức hạt ngô cấn vào tay mà vẫn không buông.

Lúc đó tôi đã đi làm được ba năm, lương tháng 25tr. Nói thật, mức giảm sản lượng đó với gia đình tôi lúc ấy không còn là vấn đề sống còn.
Nhưng cái bóng lưng của bố tôi ngồi ở đầu ruộng hôm đó khiến tôi hiểu ra một điều
Ông không tiếc mấy chục triệu.
Ông tiếc nửa năm công sức của mình.

Năm rưỡi sáng nào ông cũng dậy, trộn giống, bón phân, phun thuốc, nhổ cỏ. Lúc ngô mới nảy mầm, ông quỳ dưới đất tỉa từng cây một, đầu gối chai sạn cả lên.
Ông đặt tên cho từng mảnh ruộng: Đồng Trũng, Gò Nam, Ven Sông Tây, Dốc Bắc, gọi tên chúng như gọi con cái mình vậy. Ông hiểu tính nết từng mảnh đất, biết chỗ nào đất kiềm, chỗ nào sợ úng.

Trận mưa đó không chỉ hủy hoại vụ thu hoạch, mà nó hủy hoại cả tâm huyết nửa năm trời của ông. Thứ khiến ông lo âu không phải là tiền, mà là những thứ ông không thể kiểm soát được. Ông có thể trồng trọt giỏi nhất, nhưng ông không thể bắt trời ngừng mưa.

Tối hôm đó về nhà, lần hiếm hoi ông uống r-ượu.
Hai bố con ngồi trong sân, tiếng dế kêu rất rõ.
Uống đến lưng chừng say, ông nói một câu mà tôi nhớ cả đời:
“Tao trồng đất ba mươi năm, năm nào cũng nghĩ năm sau sẽ tốt hơn, năm nào cũng muốn đấu với ông trời. Đến năm nay tao mới hiểu, tao đấu không lại. Đất là của tao, nhưng trời không phải của tao.”
Tôi nói: “Vậy sau này bố đừng cố quá nữa, đủ ăn là được.”
Ông lắc đầu: “Không phải không cố, mà là không cố chấp nữa. Nên trồng thì trồng, nên thu thì thu. Mưa thì để nó mưa, hạn thì tưới. Đất là chết, người là sống.”

Lúc đó tôi tưởng ông nói lúc say, không để tâm.

Nhưng năm 2020, ông thật sự thay đổi.
Ông vẫn dậy lúc 5 giờ rưỡi, vẫn ra ruộng mỗi ngày, nhưng không còn lo lắng như trước.
Mùa xuân nghe nói có sương giá, ông vẫn che chắn, nhưng không thức trắng đêm canh nhiệt độ nữa.
Mùa hè có trận gió lớn làm đổ hơn chục mẫu ngô, ông gọi người đến dựng lại, dựng không được thì thôi, nói đổ thì đổ, còn lại vẫn thu được.

Năm đó sản lượng cũng không cao, chỉ nhỉnh hơn năm trước một chút.
Nhưng ông vui vẻ nói: đủ ăn là được, đằng nào các con cũng không ở nhà ăn.
Tôi hỏi sao ông lại nghĩ thoáng ra được như vậy.
Ông nói: “Tao chỉ nghĩ thông một điều: tao trồng đất, đất cho tao cây, đó là chuyện của tao với đất. Trời mưa hay gió là chuyện của trời. Trước kia tao cứ ôm luôn cả chuyện của trời, cuối cùng chuyện của mình cũng làm không xong.”

Ông nói vậy, tay vẫn bóc ngô, tay chai sạn, móng tay đầy đất.
Nhưng vẻ mặt của ông lúc đó là một sự bình thản chắc chắn mà trước đây tôi chưa từng thấy.

Sau này tôi mới hiểu, cả đời bố tôi thực ra đang “đấu” với một thứ: SỰ VÔ THƯỜNG
Cây trồng là thứ thể hiện rõ nhất điều đó. Chăm tốt đến đâu, một trận mưa đá cũng có thể xóa sạch.
Trước đây ông nghĩ chỉ cần đủ chăm chỉ, đủ cẩn thận là có thể chống lại điều đó.
Nhưng trận mưa năm 2019 đã nói cho ông biết: Ông không thể.

Có những thứ vốn dĩ không thể kiểm soát, nhưng điều thú vị là, khi ông chấp nhận điều đó, ông lại không còn lo lắng nữa.
Ông vẫn là người nông dân ra đồng mỗi ngày, vẫn là người yêu từng tấc đất ngọn cỏ, nhưng sợi dây thừng căng chặt trong lòng ông đã nới lỏng.
Ông không còn hỏi “tại sao lại mưa nữa”. Ông bắt đầu nghĩ “mưa rồi thì hôm nay mình sửa lại nhà kính”.

Tôi nghĩ đây chính là khác biệt:
Người lo lắng thì dồn sức vào câu hỏi “tại sao chuyện này xảy ra”.
Người không lo lắng thì dồn sức vào “chuyện này xảy ra rồi, mình nên làm gì”.

Một bên là chống lại thực tại.
Một bên là hợp tác với thực tại.

Năm ngoái tôi về quê, đi cùng ông ra ruộng.
Ông chỉ vào mảnh ruộng phía đông, nói: “Năm nay trồng giống mới, chịu úng tốt.”
Tôi hỏi: “Sao bố lại đổi giống?”
Ông nói: “Mấy năm nay mưa nhiều, tao không thể bắt trời đừng mưa, nhưng tao có thể trồng giống không sợ mưa.”

Đứng giữa cánh đồng xanh mướt đó, tôi chợt thấy bố mình mới thật sự là một triết gia.
Cả đời ông không học nhiều, không biết tâm lý học hay quản trị, nhưng ông dùng ba mươi năm, học được một điều: Con người thực ra kiểm soát được rất ít thứ, nhưng có thể kiểm soát cách mình đối diện với những thứ không kiểm soát được.
Chấp nhận điều không thể kiểm soát.
Làm tốt điều mình có thể làm.
Đạo lý này, người thành phố bỏ ra rất nhiều tiền đi học, còn bố tôi thì ngồi ở đầu ruộng hú-t thuốc mà hiểu ra.

Chỉ là ông mất hơi lâu, ba mươi năm.
Nhưng người làm nông thì có sự kiên nhẫn.
Mùa màng hết vụ này đến vụ khác, rồi cũng sẽ có lúc hiểu ra.
Đất không lừa người - gieo gì, gặt nấy.
Nhưng trời cũng không lừa người - mưa thì mưa, gió thì gió.
Bạn không thể tranh cãi với trời, chỉ có thể “làm việc” với đất.

Bây giờ bố tôi vẫn dậy từ 5 giờ rưỡi, vẫn ra ruộng mỗi ngày.
Nhưng ông không còn ngồi ở đầu ruộng hú-t thuốc thở dài nữa.
Ông sẽ đứng trên bờ ruộng, chắp tay sau lưng, nhìn trời, nhìn đất, rồi về nhà ăn sáng.

Ông từng nói với tôi một câu mà tôi thấy còn hữu ích hơn bất kỳ cuốn sách nào về lo âu:
Đừng ôm luôn cả việc của ông trời về mình. Việc của mình thì làm cho tốt, còn lại cái gì đến thì cứ để nó đến. Trời không sập đâu. Mà kể có sập, cũng có người cao hơn đứng đỡ. Mày đâu phải người cao nhất, mày lo cái gì.

“Mình không phải người cao nhất.”
Câu đó tôi luôn nhớ trong lòng.

Trước đây đi làm, tôi luôn nghĩ việc gì cũng phải tự gánh, vấn đề gì cũng phải tự giải quyết.
Sau này nhớ lại hình ảnh bố tôi ngồi ở đầu ruộng bóp chặt bắp ngô lép, tôi mới hiểu

Có những việc là của mình.
Có những việc không phải của mình.

Bỏ những thứ không phải của mình xuống, bạn mới có thể làm tốt phần việc của mình.

Bây giờ tôi vẫn hay lo lắng, nhưng mỗi khi bắt đầu lo lắng, tôi sẽ tự hỏi:
Đây là việc của Đất, hay việc của Trời?
Việc của đất: tôi làm.
Việc của trời: tôi chấp nhận.
Chỉ đơn giản vậy thôi.
Buddy Up - Tàng hoa cát các
 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,056
Reaction score
0
Points
36
Gần đây đọc được một câu nói: "Con người ta rốt cuộc sẽ bị những chấp niệm không thể có được thuở thiếu thời giam cầm cả một đời". Bạn hiểu câu nói này như thế nào?

Bố tôi có một sự cố chấp đến kỳ lạ với món canh thịt cừu. Trong từ điển của ông, "đưa con gái đi ăn món gì ngon ngon" đồng nghĩa với việc lôi tôi đến một quán canh thịt cừu bất kỳ nào đó.

Tôi thì không ghét canh thịt cừu, nhưng tuần nào cũng ăn, tháng nào cũng ăn thì thật sự chịu không thấu. Lúc nào tôi cũng có cảm giác mồ hôi mình toát ra toàn mùi ngai ngái của cừu.

Chắc là vào năm tôi mười một, mười hai tuổi gì đó, trong một ngày cuối tuần mẹ đi công tác và bố lười vào bếp. Ông hớn hở ra mặt, y như mọi khi, lôi đứa con gái mặt đang xám ngoét là tôi hạ cánh xuống một quán canh thịt cừu.

Hôm ấy chắc tâm trạng bố tôi thực sự rất tốt. Ông gọi bà chủ lấy cho một chai rượu trắng Nhị Oa Đầu, gắp thịt trong nồi bỏ hết vào bát tôi, rồi múc hai muôi canh chan vào bát cơm của mình. Sau một hồi dụ dỗ đứa con gái mười một tuổi uống rượu thất bại, ông tự rót tự uống một lúc, rồi đột nhiên bắt đầu kể chuyện thời trẻ của mình.

Con người ta khi đến một độ tuổi nhất định thường sẽ như vậy, hớp vài ngụm rượu vào, những câu chuyện cũ lại lục bục lên men.

Tôi xốc lại tinh thần, dỏng tai lên nghe. Chuyện của bố tôi đã nghe không biết bao nhiêu lần, nhưng lần này người ông nhắc đến lại là một người thân mà ông rất hiếm khi kể.
Bà nội của ông, tức là bà cố của tôi.
Ở quê, mọi người gọi bà là "Cố".

Đối với những đứa trẻ nông thôn, "đi chợ phiên" chắc chắn là điều đáng mong đợi nhất.
Bố tôi cũng không ngoại lệ. Năm đó chưa tròn mười tuổi, lần nào đi chợ phiên ông cũng đi cùng Cố. Ông luôn phấn khích chạy nhảy tung tăng như một chú ngựa non, còn Cố thì cõng chiếc gùi lớn, chầm chậm bước theo sau.

Cố từng bó chân, bước đi không được nhanh. Những lúc thấy cháu trai chạy đi quá xa, Cố chỉ biết gân cổ lên gọi với theo hai tiếng: "Nhị Oa Tử, Nhị Oa Tử, chạy chậm thôi con ơi".

Đến khu chợ trên huyện, Cố bày hàng ra bán, ông liền chạy ra phụ rao hàng. Nhưng thường cũng chỉ hò hét được vài tiếng rồi lại tót sang bên cạnh xem náo nhiệt. Hàng hóa la liệt rực rỡ muôn màu, dẫu chẳng có tiền mua, nhưng chỉ cần được no con mắt thôi cũng đủ vui rồi.

Xem chán chê, đồ nhà mang đi cũng bán hòm hòm rồi, đến lúc phải ăn cơm thôi. Cố dắt ông vào một quán canh thịt cừu.
Đối với cậu bé năm ấy, canh thịt cừu là một bữa tiệc thịnh soạn mà cả năm trời cũng chẳng được ăn lấy một lần.

Tiền trong túi phải chắt bóp tiêu pha, Cố chỉ mua một nồi canh nhỏ. Canh được dọn lên, lớp sương khói trắng xóa nghi ngút cuộn theo mùi hương nồng đậm tỏa ra. Cố gắp lấy gắp để, dồn hết toàn bộ thịt trong nồi vào bát ông.

Ông vốn đã thèm đến cồn cào cả ruột gan, cứ thế cắm cúi húp sùm sụp.

Hồi lâu sau ngẩng đầu lên, ông thấy Cố đang dùng nước canh chan cơm để ăn, đôi mắt híp lại cười hiền từ nhìn ông.
"Cố không ăn thịt ạ?"
"Cơm chan canh ngon lắm, Cố ăn cơm chan canh."

Bốn mươi năm sau, cách một lớp sương khói mờ ảo của nồi canh thịt cừu, giống như cái cách ông từng nhìn Cố, tôi nhìn thấy bát cơm chan canh của bố tôi.

Tôi cúi gằm mặt, nhét một miếng thịt cừu vào miệng, nhai hai cái, chẳng còn thấy mùi vị gì nữa.

Cố vốn là con gái của một gia đình trâm anh thế phiệt, từng là bà địa chủ. Trong thời kỳ cách mạng, chồng của Cố - tức là ông nội của bố tôi - nhảy sông tự vẫn. Đất đai, tiền bạc trong nhà đều bị đem chia chác, người nhà thì kẻ chết, người bỏ trốn.

Nhìn một đám đàn bà trẻ con gào khóc nheo nhóc, Cố nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. Cố dùng chút tiền còn sót lại mua lợn con, gà vịt giống, trời chưa sáng đã lụi cụi thức dậy lo liệu đồng áng, việc nhà, lại không quên dựng đầu lũ trẻ con trong nhà dậy đuổi đi học.

Nhà tuy nghèo, nhưng nhờ có Cố, quần áo của mọi người dẫu sờn rách nhưng lúc nào cũng sạch sẽ. Cố dậy rất sớm, mái tóc bạc phơ luôn được vấn gọn gàng, tỉ mỉ bằng một chiếc trâm cài. Cố rảo bước trên đôi chân từng bị bó, mang vác cái dáng người gầy gò chưa tới một mét rưỡi đi gánh nước, bổ củi. Từng bước, từng bước một, Cố che chắn gió mưa, chống đỡ cả một gia đình xây lại từ đống tro tàn.

Cố hiền lành, tử tế, đó là điều cả làng đều công nhận. Khi Cố ốm, có người làm thuê năm xưa còn lặn lội đường xá xa xôi, xách theo gói đường trắng vô cùng quý giá đến thăm Cố.

Trong ba đứa cháu, Cố cưng chiều bố tôi nhất.

Có ai cho một viên kẹo, Cố giấu tịt trong ống tay áo, đợi bố tôi đi học về liền lén kéo ông xuống bếp rồi dúi vào tay.

Những năm tháng cuối đời, Cố bị trúng gió, liệt giường. Lúc bấy giờ bố tôi đã lên trung học, mỗi tháng mới được về nhà một lần. Người nhà không có kinh nghiệm, chẳng biết phải lật người hay lau rửa cho người bệnh, cứ mặc Cố nằm thoi thóp trong góc tối ẩm thấp.

Hoặc cũng có thể, đối với những người nghèo ngày ngày phải lo bữa đói bữa no, một bà lão sắp gần đất xa trời thực sự không đáng để họ dốc thêm tâm sức. Sự sống và cái chết suy cho cùng cũng chỉ cách nhau một khoảnh khắc, khóc một trận rồi thôi, ngày tháng vẫn phải tiếp tục sống.

Bố tôi đi học một tháng mới về, phát hiện ra giường và chăn nệm bốc mùi hôi thối, còn Cố thì gầy sọp lại như một khúc gỗ khô cằn co rúm trong lớp chăn bông.

Ông vừa quệt nước mắt, vừa lau rửa sạch sẽ cơ thể cho Cố, rồi cõng Cố ra ngoài hiên phơi nắng.

Bố tôi đi học, ở nhà không có ai chăm sóc Cố. Cho đến lúc cuối cùng, cơ bắp của Cố đã teo tóp hoàn toàn, chân tay co quắp lại không thể duỗi ra được nữa, hơi thở hắt ra nhiều hơn hít vào.

Cả nhà lấp đầy căn phòng, lặng lẽ chờ đợi Cố trút hơi thở cuối cùng. Trong cái thời đại thiếu thốn vật chất ấy, sự im lặng này nhuốm một vẻ tàn nhẫn đến bất lực.
Bố tôi gục bên mép giường, không dám nhìn.
Nhưng Cố chợt lên tiếng. Cố nói Cố muốn ăn đào.

Cố của tôi ơi, Cố đã cặm cụi vất vả cả một đời người, ông trời ơi xin ngài hãy mở lòng từ bi, hãy thực hiện ước nguyện nhỏ nhoi này của Cố trong những giây phút cuối đời đi mà.

Lúc này đã là giữa tiết trời thu muộn rồi, bố tôi vẫn lao ra khỏi nhà đi tìm đào.
Từng con mương, từng hẻm núi quanh đây ông đều thuộc nằm lòng.
"Dưới cái khe kia hình như có mấy cây đào dại... Hay là vườn nhà kia thu hoạch đào vẫn còn sót lại quả nào không... Quả kia là quả gì thế..."

Giữa tiết thu muộn, cỏ tranh úa vàng bò lổm ngổm khắp đồi núi. Ông vừa chạy vừa tìm kiếm trong gió lộng, giẫm lên lớp cỏ khô kêu răng rắc tạo thành một con đường xiêu vẹo, mặc cho những phiến lá tranh sắc lẹm cứa vào mặt những đường rướm máu.

Không có đào.

Ông đứng sững dưới bóng chiều tà, mồ hôi nhễ nhại, ánh mắt mông lung đảo quanh bốn bề. Xung quanh ông chỉ có những bụi cỏ tranh bạt ngàn, và cả mảng tro tàn đen thẫm của cỏ cây bị thiêu rụi.

Chẳng hiểu sao, ông chợt nhớ tới khu chợ phiên trên huyện. Cố bày hàng, ông phụ rao rát cả cổ rồi lại tót đi xem náo nhiệt.
"Nhị Oa Tử, Nhị Oa Tử, chạy chậm thôi con ơi."

Hàng hóa la liệt rực rỡ muôn màu, trái cây phong phú đủ loại, và có những quả đào to đùng, căng mọng chất cao như núi trong sọt.
Ông nghĩ, giá như mình có tiền thì tốt biết mấy.
Ông nghĩ, giá như mình là người thành phố thì tốt biết mấy.

Hoàng hôn ngày hôm ấy liệu có đỏ rực như máu, bóng núi trập trùng liệu có u uất như nét mực đọng, bầy quạ về tổ liệu có sải cánh lặng câm ngang qua bầu trời, cỏ tranh đong đưa trong gió liệu có mang dáng vẻ gầy guộc tiêu điều?
Chẳng còn nhớ rõ nữa rồi.

Sau đó thì sao? Sau đó là chuỗi ngày bố tôi vươn lên nhờ học hành, trở thành một trong hai người hiếm hoi của làng thi đỗ đại học. Lên đại học thành tích luôn đứng tốp đầu, đi làm rồi thì cắm rễ ở thành phố, cưới vợ, sinh con gái, và sống một cuộc đời "tự do ăn canh thịt cừu".

Chỉ là, có một phần sinh mệnh của ông, đã vĩnh viễn bị giam cầm trong ngày thu muộn năm ấy.
Từ thuở thiếu niên cho đến lúc tuổi trung niên hai bên thái dương đã hoa râm, trong mỗi đêm giật mình tỉnh giấc khỏi cơn ác mộng, ông vẫn luôn chạy mải miết khắp các ngọn núi để tìm đào. Cuộc kiếm tìm vô vọng và sự chạy trốn không lối thoát ấy khiến ông thở hồng hộc, kiệt sức tột cùng, nhưng ông không thể dừng lại.

Ông không thể dừng lại. Bởi vì trước mặt ông là núi non hoang vu bát ngát, còn sau lưng... là nỗi cắn rứt ẩm ướt mãi mãi không thể xóa nhòa cho đến hết cuộc đời này.
"Nhị Oa Tử, Nhị Oa Tử, chạy chậm thôi con ơi."
***

Tiết Thanh Minh năm nay, bố đưa tôi đi viếng Cố.
Không có bia mộ, chỉ là một nấm đất nhỏ khó nhận diện trên ngọn núi phía sau quê cũ.
Chúng tôi lặng lẽ bày biện thịt lợn và bánh kẹo, thắp hương, lấy từng xấp tiền vàng mã ra.

Bố tôi bỗng cười một tiếng.
"Bà nội con nói, sau này bà trăm tuổi, bà muốn được chôn cất cạnh Cố."
"Dạ?"
"Bà nội con nói, muốn chôn cạnh Cố, không chôn chung với ông nội con. Ông nội con tính tình nóng nảy, nhưng Cố thì hiền lành lắm. Bà bảo không muốn xuống suối vàng rồi mà ngày nào cũng phải cãi nhau với người ta."
Nghe vậy, tôi cũng bật cười.

Gió cuốn những tờ tiền giấy bay lên, giấy vàng bị ngọn lửa nhảy múa giữa không trung nuốt trọn, tan ra thành những vụn tro tàn, rơi xuống chầm chậm tựa như hoa tuyết.

"Tuyết xuyên vũ trụ khẽ lơi
Tựa như hồi kết kiếp người thoảng qua.
Lặng im tuyết phủ sương sa
Lên người thiên cổ, lên ta chốn trần. "
Buddy Up - Tàng hoa cát các
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom