• KIDS GARAGE SALE | WHEN: Sat & Sun, Aug 29-30, 8:30 AM - 3:00 PM | WHERE: Ponita Cafe, 198B Nguyen Van Huong, Thao Dien

Ông lão chăn bò và bà đồng nát - Nguyễn Xuân Oánh

Truyện Ngắn 

BuddyUp

Administrator
Staff member
Joined
20/7/24
Bài viết
4,639
Reaction score
0
Points
36
Ông lão chăn bò và bà đồng nát - Nguyễn Xuân Oánh

Cha mẹ lão sinh ra được một mình lão. Người ta vẫn gọi là độc đinh, tuy thế lão lại là tộc trưởng dòng họ Phan, một dòng họ to nhất cái xã này. Thủa cha mẹ lão còn thượng tại, cũng đã tính lo việc riêng tư cho lão. Để kiếm một thằng "chống gậy" nối dõi tông đường, chăm lo việc cúng cơm tế lễ. Cả dòng họ Phan ở cái xã ven biển này đều mong muốn như vậy.

Để đáp ứng nguyện vọng đó, cha mẹ lão đã cưới vợ cho lão. Cái thời còn lạc hậu ấy mà, cha mẹ "đặt đâu con ngồi đấy", lão không có quyền được lựa chọn, và cũng chẳng được yêu đương. Chủ yếu bố mẹ lão cưới vợ cho lão về là để làm công cho gia đình. Vợ lão hơn lão đến ba bốn tuổi, học hành chữ nghĩa không có mấy, nhưng lại có năng khiếu buôn bán chạy chợ.

Thấm thoắt thời gian trôi qua, vợ chồng lão đẻ được hai đứa con gái, thế là tự nhiên vợ lão không đẻ được nữa. Dân làng bàn tán nhà lão "cụt đinh", cha mẹ lão cũng lần lượt ra đi, kẻ trước người sau.

Vợ lão làm nghề buôn bán hải sản tươi sống còn lão thì đi biển đánh cá, theo cái nghề cha lão để lại. Lão cũng ra khơi vào lộng, như bao người ở cái làng chài này, nắng gió nghề nghiệp đã cho lão một thân hình cường tráng khỏe mạnh, cơ bắp rắn chắc, giọng nói sang sảng.

Nhưng thời gian trôi đi, giờ lão cũng đã có tuổi, lão không đi biển nữa mà ở nhà giúp vợ lão bán hàng. Lão bù đầu vào công việc, với sự chỉ huy sai khiến của vợ lão, những năm đầu không đi biển nữa lão còn tha thiết, chí thú với công việc, nhưng càng ngày càng thấy chán, vì tiền bạc làm ra được đồng nào đều do bà vợ nắm giữ.

Dân làng vẫn đàm tiếu vợ lão rằng: Ít có người phụ nữ nào "vắt cổ chày ra nước" như bà ấy. Khi không có tiền thì tiếng nói của lão, chẳng những đối với vợ mà cả con lão cũng trở nên vô nghĩa. Lão luôn bị cô lập.
Lão buồn chán vô cùng.

Đã nhiều lần lão muốn đi làm thuê thật xa để tránh cái cảnh, khi thèm rượu muốn làm vài "quai" cũng phải ngửa tay xin vợ vài nghìn bạc lẻ. Nhưng các chú khuyên lão đừng đi xa, nếu tộc trưởng mà bỏ quê đi xa thì dòng họ đó làm ăn khó phát đạt, vì thế nghe theo lời khuyên của anh em trong họ, lão không đi xa nữa. Nhưng để thoát cái cảnh sống "tiền khô cháy túi", phải làm lụng vất vả với sự điều hành của vợ thì ý nghĩ "thoát khỏi" khi nào cũng nung nấu trong con người lão.

Vào một bữa lão đang uống rượu trong quán, lão ta gặp một anh bạn thời con nhỏ, anh ta đi làm ăn ở xa lâu mới về một lần. Anh bạn lão có kể chuyện cho lão nghe: Anh ta có một trang trại ở một xã vùng bán sơn địa cách nhà lão hơn mười cây số. Lần đầu tiên lão nghe bạn nói chuyện làm ăn, và làm "kinh tế trang trại" lão thích lắm, suy cho cùng cũng chỉ là chăn nuôi và trồng trọt, hai việc đó với sức lực khỏe mạnh và phong độ của lão. Lão có thể làm "phăng teo" tất cả.
Đây là cơ hội tốt để thoát khỏi sự quản lý của bà vợ bủn xỉn, keo kiệt.

Thế rồi, một buổi tối sau khi ăn cơm xong, lão nói chuyện với vợ lão về kinh tế trang trại, và ý định của lão muốn lên vùng bán sơn địa để chăn nuôi một đàn bò. Ban đầu vợ lão không chịu nghe, sau mấy ngày hôm đó lão chẳng làm gì cả, lấy được của vợ đồng nào lão đi uống rượu "vặt" vì đầu óc lão luôn luôn nghĩ về kinh tế trang trại. Ước mơ của lão có một đàn bò vài ha đất đồi trồng sắn. Sáng lùa bò ra tối lùa bò về vô sư vô sách.

Lão nghĩ ra cách viết thư cho đứa con gái, đang làm công nhân tận Bình Dương, bảo nó biên thư về cho mẹ ,động viên bà đồng ý cho lão thực hiện kế hoạch làm trang trại.

Sau một thời gian khá dài, nhờ đứa con gái viết thư về khuyên giải động viên vợ lão và nhiều lần "đập bệnh" không làm công việc ở nhà. Cuối cùng vợ lão cũng đồng ý cho lão lên trên đó để xây dựng kinh tế trang trại. Các chú trong cái họ Phan của lão đa số đồng tình, tuy nhiên cũng có người lời ra tiếng vào. Nhưng khoảng cách từng đó lão vẫn có thể lo đến công việc của dòng họ, và chăm sóc nhà thờ một cách chu đáo.

Cái thời buổi đất đai đồi núi chưa ai quản lý, cứ lên trên đồi mà làm, sức dài vai rộng làm mấy cũng được. Lão chọn được một khu đồi không cao lắm, bên cạnh một con khe nhỏ. Lão làm một cái lán tạm. Những ngày đầu hơi buồn vì vùng đó chưa có ai ở , nhưng ở lâu quen dần, lão đã làm được thêm một cái chuồng bò khá chắc chắn kín đáo .Vừa làm, vừa học hỏi về kinh nghiệm chăn nuôi bò .

Sau vài tháng ổn định công việc lão về bàn với vợ mua bò để thả vợ lão chưa chịu nghe. Mụ ta bảo: "Tôi phải lên đó coi đã, tiền chứ có phải lá Mít đâu, mà muốn quăng mô thì quăng."
Lão thấy mụ vợ lão nói cũng có lý, lão vẫn vui vẻ đợi đến ngày đó.

Thế rồi một ngày nọ nghỉ không bán hàng, vợ lão thuê xe ôm lên thăm cái "đại bản doanh của lão" đồng thời mang thêm ít gạo, cá, nước mắm tiếp tế cho lão.

Khi tận mắt chứng kiến cuộc sống nơi xa lạ của chồng. Nhìn mãnh đất tươi tốt cây cối mọc um tùm vợ lão thực sự hài lòng. Thế rồi bao nhiêu năm gom góp, nhịn ăn, nhịn mặc được bao nhiêu vốn liếng cất đặt từ xưa đến nay, của vợ chồng lão đều đổ dồn vào việc mua bò. Để làm kinh tế trang trại.

Ban đầu lão mua bò không lớn lắm, chỉ mua loại mới tập "vực"*, tỷ lệ là hai trên tám( nghĩa là bò cái hai con, thì bò đực tám con ). Bò đực chóng lớn khi giết mổ nhiều thịt. Da bò đực cũng có giá trị kinh tế cao hơn da bò cái. Mà lại dễ bán.
*Vực là con bò khi mới tập kéo cày.

Với số tiền dành dụm đó, vợ chồng lão mua góp từng con bò, sau một thời gian lão đã có trong tay một đàn bò mười mấy con to nhỏ khác nhau. Sáng lùa bò ra cho ăn, chiều lùa bò về. Mỗi con lão còn đeo một cái lục lạc, bò ăn đến đâu là lão biết. Còn lão thì cứ cắm môi, cắm lợi phát rẫy.

Công việc rất trôi chảy, đàn bò phát triển nhanh lắm, bò cái đã đẻ thêm những con bê. Rẫy cũng phát được mấy ha, lão dự kiến không trồng sắn mà trồng cây keo lá tràm, loại cây này sau bốn năm là cho thu hoạch, bán cho hội xây dựng làm cọc chống cốt pha khi đổ bê tông trần nhà.

Sau nhiều năm gắn bó với đồi núi, lão đã có một cơ ngơi khá khang trang, lão làm được một ngôi nhà gỗ ba gian trên sườn đồi từ tiền bán bò.
Cuộc sống của lão thay đổi từng ngày. Chỗ lão ở bây giờ người ta lên ở đông lắm, cách vài trăm mét lại có thêm một hộ. Và ở đó thành lập thành một xóm gọi là xóm "kinh tế mới".

Bấy giờ có một vài bà đồng nát đi thu mua phế liệu, thỉnh thoảng vẫn ghé qua nhà lão mua mấy thứ bỏ đi và nhờ lão bơm hộ lốp xe đạp khi xe non lốp.

Như thường lệ về mùa hè khi mặt trời lên cao, sương tan hết lão lại lùa đàn bò lên rẫy cho bò ăn. Không hiểu dạo này vào tháng gì ,mà nhiều con bò cái đến thời kỳ động đực, chẳng chịu ăn cỏ mà cứ chạy khắp rẫy. Đã có lần lão nhìn thấy con bò đực trèo lên lưng con bò cái, lão cảm thấy lâng lâng trong người.

Từ khi lão lên trang trại đến nay, chưa khi nào lão về với vợ lão và ngủ qua đêm ở đó. Toàn về ban ngày, rồi lại trở về trang trại vào chiều tối để lùa đàn bò vào chuồng. Giữa ban ngày thanh thiên bạch nhật, hơn nữa vợ lão cả ngày bán cá mùi tanh òm, có cảm hứng gì đâu mà ân với ái. Lão cũng tự xác định từ nay về sau, cái của quý mà cha mẹ lão sinh ra cho lão chỉ còn "một tác dụng" đó là đi tiểu.

Vừa về đến nhà thì thấy bà đồng nát dắt chiếc xe đạp đi vào, sau dàn đèo có mấy cái bao tải màu trắng và một cái cân cầm tay. Lão hỏi bà :"xe bà mần răng rứa."
Bà bảo: "xe hôm nay non hơi nhờ ông bơm cho cái."
Nghe bà nói, lão đi thắng vào nhà, xách chiếc bơm ra, lão mở nắp van ra đút cái vòi bơm vào nhấn liên tục mấy cái liền, rồi sờ tay vào lốp. Lão nói với bà :"Hỏng con ruồi rồi."

Lão tháo con ruồi thấm một tý nước bọt rồi ngậm vào miệng phùng má thổi mấy cái, rồi lại lắp vào van, lão tiếp tục bơm lần này thì hơi vào thật, lốp căng tròn lão búng mấy cái. Xong lão nói với bà "Được rồi đấy! thôi bà đi mua hàng đi kẻo trời nắng, nhớ trưa về đây mà ăn cơm, chiều mà đi mua tiếp."

Bà đồng nát chào lão, rồi dắt xe ra đi. Lão nghĩ bụng bơm xe đạp cũng giống như nằm với vợ lão. Cũng có cái giống, mà cũng có cái khác. Giống là đều phải trèo lên, nhưng khác là ở chỗ nằm với vợ là trèo lên rồi bơm, còn xe đạp thì bơm xong rồi trèo lên. Nhưng tất cả đều toát mồ hôi trái mây ra cả. Nghĩ xong lão ngoảnh mặt lên trời nở một nụ cười khoái chí.

Đến buổi trưa, trời nắng to. Bà đồng nát về nhà lão, nhờ nhà lão ăn cơm trưa, cơm của bà được bỏ trong cạp lồng và vài khúc mắm. Đã nhiều lần lão nói với bà đừng đưa cơm đi nữa, ăn hết mấy đâu! Ở đây ăn chung với lão. Có thêm là thêm bát đũa thôi. Nhưng bà không nghe. Vì nhà bà cách đây còn xa, buổi trưa bà không về được. Cho nên bà phải ở lại nhờ nhà lão.

Bà đồng nát năm nay cũng trạc trên bốn chục tuổi, ở cái tuổi đó người ta thường gọi bằng chị, nhưng chẳng mấy ai gọi cả, gọi bà đồng nát quen miệng rồi. Thôi thì thiên hạ muốn gọi cái gì cũng được. Mình chỉ việc đi gom những thứ bỏ đi về bán lại cho các trạm thu mua kiếm ít tiền để sống qua ngày đoạn tháng.

Do công việc vất vả, lại nằm trong hoàn cảnh éo le, nên bà già trước tuổi. Bà mồ côi cha mẹ khi còn nhỏ. Phải đi ở với ông chú lớn lên ba mươi mấy tuổi rồi mới lấy được chồng, chồng bà làm thợ xây, còn bà đi theo chồng làm phụ hồ. Vợ chồng cũng đã có một ngôi nhà gỗ ba gian lợp bằng lá cọ. Đã lấy nhau nhiều năm rồi mà bà vẫn chưa có con. Rồi một lần đi làm, chồng bà bị tai nạn qua đời do sập giàn giáo xây dựng. Từ đó trở đi bà không đi phụ hồ nữa mà đi thu mua phế liệu.

Dạo này bữa trưa nào bà cũng về nhà lão ăn cơm trưa và nghĩ tại đó. Chiều lại đi mua tiếp. Có một lần lão xuống dưới xóm, mua một số hàng linh tinh thêm ít lon bia và xin thêm bà chủ quán mấy vỏ lon bia và mấy chai nước khoáng đã uống. Đưa về nhà lão không cất vào một chỗ, mà ném dưới gầm giường. Buổi trưa hôm đó, sau khi ăn cơm xong. Cơm bà vẫn nấu mang đi như thường lệ, có lẽ bà không muốn phiền đến lão về ăn uống.

Lão nói với bà :"Tôi có nhặt cho bà mấy vỏ lon bia và mấy mấy vỏ chai nước khoáng vất dưới gầm giường, bà chịu khó chui xuống đó mà nhặt".
Nghe lời lão bà ta không ngần ngại chui xuống giường. Sẵn có cái que dùng để lùa bò, lão cầm que, tưởng là chọc vỏ lon cho bà nhưng không phải. Lão chọc vào quần bà để lòi ra một miếng mông trắng hếu.

Bà ngoảnh mặt lại miệng nói "Đồ ma". Rồi nhoẽn miệng cười, đôi mắt liếc nhìn lão như ném cho lão một "quả tình" xao xuyến. Lão nghĩ bụng đàn bà con gái đen chỗ nào thì đen, chứ mông lúc nào cũng trắng.

Từ đó trở đi hai người thường xuyên gặp nhau, tình cảm bắt đầu nảy nở. Mỗi khi bà chưa lên lão lại cảm thấy nhơ nhớ. Lão nghĩ rằng: Ở đâu có con người là ở đó có tình yêu, cho dù là muộn màng, chắp vá. Thôi thì cũng thấu tình đạt lý, bà cũng muốn có một đứa con để sau này già yếu có người chăm sóc. Còn lão cũng thế! Được một cậu quý tử để dòng họ Phan của lão khỏi phải bị người đời chê cười là dòng họ tiệt tự.

Vì thế trưa nào cũng vậy, sau khi ăn cơm xong là lão đóng cửa đi ngủ cùng bà. "Cái của quý" của lão bây giờ không phải là một tác dụng mà là hai tác dụng rồi.

Năm tháng trôi qua, đàn bò của lão vẫn phát triển đều, bò cái đã đẻ ra nhiều con bê con. Rừng keo lá tràm cũng sắp cho thu hoạch.

Vào một buổi sáng bà đến nhà lão. Hôm nay bà không đi thu mua phế liệu nữa. Cho nên không có bao tải và cái cân. Vào trong nhà bà kéo tay lão lại ngồi trên giường rồi nói với lão điều quan trọng. Bà nói : bà đã có thai .
Nghe xong lão im lặng.

Lão nữa mừng nữa lo. Mừng là may ra đẻ được thằng con trai sau này thay lão làm tộc trưởng khi lão quá cố để trông coi dòng họ Phan. Lo là sợ bà vợ của lão biết chuyện rồi bung bét ra thì chết dở.

Đêm đó lão không ngủ được. Nhưng rồi lão lại nghĩ: Vị thế của lão bây giờ khác trước nhiều rồi. Lão có tiền, lão có tính "Lành làm gáo, vỡ làm môi, lôi thôi làm thìa". Có quá quắt lắm thì lão ở luôn trên này, mỗi năm về một lần vào dịp rằm tháng bảy. Lão nghĩ thế nên càng thêm vững tâm .

Càng đến ngày bà sinh nở bà lo lắm nhưng không dám nói với lão. Mình sinh đẻ biết lấy gì mà ăn, rồi con lấy sữa đâu mà bú? Nhưng bà không dám nói với lão.

Thấu hiểu điều đó, lão quyết định gọi người mua bò. Lão sẽ bán một con bò giành toàn bộ số tiền đó cho bà ăn nghĩ trong thời gian sinh nở. Tiền mặt lão không có nhiều. Nhưng bò thì lại có nhiều. Mà bán con này rồi đẻ ra con khác rồi cũng lớn lên, có thánh mà biết được, lão có bao nhiêu con bò?

Sau khi bán xong bò lão đưa tiền xuống cho bà đồng nát. Cầm gói tiền mà tay bà run run, cả đời bà chưa bao giờ có nhiều tiền như vậy. Bây giờ bà yên tâm lắm rồi, mong sao cho mẹ tròn con vuông.

Thời gian trôi qua, rồi cũng đến ngày sinh nở. Bà đẻ được một thằng con trai như ước nguyện bấy lâu của lão. Thằng bé rất giống lão, nhất là cái miệng cá ngạo và đôi mắt hơi xếch.

Lão ta mừng lắm. Lão đặt tên cho thằng bé là: Phan Sơn Đồng. Phan là họ của lão, Sơn là núi mà cũng là xã lão đang ở; xã Cẩm Sơn, Đồng là có thể là đồng nát nghề của mẹ, hay là đồng phế liệu mà bà vẫn đi mua. Lão thấy vui vui khi đặt tên con lão như vậy. Từ khi sinh con bà đồng nát không đi thu mua phế liệu nữa, mà ở nhà chăm con. Hết tiền thì nói với lão, lão bán bò mang tiền đến.

Thời gian trôi qua cái kim bỏ trong bị cũng lòi ra. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa rồi cũng đến tai vợ lão. Bà ta biết thế nhưng bà vẫn im lặng coi như không biết gì. Vào một ngày bà vợ lên trang trại để xem tình thế nào, có đúng như mọi người đồn đoán không?.

Lão vẫn biết ngày đó trước sau cũng sẽ đến, lão cũng đã có kế hoạch đối phó. Sau khi cơm nước xong bà hỏi lão: "Nghe dân làng họ nói ông đã có vợ trên này và được một đứa con trai phải không?". Lão rất điềm tĩnh kể lại hết câu chuyện. Nghe xong bà cũng không nói gì vì biết rằng: Bây giờ không làm được gì được lão nữa. Lão khác trước nhiều rồi. Lão cũng là người giàu có nhất xóm kinh tế mới.

Đến xế chiều lão tiễn bà ra về. Lão dặn bà: Thu hoạch xong đợt đầu keo lá tràm, lão sẽ về với bà để lấy thêm gạo và thực phẩm. Rồi lão nhìn bà ngồi sau lưng gã xe ôm chạy về cái làng ven biển.

Trên đường về bà nghĩ: Mình không đẻ được con trai cho ông ấy, để nối dõi tông đường. Thôi bây giờ ông đã có con trai. Người đó cũng là phụ nữ cũng có quyền làm mẹ. Trách họ làm chi cho tội nghiệp. Trong việc này chồng bà không có lỗi và người phụ nữ kia cũng thế. Bà cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản, khi trở lại nhà.

Đã đến ngày thu hoạch keo lá tràm, nhiều người tìm đến nhà lão hỏi mua. Dạo này loại cây keo bán được giá. Từ nhà lão vào cảng Vũng Áng khoảng 20 cây số. Nơi có những con tàu trọng tải cỡ lớn đi Nhật Bản, đang ngày đêm bốc gỗ băm dăm. Gỗ dăm được chế biến từ cây keo lá Tràm. Sau khi đốn hạ, bóc vỏ rồi cưa thành từng khúc đưa vào xưởng chế biến, cắt nhỏ ra từng mẫu to bằng ngón chân cái, rồi chở xuống cảng xuất đi Nhật Bản để sản xuất ra giấy.

Người bán thì ít, người mua thì nhiều nên lão có quyền lựa chọn theo ý lão. Nhiều người đến mua đã gặp lão rồi phải ra về. Vì lão luôn nghĩ:
Thói mua đi bán lại là phải có lãi họ mua bán quen rồi, mình mới lần đầu, nên đừng nghe họ. Đã có nhiều người đến đặt vấn đề với lão mua "quạ" cả mấy ha keo lá Tràm, trả tiền luôn cả năm bảy trăm triệu.

Lão kiên quyết không nghe, lão bảo: Chặt cây nào tính tiền cây đó. Mua thì mua không mua thì thôi lão không cần, keo nhà lão càng để lâu càng đắt. Lão ước tính một năm tăng 10% giá bán ra, mà chẳng phải chăm sóc gì, cứ thế là cây lớn. Cây càng to thì càng nặng, mà xuất khẩu gỗ băm dăm thì tính theo trọng lượng. Nên lão có quyền !

Cuối cùng hai bên thống nhất bán cây nào tính tiền cây đó. Cả khu rừng mênh mông bát ngát đếm sao được. Trưa hôm đó, lão không ngủ mà đi xuống làng xin một cây tre về chẻ lạt. Chẳng ai biết lão chẻ lạt làm gì mà nhiều thế!

Lão gọi người mua đến, lão bảo: "Tôi bán cho ông từng đó", rồi đưa cho người mua một bó lạt to tướng. "Ông đếm lạt rồi tính tiền đi. Tôi đếm rồi. Mỗi cây là 18k". Người mua keo không hiểu làm sao cả, đưa bó lạt mà đòi tính tiền.

Lão giải thích:"Đây là số cây Tràm tôi bán cho ông, một sợi lạt là một cây Tràm, ông cho công nhân chặt hạ cột sợi lạt vào cây, cây nào có sợi lạt là của ông, còn cây không cột là của tôi ".

Người mua keo nghĩ bụng: "Thằng cha này tuy ít chữ, vì không được học hành, nhưng thông minh đấy! có thế mà mình không nghĩ ra". Vì phải mua nhanh, thu hoạch nhanh để kịp tàu xuất bến. Người mua chấp nhận.

Sau vụ mua bán đó lão có mấy trăm triệu. Lão cất một ít phòng thân "Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy". Chẳng biết lão quân tử, hay tiểu nhân, nhưng cứ cất vài chục triệu là yên tâm rồi. Lão đưa cho mẹ thằng Đồng 10 triệu. Còn bao nhiêu lão đưa về cho vợ lão dưới làng chài.

Cầm được một khoản tiền khá lớn lão lại nhớ đến cảnh bần hàn khi xưa. Uống quai rượu phải xin tiền bà. Nhưng không có bà "keo kiệt bủn xỉn", thì làm gì lão có cơ ngơi như bây giờ!. Công là của lão, vốn là do bà ki cóp mà có. Lão lại nghĩ đến bà. Sau năm năm nữa, những cây đã chặt đi rồi, lại mọc chồi thành cây, rồi đến mùa thu hoạch lão lại bán, lão lại có tiền.

Ăn cơm trưa xong, lão về quê đưa toàn bộ số tiền còn lại cho vợ lão.
Trước khi trở về trang trại lão dặn vợ: "Số tiền đó là công sức của tôi, trong đó có đóng góp của bà, tiền vốn bỏ ra bước đầu là do bà giành dụm. Nay mới có được, bà cho hai đứa con một ít. Số còn lại bà đi ngân hàng làm cái sổ tiết kiệm sau này mà ăn già. Khi nào thu hoạch nốt số keo còn lại tôi lại đem tiền về".

Bà vợ lão im lặng không nói gì, rồi xách ra cái bao tải đưa cho lão, "Gạo, cá khô, tép moi, mắm muối trong đó có cả, ông mang về trên đó, hết thì tôi gửi cho".
Lão cột tất cả lên dàn đèo, rồi lên xe nổ máy vui vẻ trở về trang trại.

Công việc của lão vẫn vậy, sáng lùa bò đi, rồi kiểm tra vườn tràm chiều lùa bò về. Từ khi có thằng Đồng lão có vẻ tất bật hơn, thỉnh thoảng lão lại đến thăm mẹ con bà đồng nát. Thiếu gì thì lão mua sắm cho. Tuy có vất vả đôi chút nhưng khi nào lão cũng cảm thấy vui. Mặc dù lão vẫn ở một mình nơi trang trại .

Rồi một đêm, trời mưa to lắm. Lão đóng cửa lên giường nằm ngủ, thì có tiếng gõ cửa. Lão vội vàng dậy, thì ra là gã xe ôm người vẫn thường chở bà vợ lão mỗi khi lên nhà lão.
Anh ta bảo: "Vợ bác bị ốm mấy ngày rồi, không ăn uống gì mà sốt cao lắm "
Nghe xong lão nói với gã xe ôm: "Thôi chú cứ về trước, kẻo bà ấy trông, tôi vào trong xóm nhờ người trông hộ nhà, rồi tôi về sau."

Đêm đó mặc dầu đã khuya, trời mưa rất to nhưng lão vẫn không kể gì mưa gió để về với vợ lão. Về đến đến nhà, lão sờ lên trán bà đúng bà có sốt thật, đắp mấy chăn rồi mà vợ lão vẫn kêu rét. Vợ lão bảo: "tôi bị cảm hàn".

Sáng sớm lão đi lên hiệu thuốc Bắc cắt thuốc về cho vợ. Lão sắc thuốc, rồi nấu cháo. Nấu xong lão bưng lên hai bát, một bát là cháo, còn bát kia là thuốc bắc. Cho bà ăn uống xong. Đắp thêm chăn cho bà ngủ thiếp luôn.

Sáng hôm sau bệnh tình bà có thuyên giảm đã dậy được. Bà bảo: "Tôi cũng đỡ rồi ông xem rồi mà về trên đó".
Lão bảo: "khi nào khỏi hẳn thì tôi mới về, chứ bà ở một mình thì tôi ra đi sao được!". "Hay là tôi bảo mẹ con thằng Đồng về đây với bà. Đến khi nào bà khỏi hẳn thì mẹ con nó về. Một là để lo thuốc men, cơm nước cho bà. Hai là biết quê cha đất tổ của nó".
Nghe lão nói vậy bà im lặng.

Mấy ngày sau bà đã dậy đi lại được, lão lại ra hiệu thuốc bắc hôm nọ, cắt thêm ba thang thuốc và mấy thang thuốc bổ. Sau gần một tuần chăm sóc vợ, nay bà đã khỏi hẳn. Sáng nay lão trở về trang trại của lão. Trước khi lão về bà vợ dặn lão : "Đến rằm tháng 7 này thằng Đồng cũng đã được ba tuổi rồi. Ông đưa mẹ con thằng Đồng về nhập họ, lễ vật tôi mua sắm cho."
Lão bảo: "Tôi cũng tính thế, định hỏi bà nhưng bà đã nói thế. Thì tôi cám ơn!". Lão ta nói chữ cám ơn có vẻ rụt rè. Đã lấy nhau mấy chục năm rồi chưa bao giờ bà nghe lão nói điều đó.

Đến ngày rằm tháng là ngày lễ vu lan báo hiếu. Họ nhà lão không tế vào ngày rằm, mà tế vào chập tối ngày 14. Hai vợ chồng lão và thằng Đồng về từ lúc sáng sớm. Mọi công việc chuẩn bị đều do các chú trong họ làm trước đó một ngày. Ở quê lão có phong tục cứ đến ngày tế họ là mỗi hộ phải có một cổ xôi. ( xôi trắng toàn là gạo nếp )

Một con gà trống, bỏ lên mâm đội đến nhà thờ, nhà lão cũng vậy. Nhưng do năm nay có làm lễ nhập họ cho thằng Đồng ,nên vợ lão có mua thêm một con lợn quay trên thị trấn.

Đến giờ tế lễ lão mặc áo tộc trưởng, đội mũ tộc trưởng. Đứng trước bàn thờ tổ binh, hai bên lão là đại diện các chi, và hai người chấp sự. Sau phần cúng tổ binh ngoài trời là phần tế lễ trong thượng điện, con lợn quay của nhà lão được đặt chính giữa mâm cộng đồng, đối diện với hương áng ông thần tổ.

Lão đứng trước linh sàng, các chi đứng hai bên, con cháu, dâu rễ đứng xung quanh làm lễ. Hương khói nghi ngút, lão bắt đầu đọc sớ, giọng lão cúng rất hay, đúng là tộc trưởng. Hết phần tế lễ, lão bắt đầu làm lễ nhập họ cho con, hai cha con đứng trước hai bà vợ đứng hai bên.

Khi lão khấn xong lão xin quẻ. Tay trái cấm đĩa trên đó có một cây hương, tay phải lão tung hai đồng tiền lên, rồi rơi xuống đĩa một đồng úp, một đồng ngửa, lão vái ba vái, hai bà vợ cũng vái như thế. Thế là tốt, một dương, một âm. Âm dương phù hộ độ trì. Lão bảo vậy.

Từ nay trở đi trong gia phả họ Phan nhà lão, có tên bà đồng nát. Nguyễn Thị Tứ và con trai lão Phan Văn Đồng, sống là người của dòng họ Phan, mà chết là ma của dòng họ Phan.

Xong việc tế lễ mọi người ăn uống dưới hạ điện, xôi gà của các hộ mang đến được chia đôi; ăn một nửa, mang về một nửa. Tối hôm đó, hai vợ chồng lão và thằng Đồng về đến nhà thì đêm đã khuya.

Một thời gian sau, bà đồng nát đưa thằng Đồng về ở luôn với lão, rồi vợ chồng lão cũng sinh thêm được một con gái đặt tên là Phan Thị Thanh Thủy.

Mấy năm sau khi bà vợ cả qua đời, lão bán toàn bộ trang trại đưa vợ con trở về sống yên lành nơi làng chài ven biển.

Nguyễn xuân Oánh.
Buddy Up - Tác giả tác phẩm
 

Bình luận bằng Facebook

Top Bottom